Khảo sát đặc tính của HYDROXYETHYL CELLULOSE trong công nghệ bảo quản măng cụt - Pdf 15

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
oOo
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH CỦA HYDROXYETHYL
CELLULOSE TRONG CÔNG NGHỆ BẢO QUẢN
MĂNG CỤT

Chuyên ngành : Công nghệ sinh học
Mã số ngành : 111 GVHD : KS. HỨA QUYẾT CHIẾN
SVTH : NGUYỄN PHƯƠNG HÀ
MSSV : 105111017 Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 07, năm 2009

i
MỤC LỤC

Danh mục Trang
Lời mở đầu 1

1.1.10. Phƣơng pháp thu hoạch và bảo quản 17
1.1.10.1. Thu hoạch 17
1.1.10.2. Bảo quản 17
1.1.11. Ứng dụng 19
1.2. Tổng quan về bảo quản 23
1.2.1. Đặc điểm của rau quả và nguyên nhân gây hƣ hỏng rau quả 23
1.2.2. Hô hấp và cƣờng độ hô hấp 24
1.2.2.1 Hô hấp 24

1.2.2.2. Khái niệm cường độ hô hấp 27
1.2.2.3. Tác hại của quá trình hô hấp đối với nông sản khi bảo quản 28
1.2.2.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến cường độ hô hấp 29

1.2.3. Sự thoát hơi nƣớc cùa nông sản phẩm khi bảo quản 31
1.2.4. Một số thành phần hóa học và quá trình biến đổi của chúng trong quá trình
bảo quản 32
1.2.4.1. Nước 32
1.2.4.2. Glucid 33
1.2.4.2. Vitamin và acid hữu cơ 33
1.2.5. Biện pháp kỹ thuật bảo quản rau quả tƣơi 35
1.2.6. Hiện trạng bảo quản trái cây tƣơi xuất khẩu ở Việt Nam 35
1.3. Hydroxyethyl Cellulose (HEC) 36
1.3.1. Giới thiệu chung 36
1.3.2. Tính chất hóa lý 37
1.3.3. Đặc tính 38/

iii
1.3.3.1. Khả năng “làm dày” (Thickening) 38

1.3.3.2. Khả năng chịu muối (Salt Tolerance) 38

2.2.3.4. Cách tiến hành 46
2.2.3.5. Tính kết quả 47

2.2.4. Định lượng vitamin C ( acid ascorbic ) bằng phương pháp chuẩn độ
iode 48
2.2.4.1 Nguyên tắc 48
2.2.4.2. Dụng cụ và hóa chất 48
2.2.4.3. Cách tiến hành 49
2.2.4.4 Tính kết quả 49

CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN
3.1. Kết quả khảo sát khả năng bảo quản (về hình thái) của HEC 50
3.2. Kết quả đo cƣờng độ hô hấp 54
3.3. Kết quả hàm lƣợng đƣờng tổng số 55
3.4. Kết quả hàm lƣợng Vitamin C 57

CHƢƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4.1. Kết luận 59
4.2. Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

v
DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 1.1. Phân loại của măng cụt 2
Bảng 1.2. Thành phần dinh dưỡng 5
Bảng 1.3. Đặc tính của HEC 40
Bảng 3.1. Khối lượng quả trước và sau bảo quản 50
Bảng 3.2. Tỷ lệ giảm khối lượng của từng mẫu sau bảo quản 50
Bảng 3.3. So sánh hình thái của quả trước và sau bảo quản 51
Bảng 3.4. So sánh cường độ hô hấp giữa các nghiệm thức 54
Bảng 3.5. So sánh hàm lượng đường tổng số trước và sau bảo quản 55
Bảng 3.6. So sánh hàm lượng Vitamin C trước và sau bảo quản 57
Bảng 3.7. Tỷ lệ hao hụt Vitamin C sau bảo quản 58

vii
Tuy nhiên, để trở thành một loại quả xuất khẩu chủ chốt, măng cụt phải cần rất
nhiều nhân tố hỗ trợ, đặc biệt là phải hoàn thiện từ quy trình sản xuất đến quy trình bảo
quản sau thu hoạch.
Điều cần quan tâm nhất trong xuất khẩu măng cụt đó chính là: măng cụt phải đạt
tiêu chuẩn xuất khẩu và giá thành đầu tư không quá cao. Vì vậy, ngoài việc đầu tư vào
kỹ thuật trồng thì công nghệ bảo quản măng cụt sau thu hoạch cũng rất đáng quan tâm.
Các phương pháp bảo quản hiện nay (thông dụng nhất là bảo quản bằng túi
plastic có hoặc không có đục lỗ) chủ yếu có sự kết hợp với nhiệt độ mát hoặc lạnh, điều
này làm phát sinh chi phí trong lúc vận chuyển.
Đề tài này được thực hiện nhằm đưa ra môt phương pháp bảo quản măng cụt có
hiệu quả ngay cả trong điều kiện nhiệt độ bình thường, điều này đặc biệt quan trọng vì
những người trồng hoặc bán măng cụt đếu có thể sử dụng với giá thành rất thấp và
phương pháp đơn giản, nhưng vẫn cho kết quả tương đương hoặc tốt hơn các phương
pháp bảo quản khác.
Đồng thời đưa ra một ứng dụng mới cho hydroxyethyl cellulose (HEC), chất
được sử dụng để bảo quản trong đề tài.
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Bộ
Malpighiales
Họ
Clusiaceae
Chi
Garcinia
Loài
G. mangoostana
Chi Garcinia còn gồm một số cây tương cận, đa số mọc trong vùng Đông Ấn
(West Indies) trong đó có thể kể Garcinia cambogia, Garcinia cowa cung cấp quả
“cowa-mangosteen” lớn hơn và có khía màu vàng apricot, hay Garcinia indica hay
“Cocum-Conca” cho quả chua, áo hạt màu tím, dùng làm giấm , hạt ép lấy dầu. Khóa Luận Tốt Nghiệp Tổng Quan Tài Liệu 3

1.1.2. Nguồn gốc và phân bố
1.1.2.1 Nguồn gốc
Cây măng cụt là cây ăn quả nhiệt đới có nguồn gốc từ Malaysia và những đảo
thuộc vùng xích đạo gần Indonesia, có lịch sử hàng chục thế kỷ. Loại cây này đã được
thuyền trưởng Cook mô tả khá chi tiết từ năm 1770, và được đưa đến Tích-lan năm
1880, trồng tại Anh trong các nhà kiếng từ năm 1855, sau đó đưa đến vùng West Indies
( bờ biển Trung Mỹ dưới Florida) từ giữa thế kỷ IXX.
Ở Việt Nam, măng cụt được các nhà truyền giáo đạo Gia Tô di thực vào miền

Thân và rễ: Là cây thân gỗ lớn, cao khoảng 10 – 25 m, đường kính thân khoảng
15 – 35 cm. Thân thẳng, gốc to ngọn nhỏ dần, tán lá dày, xanh và gọn, dáng đẹp. Cành
cách đều nhau trên thân, góc cành và thân to, đầu cành hơi rũ xuống. Gỗ thân nặng và
bền, thường được sử dụng làm đồ mộc, trang trí,
Bộ rễ phát triển tương đối chậm và yếu, tập trung phần lớn ở độ sâu 20 -30 cm.
Rễ không có hệ thống lông hút mềm khả năng hấp thu nước bị hạn chế.
Lá: Lá măng cụt khá lớn, dài 12 – 25 cm, rộng 7 – 13 cm, dạng hình trứng, dày,
mọc đối nhau, cuống nhắn. Các đường gân hai bên nổi lên, phân bố đều đặn, hình lông
chim. Mặt trên lá xanh đen và bóng, mặt dưới lá xanh nhạt và hơi mốc. Khả năng quang
hợp của lá kém.
Hoa: Hoa đơn hoặc kép ở đầu những cành 1 - 2 năm tuổi. Hoa cứng có cuống dài
7 - 9 mm. Kích thước hoa tương đối lớn, khi nở đường kính hoa 4 - 6 cm, dài 1,5 - 2 cm.
Bốn cánh hoa màu xanh vàng xen lẫn mảng phớt hồng ở tâm.
Hoa măng cụt là loại hoa bất toàn, về hình thái là những hoa lưỡng tính nhưng về
chức năng thì là hoa cái vì tuy có nhị đực nhưng hoàn toàn bất thụ. Hạt măng cụt không
phải hình thành từ phôi đã thụ phấn theo đường hữu tính, mà là một phôi giả hình thành
không qua thụ phấn.
Trong điều kiện thuận lợi, cây ra hoa vào năm thứ 6 hoặc thứ 7 sau khi gieo,
thường thì từ 10 - 12 năm. Ở miền Nam nước ta cây măng cụt ra hoa vào tháng 1 - 3
dương lịch và trái chín vào tháng 5 - 9 dương lịch ( khoảng 104 - 108 ngày sau khi hoa
nở ).
Quả và hạt: Quả măng cụt thuộc loại quả nang còn mang đại hoa ở cuống và
núm nhụy ở đầu quả. Vỏ quả khi sống có màu xanh đọt chuối, khi chín vỏ đỏ dần, rồi
chuyển sang tím và tím sẫm khi mùi chín.
Khóa Luận Tốt Nghiệp Tổng Quan Tài Liệu 5

Quả hình cầu, đáy phẳng, đường kính 4 - 7 cm, nặng 70 - 100 g. Vỏ quả bóng

1.0- 2.0 mg
(Nguồn: Phân tích tại Đại học Nông Lâm, 1994)
1.1.4.2 Thành phần hóa học
Như các loại quả khác, măng cụt ngọt nhờ có nhiều chất đường: sucrose,
fructose, glucose và có thể cả maltose. Nó thơm nhờ một số lớn các chất dễ bốc hơi. Phổ
sắc ký lỏng tinh dầu chiết xuất phát hiện khoảng 50 hóa chất hữu cơ, trong số đó, hơn 30
chất đã được xác định. Chiếm nhiều nhất là (%) hexenol, bên cạnh đó còn có octan,
hexyl acetat, α-copaen, aceton, furfural, hexanol, methyl butenon, toluen. Những chất
Khóa Luận Tốt Nghiệp Tổng Quan Tài Liệu 6

khác đều dưới 2% nhưng kết hợp với các chất trên cấu thành hương vị của măng cụt.
Ngoài hexyl acetat và hexenyl acetat đặc biệt của măng cụt, mùi trái cây là do các chất
hexenal, hexanol, -bisabolen mà ra, thêm vào mùi xoài với α-copaen, mùi hoa lài với
furfuryl methylceton, mùi huệ dạ hương với phenyl acetaldehyd, mùi cỏ với hexenol,
hexanal, mùi cỏ héo với pyridin, mùi lá ướt với xylen, mùi hoa khô với benzaldehyd,
mùi hồ đào với d-cadinen . Aceton, ethyl cyclohexan đóng góp tính chất dịu ngọt trong
lúc toluen, a-terpinol đem lại mùi đường thắng, methyl butenol, guaien mùi dầu,
valencen đặc biệt mùi mứt cam . Đáng để ý là nếu furfural methylceton cống hiến hương
thơm dễ chịu thì furfural lại cho thoáng vào một mùi hôi khó ngửi. Tóm lại, mùi vị của
măng cụt là kết quả của sự kết hợp phức tạp của nhiều hợp chất khác nhau.
Những nghiên cứu về dược tính của măng cụt gần đây cho thấy măng cụt có
thành phần hóa học khá phức tạp. Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào vỏ quả.
Thành phần chính đã được xác định là một loạt xanthon mà những chất chính là α-
mangostin, β-mangostin, g-mangostin, những isomangostin, normangostin, bên cạnh
trioxyxanthon, pyranoxanthon, dihydroxy-methyl-butenyl-xanthon, trihydroxy methyl
butenyl xanthon, pyrano xanthenon. Những garcinon A, B, C, D, E, mangostinon,
garcimangoson A,B,C, gartanin, egonol, epicatechin, procyanidin từ măng cụt nguồn

C cây tăng trưởng chậm, khi nhiệt độ từ 38
0
C trở lên và dưới 5
0
C có thể làm
chết cây.
Lượng mưa hàng năm thích hợp trên 1.200 mm, phân bố đều trong năm và không
mưa nhiều ở giai đoạn cây mang trái là tốt nhất.
Khi cây còn nhỏ (dưới 5 năm), măng cụt cần râm mát vì vậy phải che bớt ánh
năng trực tiếp bằng vật liệu che chắn hoặc trồng cây che bóng.
Đất: Cây măng cụt có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau nhưng tốt
nhất là trồng trên đất màu mỡ, giàu hữu cơ, tơi xốp, tầng canh tác dày, ẩm nhưng thoát
nước tốt, gần nguồn nước tốt để có đủ nước tưới trong mùa khô. Đất hơi chua, độ pH từ
5,5 - 7 là thích hợp, không trồng được trên đất phèn, mặn.
1.1.6. Yêu cầu dinh dƣỡng
Tuy cây măng cụt không đòi hỏi nhiều về dinh dưỡng, nhưng nếu được cung cấp
đầy đủ chất dinh dưỡng cây sẽ sinh trưởng và phát triển tốt, tuổi thọ dài, cho năng suất
và chất lượng cao. Giai đoạn cây còn nhỏ và khi đâm chồi cây cần nhiều đạm và lân,
giai đoạn chuẩn bị ra hoa cần lân, khi cây hình thành quả và nuôi quả lớn cần thêm kali
để tăng chất lượng quả. Những nhu cầu về chất vi lượng chưa được thể hiện rõ.
1.1.7. Kỹ thuật trồng trọt
1.1.7.1 Giống
Hiện nay, hầu hết các cây măng cụt được trồng ở các nước vùng nhiệt đới đều bắt
nguồn từ một dòng ban đầu và được trồng từ hạt. Do hạt măng cụt bất thụ và cây con
phát triển từ phôi giả nên ít có biến động về di truyền để tạo thành nhiều giống khác
Khóa Luận Tốt Nghiệp Tổng Quan Tài Liệu 8

9

loãng. Cần giữ bóng râm cho cây trong suốt thời gian ươm vì cây con chịu nắng rất yếu.
Ngoài ra cũng cần phải thường xuyên theo dõi, phát hiện và phòng trừ sâu bệnh kịp thời.
Nếu mua cây giống ở ngoài thì cần chọn mua ở những nơi đáng tin cậy, rõ nguồn
gốc và chọn những cây giống tốt, đạt tiêu chuẩn.
1.1.7.3 Thời vụ và khoảng cách trồng
Cây măng cụt có thể trồng được quanh năm nhưng tốt nhất nên trồng vào đầu
mùa mưa để đất có đủ độ ẩm và giảm chi phí tưới cho cây trong thời gian đầu. Có thể
giữ cây con trong vườn ươm để trồng vào thời vụ thích hợp vẫn tốt hơn là trồng vào
mùa khô.
Cây măng cụt là cây than gỗ cao lớn, tán lá rộng, thời gian sinh sống lâu năm nên
cần trồng thưa với khoảng cách xa nhau để vườn cây được thông thoáng, cây khỏe
mạnh, khoảng cách cây 8 - 10 m. Trong những năm đầu cây còn nhỏ, chậm phát triển
cần có cây trồng xen để tận dụng đất và che bóng râm.
1.1.7.4 Cách trồng
Chuẩn bị đất trồng: Ở những vùng cao và Đông Nam Bộ cần đào giếng hoặc
lập hồ chứa nước để tưới trong mùa khô và xẻ rãnh cho nước tiêu thoát tốt trong mùa
mưa nhằm tránh hiện tượng cây bị ngập úng cục bộ. Tùy theo địa hình từng nơi mà
khoảng cách và độ sâu của rãnh thay đổi khác nhau, rộng 0,5 - 1 m, sâu ít nhất 1 m.
Ở ĐBSCL và những nơi đất thấp thì cần đào mương lên liếp để trồng nhằm tăng
độ dày tầng canh tác, thoát nước trong mùa mưa và cung cấp nước tưới trong mùa khô.
Nếu trồng hang đơn thì mặt liếp rộng 5 - 6 m, trồng hàng đôi thì mặt liếp rộng 9 - 10 m.
Bề rộng mương khoảng ½ bề mặt liếp.
Ở những địa phương thường bị ảnh hưởng bởi nước lũ, cần có hệ thống đê bao
quanh, nhưng cũng cần có hệ thống đê bao quanh, nhưng cũng cần có hệ thống tiêu
thoát nước khi cần thiết.
Cách trồng: Những nơi đất cao đào hố trước khi trồng, hố đào với kích thước

này rất hữu hiệu nhất là trong mùa khô để giảm bớt sự bốc thoát hơi nước.
Phòng trừ cỏ dại: Những năm đầu khi cây còn nhỏ chưa khép tán thì cỏ dại phát
triển mạnh, cần làm sạch cỏ, nhất là xung quanh gốc trong phạm vi tán cây. Chú ý
không làm tổn thương rễ cây. Khi cây lớn có thể để 1 lượng cỏ nhất định trên mặt liếp
để giữ ẩm và hạn chế xói mòn. Nên diệt cỏ bằng những phương pháp thủ công hoặc
Khóa Luận Tốt Nghiệp Tổng Quan Tài Liệu 11

dùng máy cắt cỏ. Khi cỏ quá nhiều cũng có thể dùng các loại thuốc trừ cỏ như:
Glyphosate, Gramoxone,
Bồi liếp: Khoảng cách giữa mặt liếp và mực nước mương trong vườn măng cụt ít
nhất là khoảng 50 - 60 cm. Vào mùa nắng hàng năm cần vét bùn ở mương bồi lên mặt
liếp nhằm nâng cao mặt liếp và cung cấp thêm chất dinh dưỡng cho cây. Không nên bồi
bùn quá dày sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của rễ cây, chỉ cần một lớp bùn mỏng
khoảng 3 - 5 cm để sau vài ngày thì lớp bùn này sẽ khô và nứt ra tạo được sự thông
thoáng cho vùng rễ cây.
Tỉa cành tạo tán: Phải làm sớm và thường xuyên để có được tán cây cân đối và
thông thoáng nhằm cho năng suất cao. Khi cây còn nhỏ cần tỉa bỏ những cành mọc dày
đặc, cành vượt, cành yếu, cành bị sâu bệnh, chỉ giữ lại những cành mọc ngàng khỏe
mạnh. Khi cây đã lớn cho trái, sau mỗi vụ phải tỉa bỏ những cành bị sâu bệnh, cành già
không còn khả năng cho trái, những cành vô hiệu nằm trong tán cây. Những ngọn quá
cao hoặc quá dài cũng cần cắt bỏ để thu hẹp tán cây, tránh cho cây giao nhau quá, nhằm
giúp cây ra đọt nhanh, nhiều và đồng loạt hơn, tạo thuận lợi cho sự phát triển của trái.
Khi cây cao 8 - 10 m có thể cắt ngọn để giảm chiều cao cây và tán ngang dễ phát triển.
Việc tỉa cành và tạo tán cho cây măng cụt cần tiến hành nay sau đợt bón phân lần
thứ nhất và phải được thực hiện trong vòng 1 tuần lễ để giúp cây có đủ dinh dưỡng ra
chồi khỏe và đồng loạt.
1.1.7.7 Tưới nước

gốc rồi lấp đất lại và tưới nước.
b. Giai đoạn cây cho trái
Thời điểm bón và loại phân bón: Thường chia làm 3 - 4 lần bón trong năm: Sau
khi thu hoạch, trước khi ra hoa, sau khi đậu trái và lúc lứa trái đầu tiên lớn bằng ngón
tay cái. Cũng có thể ghép 2 lần bón sau làm một tùy theo điều kiện cụ thể từng nơi.
 Lần 1: Ngay sau khi thu hoạch xong phải tỉa bớt các cành già cỗi, cành bị
sâu bệnh, cành ốm yếu trong tán, lúc này cần sử dụng phân vô cơ có hàm
lượng đạm cao nhằm giúp cây nhanh ra lá mới. Bón cho mỗi cây 20 - 30
Kg phân chuồng hoai mục và 1 - 3 Kg phân Đầu trâu AT hoặc N: P: K
(13:13:13) + TE Đầu trâu kết hợp với phun phân bón lá Đầu trâu 005 hoặc
502.
Cũng có thể bón phân hữu cơ kết hợp phân vô cơ N: P: K 20:20:10 hoặc N: P: K:
S 16:16:8:13.
Khóa Luận Tốt Nghiệp Tổng Quan Tài Liệu 13

 Lần 2: Trước khi cây ra hoa 30 - 40 ngày, giai đoạn này nên sử dụng phân
vô cơ có hàm lượng lân và kali cao. Trong giai đoạn này tránh bón nhiều
phân đạm vì nhiều đạm sẽ làm cho cây ra lá nhiều hơn ra hoa. Lượng phân
bón khoảng 2 - 4 Kg DAP + 2 - 4 Kg KCl. Kết hợp với phun phân bón lá
Đầu trâu 007 hoặc 702.
 Lần 3: Sau khi đậu quả (đường kính quả khoảng 2 cm), tăng lượng kali để
tăng phẩm chất trái. Lượng phân bón là 2 - 4 Kg NPK 15-15-20, kết hợp
với phun phân bón lá Đầu trâu 009 hoặc 902.
Lượng phân bón nhiều hay ít căn cứ vào tuổi cây, độ lớn của tán cây, đất xấu
hoặc tốt, sau năm trúng mùa bón nhiều hơn năm tất mùa. Nếu cây phát triển chậm bón
thêm phân Ure. Phương pháp bón là xới đất quanh gốc theo tán cây rồi rải phân lấp đất.
Việc phun thêm phân lá có NPK và các chất vi lượng để giúp cây sinh trưởng

cho sản lượng khoảng 4,5 ngàn tấn. Tỉnh Bến Tre là nơi có diện tích tập trung lớn nhất,
đạt 4,2 ngàn ha (chiếm 76,8% diện tích cả nước).
Việc mở rộng diện tích loại cây này hiện nay đang gặp nhiều trở ngại do thời
gian kiến thiết cơ bản dài, là cây thân gỗ lớn, chiếm nhiều diện tích đất và chỉ thích hợp
với đất mầu ở các cù lao. Kể từ khi trồng đến lúc thu hoạch được cũng mất tới 10 năm.
Sau đó cây ra trái mỗi mùa, suốt hơn trăm năm. Mùa vụ măng cụt từ tháng 4- 6 âm lịch
hàng năm. Tuy gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng diện tích trồng nhưng măng cụt
thuộc loại quả quý hiếm trên thị trường. Có lúc giá măng cụt lên tới 40.000-45.000
đồng/kg tùy loại.
Mặc dù điều kiện tự nhiên nước ta tương đối thuận lợi để phát triển sản xuất và
xuất khẩu măng cụt nhưng một thực tế hiện nay là mặc dù nhiều nhà vườn đã áp dụng
những biện pháp canh tác tiến bộ nhưng trái măng cụt Việt Nam chưa thực sự hấp dẫn;
trái to, trái nhỏ không đồng đều; sắc vỏ màu nâu mét, thường bị lấm tấm xì mủ vàng,
cuống trái héo hon. Bên trong, nhiều trái có múi ngọt thanh nhưng cũng có những trái bị
sượng, phần thịt cứng chát hoặc úng nước chua Các chủ kinh doanh lớn ở chợ đầu mối
Chu Văn An - TP.HCM cho biết, măng cụt Việt Nam xấu mã nên kém ăn khách do nhà
vườn thiếu chăm sóc trái cẩn thận từ khi mới kết quả. Đến khi thu hoạch thì đổ đống
tràn lan. Thương lái thu mua măng cụt còn thói quen đựng hàng bằng cần xé, giỏ bội,
đậy đệm qua loa. Vận chuyển thì chồng chất bừa bãi. Đến chợ, đổ đống ra bán trái còn
nguyên vẹn, trái bị móp méo, trái bầm dập, kém hấp dẫn nên mất giá.
Khóa Luận Tốt Nghiệp Tổng Quan Tài Liệu 15

Một thực tế của ngành sản xuất măng cụt của nước ta hiên nay là: không những
chưa phát huy được tối đa tiềm năng xuất khẩu loại trái cây đặc sản này mà chúng ta vẫn
phải nhập khẩu lượng lớn măng cụt từ Thái Lan. Theo số liệu thống kê của Tổng cục
Hải quan, kim ngạch nhập khẩu măng cụt từ Thái Lan, Campuchia, Trung Quốc (trong
đó chủ yếu nhập khẩu từ Thái Lan) trong những tháng đầu năm 2007 đạt khá cao. Cụ

lập 2 năm, tạo điều kiện liên kết những nhà vườn ở Tân Qui- Huyện Cầu Kè - Tỉnh Trà
Vinh, hình thành những khu vườn cây ăn trái có quy trình kỹ thuật chăm sóc đạt tiêu
chuẩn trái cây sạch, an toàn và chất lượng. Hiện nay mỗi năm hợp tác xã cung ứng cho
thị trường trên 250 tấn trái. Điều đáng mừng là từ khi thực hiện kiên kết trong hợp tác
xã, giá trị của sản phẩm trái măng cụt đã tăng lên. Mỗi năm thương lái hợp đồng mua
100 tấn, chiếm 45% sản lượng măng cụt của hợp tác xã. Vườn măng cụt của xã viên đạt
mức thu nhập bình quân là 70 triệu đồng/ha.
Mặt ưu điểm thứ 2 là hợp tác xã măng cụt Tân Thành đã chính thức là thành viên
GAP- Sông Tiền (Sản xuất trái cây an toàn theo tiêu chuẩn Quốc tế) gồm 7 tỉnh, thành
phố tham gia. Đây cũng là điều kiện để đưa thương hiệu măng cụt Tân Thành vươn xa
hơn. Do đặc điểm cây măng cụt có thời gian trồng đến thu hoạch khá dài, từ 7 năm đến
8 năm mới cho trái, sau 15 năm thì năng suất thu hoạch mới ổn định ở mức từ 6 tấn đến
7 tấn trái/ha. Vì vậy, xây dựng thương hiệu cho cây măng cụt Tân Thành ngay từ bây
giờ là bước chuẩn bị thích hợp trong quá trình hội nhập của trái cây nơi đây.
Trong “Đề án Phát triển Sản xuất và Xuất khẩu rau hoa quả tươi của Việt Nam”
Bộ Thương mại cũng khẳng định măng cụt được xếp vào 1 trong 11 loại trái cây có lợi
thế cạnh tranh của nước ta và đang được tập trung đầu tư phát triển. Vì vậy, tìm giải
pháp pháp huy năng suất cây trồng trong nước, bảo đảm cung cấp ra thị trường những
trái măng cụt chất lượng cao phục vụ tiêu dùng và tăng xuất khẩu là bài toán cho ngành
trái cây Việt Nam hiện nay.
1.1.9. Tiêu chuẩn xuất khẩu
 Trái có trọng lượng > 80 g
 Ngoại hình đẹp, vỏ không bị trầy xước.
 Không có vết chích của côn trùng. không có vết bệnh.
 Cuống trái còn nguyên.
 Không có bất cứ tồn dư thuốc hóa học nào trên ngưỡng cho phép để đảm bảo sức
khỏe người tiêu dùng.

Trích đoạn Thu hoạch Khái niệm cường độ hô hấp Hydroxyethyl Cellulose (HEC) Phƣơng pháp Tính kết quả
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status