Đề tài: “Thực trạng và
các giải pháp kinh tế
chủ yếu nhằm mở
rộng thị trường xuất
khẩu thuỷ sản của
Việt Nam tại Mỹ”.
Đề án môn học
mục lục
Lời mở đầu 1
Nội dung 3
I. Một số khái niệm về thị trờng 3
2. Đặc điểm của thị trờng thuỷ sản tại Mỹ 4
3. Sự cần thiết phải mở rộng thị trờng xuất khẩu thuỷ sản tại Mỹ của Việt
Nam 7
II. Khái quát thực trạng thị trờng xuất khẩu thuỷ sản tại Mỹ của Việt Nam . 8
1. Khái quát thị trờng xuất khẩu thuỷ sản tại Mỹ của Việt Nam 8
2. Thực trạng thị trờng xuất khẩu sản phẩm thuỷ sản của Việt nam
sang Mỹ 9
III. Các giải pháp kinh tế chủ yếu nhằm mở rộng thị trờng xuất khẩu sản
phẩm thuỷ sản của Việt Nam sang thị trờng Mỹ 18
1. Các giải pháp chủ yếu 18
2. Một số suy nghĩ của bản thân 23
Kết luận 24
của Việt Nam là các nớc Châu Âu, 13 nớc Châu á và Mỹ, trong đó Mỹ
đang là thị trờng mục tiêu mà chúng ta hớng vào. Với thực trạng Việt
Nam đang trên đà phấn đấu để gia nhập WTO thì việc xúc tiến quan hệ
thơng mại với Mỹ là điều quan trọng, cùng với một số mặt hàng xuất khẩu
khác, sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam cần phải khẳng định đợc vai trò và
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Đề án môn học vị thế của mình trên đất Mỹ. Đó là mục tiêu quan trọng của ngành thuỷ sản
nớc ta và cũng là lý do để em chọn và nghiên cứu đề tài: Thực trạng và
các giải pháp kinh tế chủ yếu nhằm mở rộng thị trờng xuất khẩu thuỷ
sản của Việt Nam tại Mỹ. Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
xuất khẩu và 180 quốc gia nhập khẩu thuỷ sản trong đó nhiều quốc gia vừa
xuất vừa nhập khẩu thuỷ sản nh Mỹ, Pháp, Anh Năm 1999, lĩnh vực xuất
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Đề án môn học khẩu thuỷ sản thế giới đạt hơn 50 tỷ đô la, giảm 2,8% so với 51,4 tỷ năm
1997.
Hiện nay, Thái Lan là nhà xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất với kim ngạch
xuất khẩu hơn 1 tỷ đô la, tơng đơng 8% tổng kim ngạch thế giới. Sau đó
là Mỹ, Nauy, Trung Quốc,Pêru, Đài Loan, Canađa, Chilê, Inđônêxia, Nga,
Hàn Quốc
Quốc gia nhập khẩu lớn nhất là Nhật Bản, chiếm 30% tổng kim ngạch
buôn bán quốc tế, vợt xa mức 14% thị phần của nớc đứng thứ hai là Mỹ.
Năm 1999, nhập khẩu thuỷ sản của Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore giảm
sút nhng đã đợc bù đắp phần nào bởi nhu cầu tăng mạnh ở thị trờng Mỹ.
Các nớc nhập khẩu thuỷ sản lớn của thế giới đứng sau Nhật và Mỹ lần lợt
là Pháp, Italia, Đức, Anh, Hồng Kông, Hà Lan
2_Đặc điểm của thị trờng thuỷ sản tại Mỹ.
Thị trờng Mỹ luôn là môt thị trờng hấp dẫn không chỉ đối với các
nớc châu á ( trong đó có Việt Nam) mà còn là mục tiêu của nhiều nớc
trong các châu lục khác.Trong số các thị trờng tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản
của Việt Nam thì Mỹ là thị trờng khá rộng lớn và giàu tiềm năng, chỉ đứng
sau Nhật Bản. Nớc Mỹ với 280 triệu dân, thu nhập bình quân đầu ngời
vào loại cao nhất thế giới, đời sống vật chất của ngời dân Mỹ ở mức rất cao
nên nhu cầu về các loại thực phẩm là rất lớn cả về số lợng và chất lợng,
trong đó đặc biệt là nhu cầu về sản phẩm thuỷ sản. Sức mua của ngời dân
Mỹ lớn, giá cả ổn định, mặt hàng chất lợng càng cao, càng đắt giá thì lại
trên thì sản phẩm đó sẽ bị các sản phẩm của các hãng khác cạnh tranh loại
bỏ, hoặc bị chính ngời tiêu dùng Mỹ tẩy chay, khả năng tồn tại và phát triển
của sản phẩm đó là rất khó khăn. Đó là về phía những ngời tiêu dùng còn
về phía Chính phủ Mỹ cũng có rất nhiều những qui định đặt ra cho các sản
phẩm thuỷ sản nhập khẩu. Khi đa sản phẩm thuỷ sản vào thị trờng Mỹ,
chúng ta phải quan tâm và hiểu đợc hệ thống pháp luật của Mỹ. Hệ thống
luật của Mỹ khá phức tạp, chặt chẽ và mới lạ đối với các doanh nghiệp xuất
khẩu Việt Nam. Vì vậy nếu không nghiên cứu tìm hiểu rõ thì các doanh
nghiệp sẽ phải gánh chịu những thua thiệt nặng nề trong kinh doanh. Có thể
đơn cử một số luật sau:
_Luật chống độc quyền đa ra các chế tài hình sự khá nặng đối với
những hành vi độc quyền hoặc cạch tranh không lành mạnh trong kinh
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Đề án môn học doanh, cụ thể là phạt tiền đến 1 triệu USD đối với các công ty,100.000 USD
hoặc tù 3 năm đối với cá nhân.
_Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm, theo đó ngời tiêu dùng bị
thiệt hại có thể kiện nhà sản xuất về mức bồi thờng thiệt hại quy định gấp
nhiều lần thiệt hại thực tế.
_Luật liên bang và các tiểu bang của Mỹ đợc áp dụng cùng một lúc
trong lĩnh vực thuế kinh doanh đòi hỏi ngoài việc nắm vững luật của tiểu
bang mà các doanh nghiệp có quan hệ kinh doanh còn phải nắm vững luật
của Liên bang nữa.
Vì vậy có thể nói cha có sự phù hợp cao giữa việc xuất khẩu hàng
thuỷ sản Việt Nam với yêu cầu nhập khẩu của thị trờng Mỹ. Thị trờng Mỹ
là một thị trờng khó tính của thế giới. Hàng thuỷ sản nhập khẩu vào Mỹ
phải qua sự kiểm tra chặt chẽ của cục quản lý thực phẩm và dợc phẩm Hoa
thế giới có lợi thế tơng tự nh Việt Nam cũng đều coi thị trờng Mỹ là thị
trờng chiến lợc trong hoạt động xuất khẩu thuỷ sản cũng nh những hàng
hoá khác. Ta bớc vào thị trờng Mỹ chậm hơn so với các đối thủ, khi mà thị
trờng đã ổn định về: ngời mua, ngời bán, thói quen, sở thích, sản
phẩm_đây cũng đợc coi là thách đố đối với hoạt động xuất khẩu hàng hoá
nói chung, hàng thuỷ sản nói riêng của Việt Nam trên thị trờng Mỹ.
3_ Sự cần thiết phải mở rộng thị trờng xuất khẩu thuỷ
sản tại Mỹ của Việt Nam.
Thực tế cho thấy sản lợng tiêu thụ thuỷ sản trên thị trờng thế giới nói
chung và thị trờng Mỹ nói riêng ngày càng tăng, việc đó có nhiều nguyên
nhân, nhng có hai nguyên nhân chính đó là gia tăng dân số và thu nhập. Dự
báo vào năm 2005 mức tiêu thụ thực phẩm trên trị trờng thế giới là 100
triệu tấn/năm( cha kể đến thức ăn cho chăn nuôi là 25-30 triệu tấn/năm) và
tổng mức tiêu thụ thuỷ sản của thế giới là 125-135 triệu tấn/năm.
Ngành ng nghiệp của Việt Nam mới bắt đầu phát triển mạnh từ năm
1990 đến nay và xuất khẩu thuỷ sản cũng không ngừng tăng lên từ đó. Mặt
hàng xuất khẩu về thuỷ sản của Việt Nam khá phong phú về chủng loại. Sản
lợng tôm đông lạnh chiếm từ 80-90% khối lợng hàng thuỷ sản xuất khẩu,
về giá xuất khẩu thì tôm cũng là mặt hàng đợc giá nhất trong ba chủng loại
chính xuất khẩu hàng thuỷ sản của Việt Nam. Trong cơ cấu xuất khẩu của
Việt Nam thì thuỷ sản là ngành có vị trí rất quan trọng. Chúng ta có thể thấy
rằng Mỹ là thị trờng tiềm năng đối với Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu của
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Đề án môn học Việt Nam 2000 mới đạt khoảng 700 triệu USD nhng khả năng nhập khẩu
của thị trờng này năm 2000 đã là 1300triệu USD (Việt Nam mới chỉ chiếm
0,06% thị phần nhập khẩu của Mỹ). Dự tính rằng kim ngạch xuất khẩu sang
cá ba sa philê đông lạnh là mặt hàng Việt Nam vẫn chiếm lĩnh thị trờng Mỹ
với giá trị xuất khẩu 1,7 triệu USD. Mặt hàng cua biển cũng đạt mức tăng
trởng cao trong xuất khẩu sang Mỹ( bao gồm cua sống, cua đông lạnh, cua
luộc, thịt cua đông) đạt giá trị xuất khẩu 1,8 triệu USD. Ngoài ra còn một số
mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu khác cũng mang lại giá trị lớn cho ngành xuất
khẩu thuỷ sản của Việt Nam.
2_ Thực trạng thị trờng xuất khẩu sản phẩm thuỷ sản
của Việt Nam sang Mỹ.
a_ Những thuận lợi.
Thực tế, việc xuất khẩu sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam đợc diễn ra
trên nền tảng của rất nhiều điều kiện thuận lợi. Thuận lợi đầu tiên phải kể
đến đó là thuận lợi về điều kiện tự nhiên. Đặc điểm về mặt tự nhiên của nớc
ta nh đã nói ở trên đảm bảo cho nguồn tài nguyên hải sản rất phong phú.
Các vùng biển Việt Nam có năng lực tái sinh học cao của vùng sinh thái
nhiệt đới và môi trờng biển còn tơng đối sạch, do đó hải sản đợc đánh giá
là an toàn cho sức khoẻ_ một u điểm hàng đầu trên thị trờng sản phẩm
thuỷ sản thế giới hiện nay.
Trong vùng biển đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1 triệu km2 tổng trữ
lợng thuỷ sản biển đợc đánh giá khoảng 4 triệu tấn, trong đó trữ lợng
thuỷ sản ở tầng nổi chiếm 62,7% và tầng đáy chiếm 37,3% đảm bảo cho khả
năng khai thác 1,4 đến 1,6 triệu tấn thuỷ sản các loại hàng năm trong đó có
nhiều loại hải sản quí có giá trị kinh tế cao nh tôm hùm, cá ngừ, sò
huyết Với 1,4 triệu ha mặt nớc nội địa, tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản rất
dồi dào, khoảng 1,5 triệu tấn mỗi năm. Nh vậy, Việt Nam có lợi thế rất lớn
về sông, hồ, biển. Hệ thống sông ngòi đợc phân bố trên cả nớc, bờ biển
kéo dài từ Bắc vào Nam. Những tiềm năng lớn nh thế này nếu đợc khai
thác triệt để thì khả năng xuất khẩu thuỷ sang Mỹ sẽ đợc gia tăng một cách
đáng kể.
Bên cạnh đó chúng ta có thuận lợi rất lớn về nguồn nhân lực. Chúng ta
đó 220 nhà máy có trang bị nhà xởng hiện đại, trang bị dây chuyền công
nghệ cao, có 50 doanh nghiệp chế biến đủ tiêu chuẩn xuất khẩu thuỷ sản vào
EU, 77 doanh nghiệp xuất khẩu vào Bắc Mỹ. Nhờ vậy, năm 2000, ngành
thuỷ sản đã đợc những thành công lớn cả về sản lợng, diện tích nuôi trồng
và đặc biệt là giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt mức kỷ lục 1,475 tỷ USD. Rõ
ràng, đầu t đã đợc chứng minh là có hiệu quả.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Đề án môn học Trong các nhân tố thuận lợi chúng ta phải kể đến nhân tố có tính chất
quan trọng bậc nhất, ảnh hởng trực tiếp nhất đến quá trình xuất khẩu sản
phẩm thuỷ sản, đó là nhân tố chủ trơng và đờng lối của Đảng, Nhà nớc.
Chính phủ Việt Nam đã ra rất nhiều những quyết định, chính sách nhằm thúc
đẩy ngành xuất khẩu thuỷ hải sản. Có thể đơn cử một số quyết định nh sau:
_Nghị định số 13/CP ra ngày 2/3/1993 đã khơi dậy tiềm năng của cả
nớc về phát triển lĩnh vực thuỷ sản đặc biệt là hớng về xuất khẩu.
_Quyết định số 400/TTg ra ngày 7/8/93 cho phép miễn thuế tài
nguyên, thuế doanh thu và thuế lợi tức, hoàn thuế xuất khẩu trong 3 năm đối
với hoạt động đánh bắt thuỷ hải sản xa bờ.
_ Quyết định 428/TTg ra ngày 7/8/95 về đầu t Khôi phục và hoàn
thiện cơ sở hạ tầng nghề cá bao gồm việc xây dựng các cảng cá, cho vay
vốn dài hạn với lãi suất u đãi, thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật, phát triển công nghệ chế biến sau thu hoạch
_ Quyết định số 251/1998/QĐ-TTg về các chính sách thúc đẩy xuất
khẩu thuỷ sản.
Ta thấy rằng đờng lối đúng đắn của Đảng và Chính phủ đã tạo ra một
cơ hội thuận lợi cho mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế phát
triển sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu ra thị trờng thế giới đặc biệt
Sự tăng trởng của xuất khẩu thuỷ sản sang thị trờng Mỹ gắn liền với
sự tiến bộ trong quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam Hoa Kỳ, đặc biệt
sau khi hiệp định thơng mại Việt-Mỹ đợc ký vào ngày 13/7/2000. Sự kiện
này mở ra những cơ hội kinh doanh mới, nhất là sau khi hiệp định đợc
thông qua bởi hai nhà nớc Việt Nam Hoa Kỳ. Đối với Việt Nam và các
nớc xuất khẩu thuỷ sản khác, thì thị trờng Mỹ là thị trờng nhập khẩu thuỷ
sản lớn thứ hai trên thế giới và cũng là thi trờng tiêu thụ đa dạng về mặt
hàng, giá trị và chất lợng. Ngay sau khi hiệp định song phơng có hiệu lực,
quy chế tối huệ quốc( MFN ) trong thơng mại hàng hoá đã tạo điều kiện
thuận lợi cho hàng thuỷ sản Việt Nam vao thị trờng đầy hấp dẫn này với sự
u đãi về mức thuế nhập khẩu MFN, chẳng hạn đối với thịt cua thuế suất
MFN là 7,5%,phi MFN là 15%; ốc: thuế suất tơng ứng là 5% và 20%; cá
philê tơi và đông: 0%và 0-5,5% cent/kg; cá khô 4-7% và25-30%
Hiệp định thơng mại Việt Mỹ khuyến khích việc tổ chức xúc tiến
hoạt động thơng mại giữa hai nớc nh: hội chợ, triển lãm, trao đổi thơng
mại tại lãnh thổ hai nớc, cho phép các công dân, công ty hai nớc quảng
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Đề án môn học cáo sản phẩm, dịch vụ bằng cách thoả thuận trực tiếp với các tổ chức thông
tin quản cáo bao gồm: truyền hình, phát thanh , đơn vị kinh doanh in ấn và
bảng hiệu. Mỗi bên cũng cho liên hệ và cho bán trực tiếp hàng hoá dịch vụ
giữa công dân, công ty của bên kia tới ngời sử dụng cuối cùng. Đây là cơ
hội cho cả doanh nghiệp Việt Nam và Mỹ có diều kiện tìm hiểu sâu về thị
trờng của nhau để mở rộng buôn bán giữa hai nớc.
Hiệp định thơng mại Việt Mỹ khẳng định cơ chế chính sách mới của
Việt Nam, đánh dấu bớc ngoặc trong quan hệ Việt Nam Hoa Kỳ. Việc
chúng ta thực hiện các điều khoản của hiệp định là điều kiện ban đầu cho
Nam hiệp định thơng mại nh nhịp cầu nối giữa các doanh nghiệp hai nớc
tạo điều kiện cho sự hợp tác kinh doanh xuẩt khẩu phát triển hơn. Đó là
những điều kiện rất thuận lợi mà hiệp định thơng mại Việt Mỹ mang lại
cho chúng ta.
Những điều kiện thuận lợi nh đã phân tích ở trên, ngành xuất khẩu sản
phẩm thuỷ sản đã đạt đợc những thành tựu to lớn. Từ năm 1996 đến năm
2000 ngành luôn hoàn thành kế hoạch nhà nớc giao, năm sau cao hơn năm
trớc và đạt đợc mức tăng trởng cao (bình quân 9,17%/năm), giá trị kim
ngạch xuất khẩu bình quân tăng 21,85%/năm. Xuất khẩu thuỷ sản năm 2000
đạt 1,475 tỷ USD, bằng 1/10 tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nớc và vơn
lên đứng hàng thứ 3 trong các ngành xuất khẩu của Việt nam.
Sau năm năm 1996-2000 tổng mức đầu t của ngành thuỷ sản là
9.185.640 triệu đồng trong đố đầu t nớc ngoài là 545 tỷ đồng(
chiếm5,93%). Trong hơn 9 nghìn tỷ đồng đợc huy động để đầu t phát
triển, ngành chủ yếu vận dụng nội lực là chủ yếu, vốn đầu t trong nớc là
hơn 8600 triệu đồng chiếm tới 90,07% tổng mức đầu t. Để có đợc nguồn
vốn ngân sách thì ngành đã có biện pháp huy động nguồn vồn trong dân đạt
1700 tỷ đồng ( chiếm tỷ trọng 18,62%).
Trong giai đoạn 1999-2000, ngành thuỷ sản của nớc ta sẽ phấn đấu
đa tỷ trọng của ngành trong GDP lên 2,5-3% và đảm bảo tốc độ tăng tổng
sản lợng bình quân của ngành lên 4,5-5,1%/năm, trong đó khai thác hải sản
tăng 1,7%/năm và nuôi trồng thuỷ sản tăng 8,5%/năm. Đến năm 2010 tỷ
trọng nuôi trồng thuỷ sản trong tổng sản lợng của ngành cần đạt 50%.
Đồng thời phấn đấu đa tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản lên tốc
độ trung bình là 15-20%/năm, tốc độ tăng việc làm trong nghề cá lên trung
bình là 2,65%/năm trong cả thời kỳ 1999-2010 . Mục tiêu lớn nhất đa tổng
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Đề án môn học
phải là đối tác duy nhất của Mỹ, xuất khẩu thuỷ sang Mỹ có nhiều đối thủ
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Đề án môn học rất mạnh so với chúng ta nh Canađa, Trung Quốc Thị phần thuỷ sản của
Việt Nam trên thị trờng Mỹ còn rất khiêm tốn. Đó là một đòi hỏi, thách
thức rất lớn đối với nhà hoạch định chiến lợc của Việt Nam.
Thị trờng Mỹ tuy rộng lớn nhng chúng ta cha mở rộng đợc quy
mô, nguyên nhân ở đây có thể là chúng ta yếu kém về khâu tổ chức bán
hàng, marketing sản phẩm, do chất lợng hàng hoá cha bằng một số đối thủ
cạch tranh ở một khía cạnh nào đó, cũng có thể do nguyên nhân khách quan
xuất phát từ thị trờng Mỹ.
Một khó khăn mà chúng ta còn gặp phải đó là vấn đề về chất lợng và độ an
toàn, vệ sinh thực phẩm. Mặc dù cơ quan FDA của Mỹ đã công nhận hệ
thống HACCP của VIệt Nam, nhng chất lợng sản phẩm thuỷ sản xuất
khẩu của Việt Nam còn hạn chế do trình độ công nghệ chế biến và bảo quản
còn thấp, chủ yếu là công nghệ đông lạnh.
Bên cạnh đó trong lĩnh vực tiếp thị, mặc dù đã có trên 50 doanh
nghiệp Việt Nam đang xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ nhng hầu nh cha có
doanh nghiệp nào mở đợc văn phòng dại diện tại nớc Mỹ. Do vậy các
doanh nghiệp Việt Nam ít có cơ hội giao thơng với những nhà phân phối
Mỹ, nhất là tìm hiểu các luật chơi của thị trờng này.Đó là một thiệt thòi mà
chúng ta cần phải cố gắng khắc phục.
Trong khâu chế biến, công nghệ chế biến thuỷ sản nhập từ nớc ngoài
vừa cũ vừa lạc hậu, do đó không đảm bảo đợc chất lợng sản phẩm phục vụ
cho việc xuất khẩu. Việt Nam đợc ví nh bãi thải công nghiệp, nên ngành
thuỷ sản cũng không tránh khỏi sự lạc hậu, sự cũ kỹ về công nghệ. Nh vậy
muốn có sản phẩm chế biến từ thuỷ sản đủ tiêu chuẩn chất lợng cho xuât
cho ngành xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam rất nhiều những điều kiện thuận
lợi, tuy nhiên bên cạnh đó nó cũng đặt ra cho chúng ta những khó khăn,
thách thức đòi hỏi sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân ta trong sự nghiệp phát
triển kinh tế đất nớc, nhất là trong quan hệ kinh tế đối ngoại. Thứ nhất việc
đợc hởng quy chế MFN cha phải là điểm quyết định để tăng khả năng
cạnh tranh đối với hàng thuỷ sản Việt Nam, vì Mỹ đã áp dụng quy chế MFN
với 136 nớc thành viên WTO, ngoài ra còn có u đãi dặc biệt đối với các
nớc chậm phát triển, nhng Việt Nam cha đợc hởng chế độ này. Mức
thuế trung bình là 5%, nhng nếu đợc hởng u đãi thì mức thuế này tiến
tới 0%. Hiện nay có hơn 100 nớc xuất khẩu đủ các mặt hàng thuỷ sản vào
Mỹ, trong đó có nhiều nớc có truyền thống lâu đời trong buôn bán thuỷ sản
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Đề án môn học với Mỹ nh Thái Lan(tôm sú đông, đồ hộp thuỷ sản ), Trung Quốc(tôm
đông cá rô phi ), Canađa(tôm hùm, cua ), Inđônêsia (cua ,cá ngừ, cá rô
phi ), Philippin(hộp cá ngừ,cá ngừ tơi đông, tôm đông và rong
biển ) nên sự cạnh trên thị trờng sẽ ngày càng quyết liệt đặc biệt đối với
một số mặt hàng chủ lực nh tôm, cá philê, cá ngừ. Trong hơn 100 mặt hàng
thuỷ sản thực phẩm nhập khẩu, Mỹ có nhu cấu cao về các mặt hàng đã qua
tinh chế( tôm luộc, tôm bao bột, tôm hùm, cá phi lê, hộp thuỷ sản) trong khi
đó hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là sơ chế, tỷ lệ sản phẩm giá trị gia
tăng thấp (chỉ chiếm khoảng 30% giá trị xuât khẩu của Việt Nam). Cụ thể
với mặt hàng cá ngừ, hiện nay Việt Nam mới chỉ xuất khẩu phần lớn cá ngừ
tơi hoặc đông vào Mỹ(90% giá trị xuất khẩu cá ngừ) trong khi cá ngừ đóng
hộp là mặt hàng đợc tiêu thụ nhiều ở Mỹ thì giá trị xuất khẩu của Việt Nam
lại không đáng kể( 5%). Mỹ coi trọng cả nhập khẩu thuỷ sản phi thực phẩm
bao gồm các sản phẩm hoá học gốc thuỷ sản: ngọc trai, cá cảnh (giá trị
nặng nề trong suy nghĩ của mỗi con ngời Việt Nam, đó là một hạn chế mà
chúng ta cần khắc phục trong môi trờng kinh doanh đòi hỏi sự sáng tạo,
linh hoạt này. Mỗi doanh nghiệp cần cẩn trọng và linh hoạt trong suy nghĩ,
hành động tìm bạn hàng và đối tác kinh doanh. Các doanh nghiệp trong
ngành thuỷ sản muốn thâm nhập, chiễm lĩnh thị trờng Mỹ cần trú trọng
hơn nữa trong công tác tiếp thị ,tìm hiểu bạn hàng Chúng ta không nên ngồi
chờ ngời ta đến bắt tay, hẹn trớc làm ăn mà các doanh nghiệp cần chủ
động tìm bạn hàng mới để ký kêt hợp đồng sản xuất kinh doanh. Mặt khác,
yếu tố chất lợng sản phẩm của các donh nghiệp trong ngành thuỷ sản hiện
nay vẫn còn là vấn đề khó khăn và trở ngại nhất, nh chúng ta đã biết thị
trờng Mỹ là thị trờng đòi hỏi sản phẩm chất lợng cao, phải đủ tiêu chuẩn
vệ sinh an toàn thực phẩm do các cơ quan kiểm định kiểm tra. Các doanh
nghiệp Việt Nam phải hết sức chú ý đến vấn đề bảo đảm chất lợng, bởi vì
có nh vậy thì hàng thuỷ sản của ta mới có cơ hội vào thị trờng Mỹ. Nếu
chúng ta sản xuất sản phẩm không đủ tiêu chuẩn chất lợng chẳng những
không xuất khẩu đợc mà còn mất uy tín trên thị trờng về nhãn hiệu Việt
Nam. Thuỷ sản Việt Nam vào đợc thị trờng Mỹ đã khó lại còn phải cạnh
tranh để tồn tại lại càng khó hơn. Các đối thủ cạnh tranh có lợi thế hơn ta rất
nhiều về: chất lợng , giá cả , mẫu mã Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp
phải giảm thiểu chi phí đầu vào.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Đề án môn học Trong chiến lợc sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Đào tạo
phát triển nhuồn nhân lực phải đặt nên hàng đầu, nó phải đợc coi là yếu tố
đầu tiên quyết định thành công hay thất bại của mỗi tổ chức, mỗi doanh
nghiệp. Để nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của đội ngũ nhân viên,
ngoài những việc đào tạo trực tiếp trong nớc đối với công nhân, còn đội ngũ
chức các chiến lợc quảng cáo để giới thiệu sản phẩm thuỷ sản ở Mỹ đồng
thời lựa chọn kênh tiêu dùng và xuất khẩu phù hợp, hiệu quả tại Mỹ. Bên
cạnh đó, chúng ta cũng cần tạo cho mình một phong cách kinh doanh, sản
phẩm cá biệt hoá so với đối thủ cạnh tranh nhằm đánh vào tâm lý tiêu dùng
của khách hàng-muốn dùng sản phẩm mới lạ.
* Đẩy mạnh những mặt hàng mũi nhọn chủ yếu có giá trị kinh tế cao.
Trong những mặt hàng thuỷ sản vào Mỹ thì con tôm vẫn là mặt hàng chủ
lực: năm 1997 xuất đợc 3074 tấn tôm với giá trị kim ngạch 31,32 triệu
USD, chiếm 79,64% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thuỷ sản vào thị trờng
Mỹ năm 1997; năm 1998 xuất khẩu đợc 6125,7 tấn với giá trị kim ngạch
66,89 triệu USD, chiếm 83,37% tổng kim ngạch. Năm 1999 xuất đợc 9100
tấn với giá kim ngạch 96, triệu USD, chiếm 74,23% tổng kim ngạch. Giá
tôm ở thị trờng Mỹ tơng đối cao so với các thị trờng khác, bình quân 2
năm 1998 1999 là 10 USD/kg đến10,2 USD/kg. Năm 2000, tôm sú giá
17,6 USD/kg. Cuối năm 1998, Việt Nam đợc FAO xếp vào hàng thứ 10
trên 130 nớc xuất khẩu tôm vào Mỹ, thì đến tháng 4/2000 mặt hàng tôm
Việt Nam đợc xếp vào hàng thứ 8 trên 130 nớc. Thứ hai phải kể đến là
mặt hàng cá ớp đông bao gồm các loại cá basa, cá tra, cá nheo, cá bơn nuôi
nớc ngọt và cá ngừ biển khơi. Năm 1997 xuất đợc 1893,6 tấn, năm 1998
đạt 3434,5 tấn, tăng 181% so cùng kỳ năm 1997; năm 1999 giá trị kim
ngạch đạt 19,25 triệu USD chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu cá đông
lạnh. Bên cạnh đó chúng ta nên chú trọng và đẩy mạnh xuất khẩu những mặt
hàng thuỷ sản khác cũng có giá trị kinh tế cao nh cua, mực, sò Chúng ta
cần phải có những kế hoạch cụ thể để phát huy hơn nữa thế mạnh này.
* Chính sách của Nhà nớc: Nhà nớc phải có chính sách khuyến
khích để mở rộng xuất khẩu thuỷ sản vào thị trờng Mỹ. Để đạt đợc mục
tiêu mở rộng thị phần, đem lại nguồn thu lớn hơn nữa trong việc xuât khẩu
thuỷ sản, Nhà nớc và Bộ thuỷ sản cần có chính sách giải pháp kịp thời,
hiệu quả để tăng nguồn lợi thuỷ sản. Trớc hết phải ban hành luật bảo vệ
nguồn lợi thuỷ sản của Việt Nam, hỗ trợ vốn và kỹ thuật nuôi trồng thuỷ
trờng, đặc biệt là thị trờng Mỹ.
* Chúng ta cũng cần phải nghiên cứu và tìm hiểu kỹ để vận dụng đúng
luật pháp của Việt Nam, của Mỹ và các thông lệ quốc tế để quá trình giao
thơng đợc diễn ra dễ dàng thuận lợi, đẩy nhanh tiến trình mở rộng thị
trờng tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam vào thị trờng Mỹ.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Đề án môn học Nh vậy để thành công trên con đờng thâm nhập thị trờng Mỹ, nhất
là sau khi hiệp định thơng mại Việt-Mỹ có hiệu quả. Các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu nói chung, và các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu thuỷ
sản nói riêng cần thiết lập, xây dựng một chiến lợc phù hợp với từng thời
kỳ nhất định. Chúng ta cần phân tích kỹ mô hình SWOT để tìm điểm yếu,
điểm mạnh, những cơ hội và mối đe doạ trên thị trờng từ đó đa ra các
chiến lợc hợp lý, đem lại lợi nhuận cao nhất trên thị trờng nớc Mỹ cho
ngành xuất khẩu thuỷ sản nớc ta.
2_ Một số suy nghĩ của bản thân.
Ngành thuỷ sản của Việt Nam có rất nhiều điều kiện thuận lợi nh đã
phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy tiềm năng xuất khẩu thuỷ sản của Việt
Nam sang thị trờng Mỹ là rất lớn. Nếu biết khai thác triệt để những thuận
lợi về yếu tố tự nhiên cũng nh yếu tố con ngời thì sản phẩm thuỷ sản Việt
Nam sẽ tạo dựng đợc một chỗ đứng vững chắc trên thị trờng Mỹ. Để làm
đợc điều đó thì đòi hỏi sự phối hợp rất cao từ mọi đối tợng. Theo em, việc
đẩy mạnh xuất khẩu sang Mỹ không thể do một cá nhân, một tổ chức có thể
làm đợc mà cần có sự hợp tác, thống nhất, thông suốt giữa Nhà nớc, các tổ
chức và doanh nghiệp. Họ phải cùng nhau hành động thống nhất từ chính
sách vĩ mô cho đến các chính sách của doanh nghiệp. Nhà nớc lo công tác
thị trờng, đối tác còn doanh nghiệp cần trú trọng sản xuất sản phẩm. Hành