CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU NĂNG
LƯỢNG Hàm lượng Protein trong thức ăn:
Trên thực tế, rất khó xác định nhu cầu năng lượng của cá mà
người ta dựa vào tỉ lệ năng lượng và Protein tối ưu. Tỉ lệ tối ưu
này rất quan trọng bởi vì nếu thức ăn vượt quá nhu cầu năng
lượng sẽ giảm sựu bắt mồi của động vật thủy sản (ĐVTS),
ngược lại, nếu thức ăn thiếu năng lượng thì Protein trước tiên sẽ
được dùng để cung cấp năng lượng thỏa mãn nhu cầu của cơ thể.
Hầu hết các kết quả nghiên cứu trên cá nheo Mĩ cỡ từ 3 – 266
g, cho ăn thức ăn nguyên chất và chế biến ở các điều kiện nhiệt
độ khác nhau cho thấy nhu cầu Protein/năng lượng (P/E) thích
hợp là 26 – 30 mg Protein/KJ hay 8 – 9 Kcal/g protein. Tỉ lệ P/E
của một số loài cá da trơn khác cũng tương đương với cá nheo
Mĩ, từ 20 – 30 mgProtein/KJ. Đối với tôm sú tỉ lệ P/E là 28 mg
Protein/KJ.
Giai đoạn phát triển:
ĐVTS cỡ nhỏ cần nhiều năng lượng hơn cỡ lớn tính trên một
đơn vị tọng lượng do giai đoạn nhỏ là giai đoạn sinh trưởng
nhanh. Vì vậy, ĐVTS còn nhỏ nên được cho ăn một lượng thức
ăn nhiều hơn. Đặc biệt nhu cầu năng lượng của ĐVTS tăng cao
vào giai đoạn sinh sản vì chúng cần năng lượng cho quá trình
phát triển tuyến sinh dục. Tuy nhiên, khi tuyến sinh dục đã đạt
giai đoạn gần thành thục thì nhu cầu năng lượng từ thức ăn
không cao. Đó chính là cơ sở cho các nhà nuôi trồng thủy sản
đưa ra các biện pháp cho ăn trong quá trình nuôi vỗ cá bố mẹ.
Quá trình di cư cũng làm tiêu hao nhiều năng lượng cho ĐVTS,
đặc biệt là quá trình di cư sinh sản.
Khẩu phần ăn:
lượng năng lượng rất lớn cho quá trình chống lại dòng nước.
Tuy nhiên, nếu dòng chảy quá yếu sẽ làm cho chất thải khó
được giải thoát. Do đó, trong nuôi cá bè thường FCR cao hơn
nuôi cá ao, do cá tốn một năng lượng khá lớn cho quá trình
chống lại dòng chảy.
Một vài yếu tố khác cũng ảnh hưởng tới việc sử dụng năng
lượng của ĐVTS như mật độ nuôi, chất lắng đọng, chất thải…