So sánh cơ hội, thách thức xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ của Việt Nam khi gia nhập WTO và ký hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương - Pdf 14

Đề án môn học GVHD: PGS.TS Nguyễn Thuờng
Lạng
LỜI CAM ĐOAN
Tên tác giả là Phan Minh Đạt - Sinh viên lớp Kinh tế quốc tế 52E – Mã số
sinh viên CQ528154 xin cam đoan chuyên đề với đề tài “So sánh cơ hội, thách thức
xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ của Việt Nam khi gia nhập WTO và ký hiệp
định đối tác xuyên Thái Bình Dương” là công trình nghiên cứu riêng của tác giả
dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Như Bình. Các thông tin thứ cấp sử dụng
trong chuyên đề là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng.
Tác giả xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan này!
Tác giả
Phan Minh Đạt
Phan Minh Đạt
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin gửi đến thầy PGS.TS. Nguyên Như Bình lời cảm ơn
chân thành và sâu sắc nhất. Nhờ sự hỗ trợ, chỉ dẫn tận tình cùng với những định
hướng đúng đắn giúp tác giả hoàn thiện tốt chuyên đề này. Tác giả chúc Thầy và gia
đình luôn mạnh khỏe, chúc Thầy thành công hơn trên sự nghiệp công tác giảng dạy
và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Tập đoàn
Vinatex hỗ trợ tôi tìm số liệu để hoàn thành đề án.
Tôi xin chân thành cảm ơn Tổng giám đốc trưởng ban đầu tư chú Cao Hữu
Hiéu, TS.Nguyễn Thị Bích Phượng, chị Dương Thị Thu Hằng cùng các bạn trong
nhóm chuyên đề đã hỗ trợ và đóng góp những ý kiến quí báu giúp tôi hoàn thành
chuyên đê.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà nội, ngày 15 tháng 05 năm 2013
Tác giả
Phan Minh Đạt
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E

ASEAN
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
FTA Free trade agreement Hiệp định thương mại tự do
BTA
Bilateral Trade Agreement
Hiệp định Thương mại Song
phương Việt-Mỹ
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bilateral Trade Agreement 4
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Dệt may được coi là một trong những ngành trọng điểm của nền công nghiệp
Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành dệt may
Việt Nam hiện nay đang được xem là ngành sản xuất mũi nhọn và có tiềm lực phát
triển khá mạnh. Cho đến nay, sản phẩm dệt may Việt Nam đã đắp ứng được phần
lớn nhu cầu trong nước và có khả năng xuất khẩu lớn sang các thị trường khó tính
như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ…Việc xuất khẩu hang dệt may đã đem lại một khoản
ngoại tệ rất đáng kể. Với những lợi thế riêng biệt như vốnđầu tư không lớn, thời
gian thu hồi vốn nhanh, thu hút nhiều lao động và có nhiều điều kiện mở rộng thị
trường trong và ngoài nước, ngành dệt may Việt Nam có một vị trí rất quan trong
đối với nền kinh tế như tạo công ăn việc làm và đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn.
Trong thời đại ngày nay, toàn cầu hóa và hội nhập nền kinh tế đang là xu
hướng phát triển chung mang tính tất yếu khách quan. Không nằm ngoài quy luật

đối tác xuyên Thái Bình Dương.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu cơ hội và thách thức của hoạt động xuất
khẩu dệt may sang Hoa Ký khi gia nhập WTO cà ký kết hiệp đinh TPP
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu thực trạng xuất khẩu ngành
dệt may sang thị trường Hoa Kỳ trước và sau khi gia nhập WTO, những quyền
lợi và hạn chế khi ký kết hiệp định xuyên Tháo Bình Dương.
3. Kết cấu của đề tài:
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội
dung của chuyên đề được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Thực trạng ngành dệt may Việt Nam , hiệp định TPP và quy định
WTO đối với ngành dệt may.
Chương 2: Đánh giá cơ hội và thách thức của ngành dệt may Việt Nam xuất
khẩu sang thị trường Hoa Kỳ khi gia nhập WTO và ký kết hiệp định TPP.
Chương 3: Giải pháp tăng cướng năng lực cạnh tranh và đẩy mạnh xuất
khẩu dệt may sang Hoa Kỳ khi ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
CHƯƠNG 1
THỰC TRẠNG NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM, HIỆP ĐỊNH TPP
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
VÀ QUY ĐỊNH WTO ĐỐI VỚI NGÀNH DỆT MAY
1.1. Thực trang xuất khẩu dệt may Việt Nam giai đoạn 2009 - 2014
1.1.1. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam đang trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa
thương mại, xuất khẩu đóng một vai trò quan trọng trong việc khai thác lợi thế của
quốc gia, tạo nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. Trong đó, ngành dệt may Việt Nam
với thế mạnh về nhân công, vị trí địa lý đang là một ngành công nghiệp có vai trò
quan trọng trong chiến lược xuất khẩu hàng hóa của nước ta ra thị trường thế giới.
Với tốc độ tăng trưởng khá cao, ngành dệt may đã có những đóng góp to lớn vào

khẩu hàng dệt may của Hoa Kỳ năm 2009 lên tới 86,7 tỷ USD và xuất khẩu hàng
dệt may của Việt Nam vào thị trường này cũng chỉ chiếm 5,8% trị giá nhập khẩu
hàng dệt may của Hoa Kỳ.
Năm 2010 tuy có nhiều khó khăn như giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, giá
bông, sợi tăng hơn 2 lần so với cùng ký năm 2009, lao động khó tuyển dụng, lãi
suất ngân hàng tăng cao nhưng sản xuất của ngành vẫn tăng trưởng so với cùng kỳ,
lim ngạch xuất khẩu cả năm đạt 11.1 tỷ USD, tăng 23 % so với năm 2009. Nguyên
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
ngân của sự tăng trưởng nêu trên là do sự phục hồi nền kinh tế thế giới sau khủng
hoảng và sự dịch chuyển các đơn hàng từ Trung Quốc sang Việt Nam. Năm 2010
sản phẩm dệt may của Việt Nam đã tiếp cận với thị trường mới là Đài Loan, Hàn
Quốc, các nước ASEAN. Sản phẩm sợi cũng đã thâm nhập vào thị trường Thổ Nhĩ
Kỳ, Brazil.
Trong xu hướng tăng trưởng liên tục đó, nổi bật là năm 2011: tăng 24% từ
11,1 tỷ USD năm 2010 lên 13,8 tỷ USD và năm 2013 đạt kim ngạch 20 tỷ USD,
tăng 4,91 tỷ USD so với năm 2012. Đó là những dấu hiêu khả quan thể hiện những
chuẩn bị của Việt Nam cho việc ký kết hiệp định TPP. Trong đàm phán TPP có 2
thị trường hết sức quan trọng là Hoa Kỳ với tổng kim ngach xuất khẩu dệt may Việt
Nam chiếm 43% và Nhật Bản là 12%. Do đó, giai đoạn đàm phán TPP góp phần
thúc đẩy đầu tư vào nguyên liệu, các chỉ tiêu về xuất siêu, để tận dụng hiệu quả cao
nhất từ TPP sắp tới.
Năm 2011 kim ngạch dệt may đạt 13.8 tỷ USD, xuất khẩu tơ sợi các loại ước
tính 1.8 tỷ USD. Tổng kim ngạch xuất khẩu của dệt may và tơ sợi đạt 15.6 tỷ USD,
tăng gần 38% so với năm 2010. Với kết quả như trên, ngành tiếp tục giữ vị trí số 1
trong hoạt động xuất khẩu cả nước. Năm 2011 có một điểm đáng chú ý là đã suất
siêu 605 tỷ USD. Sự tăng tưởng đáng vui này là nhờ tận dụng tốt các cơ hội từ các
Hiệp định thương mại tự do FFTA mang lại đẻ đẩy mạnh xuất khẩu sang một số thị
trường tiềm năng như: Hàn Quốc, Canada, Trung Đông… Năm 2011, nước ta đã

đặc biệt khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO và đang trong giai
đoạn hoàn thành ký kết hiệp định TPP, thị trường và thị phần xuất khẩu hàng dệt
may của Viêt Nam ngày càng được mở rộn và phát triển. Trong đó thị trường Hoa
Kỳ luôn là thị trường tiềm năng hàng đầu của Việt Nam. Bên cạnh đó còn có các thị
trường của các nước Trung Đông, Đài Loan, Canada, Hàn Quốc….
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
Bảng 1.2: Kim ngạch xuất khẩu dệt may sang một số thị trường.
ĐVT: triệu USD
20132012201120102009
Thị trường
8692 7226 6882 60794983
Hoa Kỳ
43.4647.8849.0154.76
54.22Tỷ trọng
27522456 257618211644
EU
13.7616.2718.3416.4117.89Tỷ trọng
24241974169616671388
Nhật Bản
12.1213.0812.07915.215.1
Tỷ trọng
61323434288615331175
Các nước khác
30.6722.7720.5813.8112.79
Tỷ trọng
(Nguồn: Tổng cục hải quan)
Bảng trên cho thấy kim ngạch xuất khẩu dệt may sang thị trường Hoa Kỳ
luôn chiếm tỷ trong cao nhất. Thể hiện trong bảng là 3 thị trường tiềm năng và có

tăng hơn 8% so với năm trước. Xuất khẩu dệt may Việt nam sang các thị trường lớn
vẫn tăng trưởng ổn định, nhập khẩu dệt may vào thị trường Mỹ năm này giảm 0.5%
nhưng nhập khẩu từ Việt Nam vẫn tăng 9.2%. Nhập khẩu vào Nhật Bản tăng 8%
nhưng nhập khẩu từ Việt Nam tăng mạnh 19.3%. Điều này cho thấy dệt may của
Việt Nam ngày càng khẳng định uy tín và vị trí của ngành dệt may trên thị trường
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
quốc tế.
Trong đó, Hoa Kỳ vần luô là thị trường dẫn đầu về nhập khẩu hàng dệt may
Việt Nam với kim ngạch đạt hơn 7.2 tỷ USD, chiếm 47.8% tổng kim ngạch xuất
khẩu dệt may của cả nước. Đồng thời trong số các nhóm hàng của Việt Nam xuất
sang thị trường Hoa Kỳ thì hàng dệt may dẫn đầu với tỷ trong chiếm 37.9% trong
tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam sang Hoa Kỳ.
Bản 1.3: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ
năm 2011 - 2012
Chỉ tiêu Năm
2011
Năm
2012
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa
Kỳ (Tỷ USD)
(A) 6,88 7,46
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may cả nước (Tỷ
USD)
(B) 14,04 15,09
Tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu dệt
may cả nước (%)
(C)=(A/B)
*100

Bảng 1.4: Xuất khẩu hàng dệt may 2 tháng đầu năm 2014
ĐVT: USD

Thị trường

T2/2014

2T/2014

T2/2014 so
T2/2013(%)
2T/2014
so cùng
kỳ(%)
Tổng kim
ngạch
1.045.116.21
0
2.936.917.286 +14,92 +17,92
Hoa Kỳ 487.424.197 1.435.538.550 +4,86 +15,00
Nhật Bản 152.043.372 379.366.050 +24,15 +14,80
Hàn Quốc 114.022.305 278.098.464 +33,85 +34,74
Đức 31.192.525 106.783.338 +2,72 +11,99
Tây Ban Nha 30.128.821 99.159.959 +23,30 +60,60
Anh 27.208.547 74.697.510 +28,85 +21,50
Canada 17.053.024 57.352.292 +22,11 +26,41
(Nguồn: Bộ Công Thương )
Hoa Kỳ là thị trường chủ đạo, hàng đầu của ngành dệt may Việt Nam, tiêu
thụ nhiều nhất sản phẩm dệt may của Việt Nam. Riêng tháng 2 vừa qua xuất khẩu
sang Hoa Kỳ đạt 487.42 triệu USD, đưa kim ngach cả 2 tháng đầu năm lên 1.43 tỷ

xuất khẩu sang các nước khác cũng tăng nhưng không rõ bằng thị trường Hoa Kỳ.
Tính chung cho cả ngành dệt may xuất khẩu dệt may đạt 15.8 tỷ USD tăng
12% và giữ tốc đọ tăng trưởng 15% năm 2012, đây là một kỳ tích của dệt may Việt
Nam. Năm 2012 tuy khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng đến các doanh nghiệp dệt may
trong nước nhưng xuất khẩu dệt may sang các thị trường lớn vẫn ổn định thậm trí
còn tăng chậm. Điều này khẳng định uy tín và khả năng cạnh tranh cao của dệt may
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
Việt Nam trên thị trường thế giới.
Dệt may Việt Nam đã vượt qua được khó khăn nhờ những bước đi đúng đắn,
tận dụng tốt các hiệp đinh như BTA và những cư hội khi gia nhập WTO. Ta thấy
được năng lực cạnh tranh tốt, phát triển thị trường ngách hợp lý và đã lấn được thị
phần của những thị trường xuất khẩu. Năm 2013 tuy có nhiều bất ổn, nhưng dệt
may Việt Nam dự kiến xuât khẩu từ 18.8- 19.2 tỷ.
Trong khối các nước xuất khẩu dệt may, năm 2013, với tốc độ tăng 18% Việt
Nam là quốc gia có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu lớn nhất. Trong số 20 tỷ USD kim
ngạch xuất khẩu, 19,7 tỷ USD là hàng dệt may và xơ sợi.
Ngành dệt may Việt Nam cũng đang có những bước chuẩn bị cho chiến lược
gia nhập TPP. Trong 12 quốc gia TPP gồm cả VIệt Nam, có tới 2 thị trường lớn của
ngành dệt may là Mỹ và Nhật: 43% kim ngạch xuất khẩu, có tới 60% kim ngạch
xuất khẩu của dệt may Việt Nam được xuất khẩu vào các nước trong khối TPP
Hoạt động xuất khẩu hàng dệt may cũng góp phần vào phát triển sản xuất và
giải quyết việc làm. Năm 2012, tỉ lệ nội địa hóa của dệt may Việt Nam đã lên tới
47%, phần lớn người Việt Nam đã tín nhiệm hàng Việt Nam.
Năm 2013 kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 19 tỷ USD đã tạo thêm đươc khoảng
200.000 chỗ làm mới.
Kết quả sản xuất kinh doanh của ngành dệt may cũng đạt được những thành
tựu lớn như doanh thu Vinatex đạt 40.789 tỷ đồng tăng 16%, kim ngach xuất khẩu
đạt 2.602 tỷ USD tăng 16% năm 2012. Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu của tập

chung trong ngành dệt may Việt Nam. Trước tiên là vấn đề nguyên phụ liệu nhập
khẩu của Việt Nam chủ yếu vẫn từ nước ngoài. Tuy xuất khẩu dệt may có thể đạt
ngưỡng 20 tỷ USD trước khi ký kết các Hiệp định như TPP, nhưng quy mô sử dụng
các loại nguyên liệu của Việt Nam chỉ đạt 10 tỷ USD. Đây là một con số nhỏ, chưa
đủ hấp dẫn, chiển vọng để các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nguyên liệu. Bên
cạnh đó là chất lượng của nguyên phụ liệu có nguồn gốc trong nước, nguyên phụ
liệu từ trong nước vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của cả thị trường sản xuất và
xuất khẩu.
Tỷ lệ nội địa hóa hiện nay đã đạt trên 50%, đây là 1 tỷ lệ đáng mừng đã góp
phần hạn chế nhập siêu từ Trung Quốc. Nhưng so với yêu cầu của Hiệp định TPP
mà Việt Nam đang trên con đường hoàn thiện, thì là một con số thấp. Vậy nên việc
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
nhập khẩu nguyên phụ liệu sẽ là một hạn chế rất lớn khi Việt Nam gia nhập TPP.
Khi đó, dệt may Việt Nam sẽ gặp phải rào cản về chứng minh hàng hóa xuất khẩu
có xuất xứ nguyên liệu trong nước.
Phương thức gia công của ngành dệt may Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào
nước ngoài, trung gian nên giá trị xuất khẩu đem lại không phát huy hết tiềm năng
của ngành. Ngành thiết kế, mẫu mã chưa thực sự phát triển và có tên tuổi để có thể
cạnh tranh với thị trường quốc tế, Việt Nam cần củng cố và nâng cao hơn về thời
trang. Trên thực tế, hiện nay, tỷ trọng hàng dệt may xuất khẩu của nước ta trên thị
trường Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản đều còn quá nhỏ và không thuộc hàng hóa cao cấp
nên mẫu mã và kiểu dáng vẫn theo một khuân.
Khả năng cạnh tranh và đáp ưng các tiêu chuẩn quốc tế của Việt Nam chưa
thực sự cao. Số doanh nghiệp trong nước đạt được chứng chỉ ISO 9000, SA 8000,
ISO 14000 chưa thực sự nhiều. Đây cũng là một thách thức không nhỏ trong việc
đồng bộ hóa ngành dệt may trong nước, đáp ứng các rào cản quốc tế, tận dụng các
cơ hội khi kí kết hiệp định TPP sắp tới.
1.2.Những vấn đề hiện nay của ngành dệt may Việt Nam liên quan đến xuất khẩu

phương thức này giúp đêm lại luôn nhuận tối đa, tận dụng hoàn toàn tiềm năng của
ngành dệt may.
Tuy nhiên trong phương thức này sẽ khiến các doanh nghiệp gặp những khó
khăn như phải tự đầu tư tìm nguồn cho nguyên liệu đầu vào, trong khi ngành
nguyên liệu phụ trơ của Việt nam còn yếu. Doanh nghiệp phải tự chịu độ rủi ro khi
xuất khẩu, phải tự nghiên cứ và tìm hiều thủ tục, yêu cầu của nước nhập khẩu.
Vậy nhưng phương thức xuất khẩu trực tiếp sẽ giúp các doanh nghiệp trong
nước tự chủ hơn trong sản xuất và xuất khẩu, giúp các doanh nghiệp tạo tiền đề để
phát triển với xu thế ngày càng hội nhập của nước ta.
1.2.2 Năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường quốc tế
đặc biết các thị trường trọng điểm như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU ngày càng gia tăng
và tương đối ổn định trong các năm qua. Thị phần hàng dệt may của Việt Nam cũng
tăng mạnh, điều này cho thấy uy tín của doanh nghiệp cũng như chất lượng và
thương hiệu sản phẩm dệt may Việt Nam đã và đang ngay càng có chỗ đứng nhất
định trên thị trường thế giới. Hệ thống máy móc thiết bị cũng được cải tiến và đầu
tư nhiều hơn, có khả năng sản xuất các loại sản phẩm phức tạp, chất lượng cao đáp
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
ứng đượ phần lớn khách hàng khó tính, điều này góp phần không nhỏ trong việc
nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế về giá và chất lượng sản phẩm.
Bên cạnh những cải thiện, thành công nêu trên thì vẫn còn tồn tại những vấn
đề trong năng lực cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam. Quy mô xuất
khẩu nhỏ, công tác thiết kế, phát triển sản phẩm mới chưa được quan tâm nhiều.
Một thực trạng cho thấy quy mô xuất khẩu ngành dệt may còn nhỏ lẻ, EU là một
thịt rường tiềm năng với 28 thành viên nhưng mới chỉ nhập khẩu 20% hàng dệt may
từ Việt Nam. Quy mô xuất khẩu sang các thị trường quốc tế chưa thực sự đồng đều
và chất lượng cũng chưa có tính ổn định cao.
Cơ cấu xuát khẩu hàng dệt may của Việt Nam còn nhiều bất cập, khả năng

Biểu đồ 2: Cơ cấu nhập khẩu vào ngành Dệt may Việt Nam
(Nguồn: VITAS, HBBS)
Vấn đề về tỷ lên nồi địa hóa cửa Việt Nam còn thấp, công nghiệp phụ trợ
kém, hình thức xuất khẩu đơn giản. Do công nghiệp phụ trợ phát triển kém nên
ngành dệt may Việt Nam gần như phụ thuộc vào thị trường thế giới vả xuất khẩu
lẫn nhập khẩu. Việt Nam đang nhập khẩu khoảng 70%-80% nguyên liệu chủ yếu từ
Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan hoặc Hồng Công. Hiện nay ngoài lao động rẻ còn
lại đều phải nhập khẩu với tỷ lệ 100% máy móc thiết bị,phụ tùng, 100% xơ sợi hóa
học, 90% bông xơ thiên nhiêu chủ yếu nhập từ Mỹ. Điều này khiến ngành dệt may
gặp nhiều khó khắn trong việc đáp ứng các yêu cầu về nguồn gốc xuât xứ khi gia
nhập TPP.
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
1.2.3 Một số vấn đề khác
Ngoài ra ngành dệt may còn một số những vấn đề hạn chế trong xuật khẩu
như:
Thứ nhất, cơ cấu mặt hàng ngành dệt may xuất khẩu sang thịt rường nước
ngoài chưa phong phú, đa dạng, chất lượng chưa đồng đêu.Hàng dệt may Việt Nam
xuất khẩu sang thị trường nước ngoài chủ yếu vẫn có chất lượng trung bình, thị
phần chủ yếu là phục vụ tầng lớp khách hàng trung lưu và thaaos hơn. Đối với mặt
hàng xa xỉ, có chất lượng cao thì chung ta chưa thể đáp ứng, cạnh tranh với những
thương hiệu nổi tiếng trên thế giới.
Thứ hai, doanh nghiệp còn hạn chế trong việc tìm hiểu về thị trường nước
ngoài và các vấn đề thương mại, phi thương mai quốc tế. Nhiều doanh nghiệp khi
xuất khẩu trực tiếp sang Hoa Kỳ, EU nhưng hay gặp phải những vấn đề về rào cản
kỹ thuật. Chủ yếu khi xuất khẩu sang thị trường quốc tế phải qua trung gian nên
làm giảm giá trị hàng hóa xuất khẩu. Thông tin về đối thủ cạnh tranh dường như
chưa được cung cấp đầy đủ hoặc các doanh nghiệp chưa thu thập và xử lý thông tin
thi trường một cách hiệu quả nhất.

định Đối tác kinh tế chặt chẽ hơn do nguyên thủ 3 nước Chile, New Zealand và
Singapore phát động đàm nhân dịp Hội nghị Cấp cao APEC 2002 tổ chức tại
Mexico. Tháng 4 năm 2005, Brunei xin gia nhập với tư cách thành viên sáng lập
trước khi vòng đàm phán cuối cùng kết thúc.
TPP là hiệp định mang tính mở, tự do hóa giữa các nước thành viên của tổ
chức. Hiệp đinh được hình thành với những nội dung chính sau:
Hiệp định TPP có phạm vi điều chỉnh rộng, bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ
(chưa bao gồm dịch vụ tài chính do được đàm phán sau), vệ sinh an toàn thực phẩm
(SPS), rào cản kỹ thuật (TBT), chính sách cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính
phủ và minh bạch hóa. Ngoài ra, còn có một chương về hợp tác và 02 văn kiện đi
kèm về Hợp tác Môi trường và Hợp tác Lao động.
Theo thỏa thuận, các bên tham gia P4 sẽ tiếp tục đàm phán và ký 02 văn kiện
quan trọng về đầu tư và dịch vụ tài chính, chậm nhất là sau 02 năm kể từ khi P4
chính thức có hiệu lực (tức là từ tháng 3 năm 2008).
Điểm nổi bật nhất của P4 là tự do hóa rất mạnh về hàng hóa. Thuế nhập khẩu
được xóa bỏ hoàn toàn và phần lớn là xóa bỏ ngay từ khi Hiệp định có hiệu lực.
Về dịch vụ, P4 thực hiện tự do hóa mạnh theo phương thức chọn-bỏ. Theo
SV: Phan Minh Đạt Lớp:KTQT 52E
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Như Bình
đó, tất cả các ngành dịch vụ đều được mở, trừ những ngành nằm trong danh mục
loại trừ.
Tháng 9 năm 2008, Mỹ tuyên bố tham gia TPP. Tiếp theo đó, tháng 11 năm
2008, Úc và Pê-ru cũng tuyên bố tham gia TPP. Tại buổi họp báo công bố việc
tham gia của Úc và Pê-ru, đại diện các bên khẳng định sẽ đàm phán để thiết lập một
khuôn khổ mới cho TPP. Kể từ đó, các vòng đàm phán TPP được lên lịch và diễn ra
cho đến nay.
Từ năm 2006, qua nhiều kênh, Xinh-ga-po đã rất tích cực mời Việt Nam
tham gia TPP - P4. Trước những cân nhắc cả về khía cạnh kinh tế và chính trị, Việt
Nam chưa nhận lời mời này của Xinh-ga-po.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status