Kiểm soát nội bộ chu trình bán hàng – thu tiền tại Công ty cổ phần Dệt Hòa Khánh Đà Nẵng - Pdf 15

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Công Phương
LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, kiểm soát nội bộ đang đóng một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt
động kinh tế của các doanh nghiệp và tổ chức. Kiểm soát nội bộ giúp các nhà quản trị
quản lý hữu hiệu và hiệu quả hơn các nguồn lực kinh tế của công ty mình như: con
người, tài sản, vốn ….,góp phần hạn chế tối đa những rủi ro phát sinh trong quá trình
sản xuất kinh doanh, đồng thời giúp doanh nghiệp xây dựng được một nền tảng quản
lý vững chắc phục vụ cho quá trình mở rộng, và phát triển đi lên của doanh nghiệp.
Kiểm soát được hiểu là tổng hợp những phương sách để nắm lấy và điều hành đối
tượng hay khách thể quản lý và hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp là công cụ
bảo đảm hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả.
Trong đó, công tác kiểm soát nội bộ đối với chu trình bán hàng – thu tiền đặc
biệt có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động của một doanh nghiệp, tổ chức. Vì nó bảo
đảm cho hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp được diễn ra suôn sẻ, đúng theo mục
tiêu kiểm soát mà doanh nghiệp đặt ra. Ngoài ra, KSNB chu trình bán hàng-thu tiền có
ảnh hưởng sâu sắc đến việc đánh giá công tác sử dụng hiệu quả đồng vốn của doanh
nghiệp, cũng như đảm bảo cung cấp kịp thời, chính xác và trung thực các thông tin tài
chính phục vụ cho nhu cầu ra quyết định của nhà quản trị. Do đó, kiểm soát nội bộ
chu trình bán hàng và thu tiền một cách có hiệu quả sẽ thúc đẩy hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp phát triển
Chính vì những lý do nêu trên, đồng thời với mong muốn được tiếp cận thực tế
công tác kiểm soát đối với chu trình bán hàng – thu tiền của một doanh nghiệp cụ thể,
đồng thời ứng dụng những kiến thức đã học trong nhà trường, so sánh với thực tiễn
nắm bắt, mở rộng hiểu biết. Qua thời gian thực tập tại công ty cổ phần Dệt Hòa
Khánh-Đà Nẵng, em đã quyết định chọn đề tài:
“ Kiểm soát nội bộ chu trình bán hàng – thu tiền tại Công ty cổ phần Dệt Hòa
Khánh-Đà Nẵng ”.
Bố cục của đề tài bao gồm ba phần:
Phần I : Cơ sở lý thuyết về KSNB chu trình bán hàng-thu tiền trong doanh
nghiệp.

thống KSNB là hệ thống gồm kế hoạch tổ chức và tất cả những phương pháp, biện
pháp phối hợp được thừa nhận dùng trong kinh doanh để bảo vệ tài sản của tổ chức,
kiểm tra sự chính xác và độ tin cậy của thông tin kế toán, thúc đẩy hiệu quả hoạt động
và khích lệ bám sát chủ trương quản lý đề ra.
Vậy hệ thống KSNB thực chất là sự tích hợp một loạt hoạt động, biện pháp, kế
hoạch, quan điểm, nội quy chính sách và nỗ lực của mọi nhân viên trong doanh nghiệp
để đảm bảo doanh nghiệp đó hoạt động hiệu quả, đạt được mục tiêu đặt ra một cách
hợp lý. Có thể hiểu hệ thống KSNB là hệ thống của tất cả những gì mà một doanh
nghiệp cần làm để có được những điều muốn có và tránh những điều muốn tránh
nhằm đảm bảo sự hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp. Nói tóm lại, hệ thống KSNB
là những phương pháp và chính sách được thiết kế để ngăn chặn gian lận, giảm thiểu
sai sót, khuyến khích hiệu quả hoạt động nhằm đạt được sự tuân thủ các chính sách và
quy trình được thiết lập.
Như vậy, trên phương diện kiểm soát nội bộ chức năng tài chính kế toán thì hệ
thống KSNB sẽ đảm bảo hai chức năng cơ bản là: bảo vệ tài sản của đơn vị, không bị
sử dụng lãng phí, gian lận hoặc không hiệu quả và đảm bảo độ tin cậy, trung thực của
các thông tin báo cáo.
2. Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ
Theo định nghĩa trên thì hệ thống KSNB được thiết lập nhằm mục đích cuối
cùng là kiểm soát các hoạt động trong doanh nghiệp để tránh gian lận, sai sót và để
hoạt động có hiệu quả. Vậy mục tiêu của hệ thống KSNB gồm những nội dung sau:
- Mục tiêu về hiệu quả: Điều này phải đặt vào vị trí đầu tiên. Mục tiêu này có
nghĩa là hệ thống kiểm soát nội bộ phải hướng tới việc tối đa hóa hiệu quả trong hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc sử dụng hợp lý nhất các tài sản và
các nguồn lực khác đồng thời giúp doanh nghiệp tránh khỏi các rủi ro, thua lỗ. Với
mục tiêu này, hệ thống kiểm tra nội bộ phải được xây dựng sao cho toàn bộ nhân viên
của doanh nghiệp sẽ nỗ lực đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp bằng các phương
thức có hiệu quả nhất, hạn chế các chi phí vượt mức ngoài mong muốn và không đặt
quyền lợi khác lên trên lợi ích của doanh nghiệp.
- Mục tiêu đánh giá, dự báo, ngăn ngừa rủi ro cho doanh nghiệp: Một hệ thống

Vì vậy, xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ đem lại cho tổ
chức các lợi ích như: Giảm bớt nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong SXKD (sai sót vô tình gây
thiệt hại, các rủi ro làm chậm kế hoạch. Tăng giá thành, giảm chất lượng sản phẩm ).
Bảo vệ tài sản khỏi bị hư hỏng, mất mát bởi hao hụt, gian lận, lừa gạt, trộm cắp. Đảm
bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính. Đảm bảo mọi thành
viên tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt của tổ chức chức cũng như các quy định
của luật pháp. Đảm bảo tổ chức hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực và
đạt được mục tiêu đặt ra. Bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, cổ đông và gây dựng lòng
tin đối với họ. Do đó, để xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ cần đảm bảo hai yêu cầu
cơ bản là: các yếu tố cấu thành nên hệ thống kiểm soát nội bộ, các nguyên tắc để xây
dựng các thủ tục kiểm soát và tùy vào từng tình hình của doanh nghiệp mà thiết kế các
thủ tục sao cho hệ thống KSNB hoạt động có hiểu quả nhất.
3.1. Các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB trong doanh nghiệp
Để hệ thống KSNB có thể hoạt động một cách có hiệu quả, thực hiện được tất
cả các mục tiêu đã đề ra thì đòi hỏi doanh nghiệp cần phải xây dựng và không ngừng
củng cố hệ thống KSNB của đơn vị mình. Tùy theo mỗi quan điểm về hệ thống KSNB
mà hệ thống KSNB sẽ có những yếu tố cấu thành nên nó. Tuy nhiên, theo chuẩn mực
kiểm toán Việt Nam số 400: “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ” thì hệ thống kiểm
soát nội bộ gồm: môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát. Các
yếu tố này được thiết kế để nhằm thực hiện mục tiêu mà hệ thống KSNB đề ra. Có thể
khái quát các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB trong doanh nghiệp qua sơ đồ sau:
SVTH: Lê Thị Na – Lớp: 32K6.1 Trang 3
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Công Phương
Sơ đồ 1.1- Hệ thống KSNB trong doanh nghiệp
3.2. Nguyên tắc cơ bản để xây dựng các thủ tục kiểm soát
Trong bất kỳ một doanh nghiệp nào, dù quy mô nhỏ hay lớn thì vấn đề kiểm tra
kiểm soát luôn được đặt ra. Có thể nói các thủ tục kiểm soát được xem là phương tiện,
là cơ sở để kiểm tra cũng như đánh giá kết quả và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội
bộ. Các thủ tục kiểm soát được xây dựng phù hợp với từng nghiệp vụ nên rất khác
nhau đối với từng đơn vị và từng nghiệp vụ khác nhau. Tuy nhiên, các thủ tục kiểm

Mục tiêu kiểm soát:
- Tính có thật
- Tính đầy đủ
- Sự phê chuẩn
- Sự đánh giá
- Sự phân loại
- Sự đúng kỳ
- Chuyển sổ và tổng hợp
chính xác
HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
Môi trường kiểm soát

Hệ thống kế toán Các thủ tục kiểm
soát
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Công Phương
toàn bộ nghiệp vụ từ khâu đầu đến khâu cuối. Việc phân công phân nhiệm còn có tác
dụng tạo ra sự chuyên môn hóa và giúp cho việc kiểm tra và thúc đẩy lẫn nhau trong
công việc.
- Nguyên tắc bất kiêm nhiệm: Nguyên tắc này đòi hỏi sự tách biệt về trách
nhiệm và không được kiêm nhiệm đối với một số công việc:
+ Trách nhiệm thực hiện nghiệp vụ và ghi chép sổ sách.
+ Trách nhiệm bảo quản tài sản và ghi chép sổ sách.
+ Trách nhiệm xét duyệt và ghi chép sổ sách.
+ Chức năng kế toán và chức năng tài chính.
+ Chức năng thực hiện và chức năng kiểm soát.
Sự tuân thủ nguyên tắc bất kiêm nhiệm sẽ tạo ra một hệ thống kiểm soát nội bộ
tốt, tránh bớt được gian lận, sai sót và đồng thời có sự kiểm soát lẫn nhau giữa các bộ
phận.
- Nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn: Theo sự uỷ quyền của các nhà quản lý,
các cấp dưới được giao cho quyết định và giải quyết một số công việc trong một phạm

- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn với quyền sở hữu
sản phẩm, hàng hóa cho người mua.
SVTH: Lê Thị Na – Lớp: 32K6.1 Trang 5
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Công Phương
- Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý như người sở hữu sản phẩm,
hàng hóa hoặc quyền kiểm soát sản phẩm, hàng hóa.
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
- Doanh nghiệp sẽ thu hoặc đã thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.
- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
1.2. Chức năng của chu trình bán hàng – thu tiền
Theo định nghĩa trên, thì ta có thể khái quát hai chức năng chính của chu trình
bán hàng và thu tiền đó chính là cung cấp, thực hiện công việc bán sản phẩm cho
khách hàng và chức năng theo dõi thanh toán. Trong đó bao gồm các chức năng cụ thể
sau:
- Tiếp nhận và xử lý đơn đặt hàng, xét duyệt bán chịu.
- Triển khai, thực hiện sản xuất theo đơn đặt hàng.
- Chuẩn bị hàng giao.
- Giao hàng ( lập phiếu xuất kho, xuất kho, vận chuyển)
- Lập hóa đơn.
- Nhận tiền ( nếu khách hàng trả tiền ngay)
- Ghi sổ doanh thu, ghi sổ tiền mặt, ghi sổ khoản phải thu (nếu khách hàng chưa
thanh toán ngay). Và chuẩn bị lập báo cáo.
Sơ đồ 1.2- Các chức năng của chu trình bán hàng- thu tiền
1.3. Mục đích của chu trình bán hàng và thu tiền
Mục đích thiết yếu của chu trình bán hàng- thu tiền là để tạo điều kiện thuận lợi
cho việc trao đổi sản phẩm hay dịch vụ đến khách để thu tiền. Những mục tiêu điển
hình trong mục đích khái quát này là:
- Ghi lại đơn đặt hàng nhanh chóng và chính xác.
- Lập danh sách các khách hàng thích hợp được hưởng ưu đãi tín dụng.
- Giao hàng hoặc cung cấp dịch vụ đúng theo thỏa thuận.

Theo dõi
thanh toán
Ghi sổ
doanh thu
Lập báo
cáo doanh
thu
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Công Phương
2. Hệ thống KSNB chu trình bán hàng và thu tiền trong doanh nghiệp
2.1. Mục tiêu kiểm soát đối với chu trình bán hàng và thu tiền
Bán hàng và thu tiền là một chu trình rất quan trọng đối với mọi doanh nghiệp
hoạt động sản xuất kinh doanh, bởi vì nó là hoạt động thường xuyên, có liên quan đến
tài sản và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, cần có
những mục tiêu kiểm soát đặt ra đối với chu trình bán hàng và thu tiền trong doanh
nghiệp. Những mục tiêu kiểm soát như sau:
- Doanh thu được ghi sổ là phải có thật, dựa trên những minh chứng hợp lý và
có căn cứ (tính có thật)
- Các nghiệp vụ bán hàng trước khi thực hiện phải được phê chuẩn đúng đắn
(sự phê chuẩn)
- Các nghiệp vụ bán hàng phải được ghi sổ đầy đủ (tính đầy đủ)
- Doanh thu ghi sổ phải được tính đúng và ghi sổ chính xác (sự đánh giá)
- Các nghiệp vụ bán hàng phải được phân loại đúng đắn (sự phân loại)
- Doanh thu phải được ghi sổ, phản ánh đúng lúc (đúng kỳ)
- Các khoản phải thu khách hàng phải được tính toán và ghi sổ chính xác, được
phân loại theo từng khách hàng (sự đánh giá và sự phân loại)
- Các nghiệp vụ bán hàng phải được chuyển sổ và được tổng hợp chính xác.
- Khoản phải thu phải được quản lý chặt chẽ sao cho có thể thu hồi được nợ
nhanh chóng và không thất thoát.
2.2. Những rủi ro thường xảy ra trong chu trình bán hàng và thu tiền
* Rủi ro về nhận đơn đặt hàng: Đơn đặt hàng có thể được chấp nhận mà có

ngày thánh giao hàng, địa điểm, phương thức thanh toán. Sau đó, bộ phận bán hàng
phải thống nhất lại, để đem cho giám đốc ký duyệt rồi mới trả lời chấp nhận đơn hàng
của khách hàng. Kiểm soát nội bộ trong giai đoạn này chính là để tránh những trường
hợp xảy ra như: bộ phận bán hàng chấp nhận đơn hàng của khách hàng khi các điều
kiện ghi trên đơn hàng không rõ ràng, chấp nhận đơn đặt hàng khi hàng không có để
đáp ứng, khách hàng đặt hàng là không có thực
Vì vậy, để kiểm soát được những sai sót, gian lận có thể xảy ra, doanh nghiệp
cần thiết lập các thủ tục kiểm soát trong giai đoạn này như là:
- Kiểm tra ĐĐH phải có chữ ký của người có thẩm quyền của đơn vị mua và có
con dấu.
- Trường hợp nhận ĐĐH qua điện thoại, điện tín, email, fax thì cần có những
thủ tục để đảm bảo tính pháp lý về việc đặt hàng của khách hàng.
- Trước khi chấp nhận ĐĐH của khách hàng thì bộ phận có thẩm quyền phải
xem xét số lượng hàng có còn để đáp ứng hay không.
- Chỉ bộ phận có thẩm quyền mới được xét duyệt ĐĐH về số lượng, chủng loại,
quy cách, mẫu mã.
- Đơn đặt hàng trước khi in ra phải báo lại cho khách hàng và phải được người
có thẩm quyền ở doanh nghiệp phê duyệt.
- Khi đã chấp nhận ĐĐH hoặc không chấp nhận với các điều kiện trong ĐĐH
thì cần báo cho khách hàng để tránh tranh chấp.
- Trong trường hợp quan trọng cần ký kết hợp đồng kinh tế.
2.3.2. Xét duyệt bán chịu
Việc mua hàng chưa thanh toán ngay rất phổ biến đối với các doanh nghiệp sản
xuất lớn. Nếu ĐĐH nhận từ một khách hàng uy tín và có quan hệ lâu dài với doanh
nghiệp, thông thường doanh nghiệp sẽ có sẵn tài liệu đánh giá tín dụng của khách
hàng. Nếu ĐĐH là khách hàng mới mà có ý muốn mua chịu, doanh nghiệp sẽ kiểm tra
tình hình tài chính của khách hàng có thể trả nợ được không hoặc tham khảo ý kiến
của tổ chức tín dụng. Việc bán chịu dẫn đến khá nhiều rủi ro cho doanh nghiệp khi
khách hàng không có khả năng thanh toán hoặc cố ý không thanh toán vì vậy nên việc
kiểm tra tín dụng, xét duyệt bán chịu là rất quan trọng. Vì lý do đó nên trong thực tế

có thẩm quyền tự ý xuất hàng, thủ kho và người nhận hàng có thể thông đồng với
nhau, người không có ủy quyền của người mua lại tự ý đến nhận hàng và doanh
nghiệp đã xuất hàng không đúng đối tượng mua Các thủ tục kiểm soát thường áp
dụng trong việc chuyển giao hàng hóa này là:
- Cần quy định phải có đầy đủ chứng từ liên quan đến việc xuất kho hàng như
ĐĐH , lệnh bán hàng, phiếu xuất kho thì thủ kho mới được xuất hàng cho bộ phận gửi
hàng, hoặc người mua.
- Trên phiếu xuất kho phải có đầy đủ chữ ký của người lập, người ký duyệt,
người nhận, thủ kho.
- Để kiểm soát tốt, phiếu xuất kho ít nhất phải lập được 3 liên: 1 liên lưu ở bộ
phận bán hàng, 1 liên thủ kho giữ để ghi thẻ kho, 1 liên chuyển cho kế toán để theo dõi
hàng tồn kho. Nếu khách hàng có yêu cầu thì cần lập thêm 1 liên để giao cho khách
hàng nếu tại đơn vị của khách hàng có yêu cầu đối chiếu giữa Hóa đơn GTGT và
phiếu xuất kho (tại kho người bán ) về số lượng hàng mua.
- Bộ phận có nhiệm vụ gửi hàng phải lập chứng từ vận chuyển hàng và gửi
hàng cho khách hàng.
- Trên chứng từ vận chuyển phải bao gồm các thông tin về quy cách, chủng
loại, số lượng hàng và những thông tin có liên quan.
- Chứng từ vận chuyển cũng là cơ sở để lập hóa đơn.
- Để tránh gian lận và sai sót xảy ra trong khâu gửi hàng, thì doanh nghiệp nên
lập một bộ phận gửi hàng độc lập.
2.3.4. Lập hóa đơn
Việc xuất hóa đơn cho khách hàng thường phải đợi đến khi hàng hóa đã nằm
trong quyền sở hữu của người mua. Nếu không dễ có sai sót và phải sửa chữa. Khi
hàng đã được giao cho khách hàng, thì người có trách nhiệm lập hóa đơn sẽ phải lập
hóa đơn và giao cho khách hàng. Hóa đơn trước khi được giao phải được kiểm tra và
được ký duyệt của người có thẩm quyền. Hóa đơn chính là căn cứ để khách hàng thanh
toán cho doanh nghiệp. Vì vậy, đây chính là chứng từ quan trọng nhất trong chu trình
bán hàng và thu tiền này, nó cung cấp thông tin về tổng giá trị giao dịch và phục vụ
cho việc ghi sổ doanh thu, khoản nợ phải thu của kế toán. Vậy nên cần kiểm soát quá

đơn đặt hàng đã được phê duyệt của khách hàng. Hóa đơn được ghi sổ đã được lập
đúng theo quy trình, quy định đã được đề ra tại doanh nghiệp hay chưa. Nếu các thủ
tục kiểm soát việc lập hóa đơn đã được thực hiện đầy đủ thì kế toán mới căn cứ vào
hóa đơn để tiến hành ghi sổ doanh thu bán hàng.
- Tất cả các nghiệp vụ bán hàng xảy ra đều phải được ghi sổ, việc ghi sổ phải
đúng số lượng, chủng loại của hàng hóa đã bán và hóa đơn bán hàng đã được lập. Để
có thể kiểm soát tốt thì cuối tháng doanh nghiệp phải cho một người kiểm tra độc lập.
Việc đánh số thứ tự các hóa đơn cũng rất giúp ích cho việc kiểm soát ghi sổ doanh thu.
- Cần tách biệt chức năng ghi sổ doanh thu bán hàng với chức năng ghi sổ thu
tiền từ doanh thu bán hàng.
- Việc ghi sổ doanh thu phải được tiến hành theo nguyên tắc cập nhật đảm bảo
ghi sổ đúng theo thời gian phát sinh nhằm ngăn ngừa việc bỏ sót nghiệp vụ. Bên cạnh
đó nếu doanh thu không được ghi đúng kỳ sẽ ảnh hưởng đến việc kê khai doanh số bán
để tính thuế dẫn đến sai phạm. Nếu có sự chênh lệch lớn về thời gian ghi sổ thì có thể
chứa đựng khả năng gian lận trong việc sử dụng tiền bán hàng.
2.3.6. Xử lý và ghi sổ các khoản giảm trừ doanh thu
Mặc dù trước khi giao hàng cho khách hàng doanh nghiệp đều xem xét các điều
kiện về hàng trong ĐĐH. Tuy nhiên, vẫn không tránh khỏi trường hợp khách hàng
không hài lòng với hàng hóa doanh nghiệp giao và sẽ đòi trả lại hoặc đòi giảm giá cho
số hàng đã bán. Các khoản làm giảm trừ doanh thu cũng có thể là các khoản chiết khấu
thương mại mà doanh nghiệp áp dụng cho khách hàng. Để tránh gian lận sai sót trong
trường hợp này như nhân viên bán hàng đã biển thủ khoản chiết khấu thương mại của
khách hàng, nhân viên gian lận biển thủ số tiền giảm giá hàng bán cho khách hàng, kế
toán hoặc bộ phận bán hàng không ghi sổ các nghiệp vụ giảm trừ doanh thu, người
không có thẩm quyền tự ý duyệt các khoản giảm trừ doanh thu, không có hóa đơn
SVTH: Lê Thị Na – Lớp: 32K6.1 Trang 10
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Công Phương
hàng trả lại nhưng kế toán vẫn ghi Vì vậy, kiểm soát nội bộ trong trường hợp này đó
là:
- Doanh nghiệp sẽ quy định chính sách chiết khấu thương mại, giảm giá hàng

ly trách nhiệm giữa nhân viên quản lý tiền mặt và ghi sổ sách; phân công nhiệm vụ
đối chiếu các khoản đã thu tiền với phiếu thu và giấy báo có của ngân hàng.
- Yêu cầu các khoản tiền mặt thu được phải ghi sổ đúng thời hạn để ngăn ngừa
việc biển thủ tiền hoặc sử dụng tiền của doanh nghiệp vào mục đích riêng. Các biện
pháp có thể sử dụng như: đưa ra quy định bắt buộc các nghiệp vụ thu tiền phải được
ghi sổ hằng ngày khi có chứng từ chứng minh và phải cử nhân viên độc lập kiểm soát
việc ghi sổ và thu tiền.
- Cách ly trách nhiệm giữa việc ghi sổ nhật ký thu tiền mặt với việc ghi sổ các
khoản phải thu và sổ quỹ; gởi đều đặn các bảng cân đối thu tiền cho khách hàng; đối
chiếu các bút toán ở sổ quỹ với sổ nhật ký thu tiền; tiến hành cộng tổng trên các sổ
nhật ký thu tiền và sổ quỹ đối chiếu với sổ cái. Việc tổng hợp chính xác sẽ giúp cho
việc kiểm tra đối chiếu diễn ra dễ dàng và nhanh chóng, có thể ngăn ngừa và phát hiện
sai phạm.
* Đối với nghiệp vụ bán chịu: Khi xảy ra nghiệp vụ bán chịu ở doanh nghiệp thì
sẽ hình thành nên khoản phải thu khách hàng, doanh nghiệp theo dõi thanh toán ở
SVTH: Lê Thị Na – Lớp: 32K6.1 Trang 11
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Công Phương
nghiệp vụ này tức là theo dõi và quản lý các khoản phải thu . Các khoản phải thu thể
hiện trên bảng cân đối là tài sản của doanh nghiệp do đó doanh nghiệp phải có biện
pháp quản lý để tránh thất thoát. Việc quản lý và theo dõi các khoản phải thu hình
thành khi phát sinh các khoản phải thu và cho đến khi nó được khách hàng thanh toán.
Vì các khoản phải thu rất quan trọng đối với doanh nghiệp, nên kiểm soát trong việc
quản lý các khoản phải thu này cũng cần được chú ý.
- Việc ghi sổ các khoản phải thu phải căn cứ vào các chứng từ liên quan. Cần
tách riêng công việc liên quan đến ghi chép công nợ với việc tiếp cận các khoản thanh
toán của khách hàng.
- Yêu cầu bộ phận xét duyệt bán chịu, hoặc kế toán công nợ khách hàng định kỳ
phải lập báo cáo nợ phải thu theo từng đối tượng khách hàng, từng nhóm tuổi nợ để
kiểm soát được nợ quá hạn, nợ đến hạn mà khách hàng chưa thanh toán để có biện
pháp đòi nợ.

do khách hàng không trả được nợ, phải căn cứ vào những thông tin xác thực về tình
hình tài chính hiện tại của khách hàng. Sau khi thẩm định cho thấy các khoản này là
khó hoặc không có khả năng thu được do công ty khách hàng bị phá sản hay vì một lý
do bất khả kháng nào đó thì sau đó mới được xóa sổ các khoản nợ phải thu này. Việc
xóa sổ phải được sự phê duyệt của hội đồng thẩm định nợ khó đòi đòi, giám đốc doanh
SVTH: Lê Thị Na – Lớp: 32K6.1 Trang 12
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Công Phương
nghiệp và kế toán trưởng. Tuy nhiên, trên thực tế thì đối với những hợp đồng có giá trị
lớn doanh nghiệp luôn làm hợp đồng kinh tế và trong đó luôn yêu cầu khách hàng thế
chấp tài sản cho khoản nợ của khách hàng với doanh nghiệp.
2.4. Tổ chức thông tin phục vụ cho KSNB chu trình bán hàng-thu tiền
2.4.1. Tổ chức hệ thống chứng từ
Để hệ thống chứng từ trong chu trình bán hàng và thu tiền phản ánh các thông
tin nghiệp vụ kinh tế chính xác nhất thì doanh nghiệp phải tổ chức một hệ thống chứng
từ khoa học, hợp lý. Việc sắp xếp, phân loại, tiếp nhận, xử lý và xây dựng quy trình
luân chuyển chứng từ là rất quan trọng đối với doanh nghiệp và cũng chính là thủ tục
kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp. Thông tin số liệu trên chứng từ kế toán là căn cứ
quan trọng để ghi sổ kế toán. Tính trung thực của thông tin phản ánh trong chứng từ kế
toán quyết định tính trung thực của số liệu kế toán, vì vậy tổ chức tốt việc thu nhận
thông tin về các nghiệp vụ kinh tế - tài chính phát sinh trong chu trình bán hàng thu
tiền phản ánh vào chứng từ kế toán có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng công tác
kế toán và kiểm soát nội bộ trong chu trình này tại doanh nghiệp. Cần phải đảm bảo
rằng các chứng từ lập ra đúng theo qui định của chế độ kế toán và quy định của doanh
nghiêp, các chứng từ phải phản ánh trung thực các thông tin, phải có đầy đủ chữ ký
của người lập chứng từ, người ký duyệt, người có thẩm quyền hoặc người được ủy
quyền. Để đảm bảo việc luân chuyển chứng từ kế toán nhanh và phù hợp, cần xác định
rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp nhằm giảm bớt
những thủ tục, những chứng từ kế toán không cần thiết và tiết kiệm thời gian.Các
chứng từ được sử dụng trong chu trình bán hàng và thu tiền gồm:
- Đơn đặt hàng của khách hàng.

Mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn cho mình một hình thức kế toán thích hợp tuy nhiên
phải tuân thủ theo quy định của bộ tài chính. Mỗi hình thức tuy có khác nhau xong dù
sử dụng hình thức nào thì cũng đòi hỏi sổ sách sử dụng phải đồng bộ. Trình tự ghi sổ
phải được quy định trước để tạo thành một yếu tố kiểm soát có hiệu lực. Và trong chu
trình bán hàng-thu tiền thì cũng phải đảm bảo được những yêu cầu này, có như vậy thì
hệ thống kiểm soát nội bộ trong chu trình mới có tác dụng.
Đối với mỗi hình thức kế toán thì sẽ có những loại sổ khác nhau, ta lấy ví dụ
các loại sổ được sử dụng theo hình thức chứng từ ghi sổ trong chu trình bán hàng-thu
tiền bao gồm các loại sổ sau:
- Chứng từ ghi sổ cho các tài khoản trong chu trình.
- Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ.
- Sổ cái các tài khoản.
- Sổ chi tiết các khoản phải thu khách hàng.
- Sổ quỹ, sổ chi tiết tiền mặt, sổ tiền gửi ngân hàng
- Sổ chi tiết bán hàng.
- Sổ chi tiết thuế GTGT đầu ra.
2.4.3. Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán trong chu trình
Các bảng báo cáo kế toán trong chu trình bán hàng và thu tiền nhằm cung cấp
các thông tin tổng hợp phục vụ cho kiểm soát nội bộ trong chu trình và cho công tác
kế toán, công tác kiểm tra, quản lý. Các báo cáo này thường được lập vào cuối mỗi
tháng, hoặc mỗi quý. Các báo cáo trong chu trình bán hàng và thu tiền gồm:
- Bảng cân đối số phát sinh của các tài khoản trong chu trình.
- Báo cáo số lượng hàng bán ra trong tháng (quý).
- Báo cáo số dư công nợ của khách hàng.
- Báo cáo doanh thu bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ trong tháng (quý).
- Báo cáo thuế GTGT đầu ra.
Tóm lại, hệ thống thông tin kế toán cung cấp các thông tin cho cả bên trong lẫn
bên ngoài của doanh nghiệp. Người sử dụng thông tin dựa vào sự chính xác và trung
thực của các thông tin trên các báo cáo để ra quyết định quản lý, đầu tư. Việc này đòi
hỏi các doanh nghiệp phải có chính sách và thủ tục KSNB thích hợp để duy trì việc

nghiệp Liên hiệp dệt tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.
Để không ngừng phát triển và hoạt động độc lập, Xí nghiệp dệt Hoà Khánh
được tách ra theo quyết định số: 2203/QĐ.UB ngày 12/8/1986 của UBND tỉnh Quảng
Nam - Đà Nẵng với tên gọi mới là Nhà máy Dệt Hoà Khánh. Quy mô hoạt động của
Nhà máy ngày càng phát triển, hơn nữa để phù hợp với Luật và khả năng hoạt động
của doanh nghiệp thì UBND tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng ban hành quyết định số :
277/QĐ.UB ngày 24/01/1994, Nhà máy Dệt Hoà Khánh được đổi tên thành Công ty
Dệt Đà Nẵng.
Căn cứ quyết định số : 9117/QĐ.UB ngày 28/11/2005 của UBND thành phố Đà
Nẵng về việc phê duyệt phương án xét chuyển Công ty Dệt Đà Nẵng thành Công ty cổ
phần Dệt Hoà Khánh - Đà Nẵng, với vốn điều lệ : 3.517.570.000 đ
Công ty đi vào hoạt động chính thức ngày 01/04/2006 với tên gọi Công ty cổ
phần Dệt Hoà Khánh- Đà nẵng. Nhiệm vụ sản xuất của công ty chủ yếu là dệt vải các
loại, kinh doanh các sản phẩm thuộc ngành dệt.
Từ chỗ cơ sở vật chất ban đầu còn nghèo nàn, thiết bị còn thô sơ. Nhờ sự quan
tâm chỉ đạo của lãnh đạo Tỉnh, sau này là thành phố Đà Nẵng, với sự điều hành của
lãnh đạo Công ty cùng với sự đóng góp, nỗ lực phấn đấu của tập thể công nhân lao
động luôn luôn hoàn thành kế hoạch được giao. Đến nay, về cơ bản Công ty cổ phần
Dệt Đà Nẵng đã xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối đầy đủ, dây chuyền thiết
bị công nghệ khép kín đảm bảo cho quá trình sản xuất liên tục. Công ty đã từng bước
tự khẳng định để vươn lên góp phần tăng trưởng về giá trị sản lượng công nghiệp.
2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
Công ty Dệt Hoà Khánh Đà Nẵng là một Công ty cổ phần, nên Đại hội đồng cổ
đông là người chủ sở hữu Công ty, từ đó thông qua bỏ phiếu bầu ra Hội đồng quản trị
(cơ quan quản lý) và ban kiểm soát, từ Hội đồng quản trị bầu ra TGĐ (là người điều
hành công ty). Trong cơ cấu tổ chức quản lý trên, TGĐ là người chịu sự quản lý trực
tiếp của Hội đồng quản trị, điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh với sự trợ
giúp của 2 Phó tổng giám đốc, các Phòng ban có chức năng liên quan. Những nghiên
cứu, đề xuất của các Phòng ban tham mưu cho TGĐ Công ty để ra quyết định truyền
đạt từ trên xuống dưới trên cơ sở nhiệm vụ được giao với việc sản xuất kinh doanh và

quản trị
Tổng GĐ
Ban
kiểm soát
Kế toán
trưởng
Phó TGĐ
kinh doanh
Phó TGĐ
kỹ thuật
Phòng
KT-TK
Phòng
SX-KD
Các XN
sản xuất
XNdệt kim
(màn tuyn)
XN dệt vải
XN
hoàn tất
Ngành
cơ điện
Ngành
kiểm hóa
Phòng
TC-HC
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Công Phương
vòng 30 ngày tính từ ngày hết nhiệm kỳ. Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp
lý, hợp pháp trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Kiến nghị biện pháp bổ

tháng, từng quí, cả năm. Quản lý toàn diện các mặt đối với các thiết bị hiện có, các
công nhân sản xuất thuộc phân xưởng. Nhằm khuyến khích công nhân sản xuất tốt
hơn, phát huy năng lực máy móc hiện có, cùng đề xuất những cải tiến kỹ thuật nâng
cao năng suất chất lượng để hoàn thành tốt mọi kế hoạch đề ra của Công ty. Do có
chức năng và nhiệm vụ khác nhau, nhưng từng phòng ban, phân xưởng đều có sự gắn
kết quan hệ chặt chẽ để có thể hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của cấp trên giao cho. Các
nhân viên trên các phòng ban đều xuống trực tiếp tìm hiểu, tiếp cận sâu vào các nhánh
công việc chuyên môn ở dưới xưởng. Kịp thời cùng giải quyết hay báo cáo xin chỉ thị
của cấp trên để không bị gián đoạn sản xuất.
3. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty
3.1. Những mặt hàng sản xuất và thị trường tiêu thụ chủ yếu của công ty
Sản phẩm của Công ty cổ phần Dệt Hoà Khánh - Đà Nẵng hiện nay chủ yếu
như sau:
- Vải màn tuyn các loại (màn tuyn trơn, màn tuyn hoa, vải màn rèm): Với năng
lực thiết bị hiện có, mỗi tháng sản xuất bình quân trên 40.000 Kg màn, rèm hoa các
loại.
SVTH: Lê Thị Na – Lớp: 32K6.1 Trang 17
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Công Phương
- Vải các loại: Bình quân hằng tháng sản xuất trên 350.000 mét vải nguyên khổ
gồm:
+ Vải kate kẻ caro khổ 1,19m - 1,6m.
+ Vải kẻ, caro cotton 100% khổ 1,6m.
+ Vải Oxford kẻ, karo, nhuộm nền khổ 1,6m.
+ Vải Kalicot trắng, màu khổ 1,6m.
+ Vải Kaki màu khổ 1,58m.
+ Vải Satin khổ 0,8m - 1,56m.
Hiện nay, tình hình thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty chủ yếu là : Sản
phẩm màn, rèm. Vải sản xuất ra chủ yếu là tiêu thụ trong nước (bán cho các công ty
may xuất khẩu và nội địa). Về thị phần của thị trường tiêu thụ tại Miền Bắc chiếm
25,6%, Miền Nam chiếm 56,1%, Miền Trung chiếm 18,3%. Công ty tiến hành sản

Trực tiếp sản xuất : 356 người
Gián tiếp , phục vụ : 62 người
Trình độ nghiệp vụ chuyên môn:
+Thợ bậc 1 đến bậc 3 : 197 người (kể cả học viên và lao động thời vụ )
+ Thợ bậc 4 đến bậc 7: 180 người
+ Đại học : 32 người
SVTH: Lê Thị Na – Lớp: 32K6.1 Trang 18
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Công Phương
+ Trung cấp : 9 người
3.3. Tổ chức bộ máy sản xuất của công ty
Công ty Cổ phần Dệt Hoà Khánh - Đà Nẵng là công ty chuyên sản xuất các mặt
hàng thuộc ngành công nghiệp dệt, có quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu chế
biến liên tục kế tiếp nhau theo một trình tự nhất định. Sản phẩm của giai đoạn trước là
đối tượng chế biến của giai đoạn sau. Việc sản xuất sản phẩm trải qua 3 giai đoạn: giai
đoạn mắc hồ, giai đoạn dệt, giai đoạn hoàn tất. Vì vậy, việc tổ chức sản xuất chia
thành các xí nghiệp có nhiệm vụ sản xuất khác nhau, đứng đầu mỗi xí nghiệp là các
giám đốc xí nghiệp có trách nhiệm quản lý, điều hành xí nghiệp sản xuất và hoạt động
tốt hoàn thành nhiệm vụ được giao. Sơ đồ tổ chức bộ máy sản xuất ở công ty như sau:
Sơ đồ 2.2: Tổ chức bộ máy sản xuất tại công ty

4. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán tại công ty
4.1. Tổ chức bộ máy kế toán
- Đặc điểm: Công ty tổ chức kế toán theo mô hình kế toán tập trung, theo mô
hình này toàn công ty chỉ tổ chức một phòng kế toán tập trung ở văn phòng của công
ty, chịu sự quản lý trực tiếp của Ban giám đốc. Phòng kế toán hiện có 7 người, thực
hiện toàn bộ công tác kế toán của công ty, chịu trách nhiệm thu nhận, xử lý và hệ
thống hóa toàn bộ thông tin kế toán phục vụ cho quá trình quản lý, điều hành kinh tế
tài chính cho công ty. Hình thức này có ưu điểm đảm bảo cho sự lãnh đạo thống nhất
của kế toán trưởng và sự chỉ đạo kịp thời của Ban giám đốc công ty. Tuy nhiên, khối
lượng công việc sẽ dồn lại nhiều vào cuối tháng, quý, năm cho phòng kế toán.

sấy
Máy
comfit
(Cán
láng)
Hoàn tất
Nhập kho
thành phẩm
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Công Phương
Sơ đồ 2.3: Sơ đồ bộ máy kế toán tại công ty
: quan hệ trực tuyến
: quan hệ chức năng
+ Kế toán trưởng: Là người đứng đầu phòng kế toán, quản lý và điều hành
trực tiếp các kế toán viên, lãnh đạo bộ máy kế toán của công ty và chịu trách nhiệm
trước Nhà nước và công ty về mặt quản lý kế toán, tài chính. Kế toán trưởng phụ trách
công tác kế toán chung, tổ chức khoa học và hợp lý công tác hạch toán kế toán tại
Công ty, xác định tình hình thực tế kế toán cho đơn vị, kiểm tra báo cáo kế toán tham
mưu cho lãnh đạo về mặt kế toán tài chính. Ngoài ra, kế toán trưởng còn phụ trách phó
ban đầu tư và xây dựng cơ bản, nghiên cứu và tham mưu lập các dự án khả thi đầu tư
đổi mới thiết bị, công nghệ làm các thủ tục liên quan đến các công trình xây dựng
cơ bản .
+ Phó phòng kế toán kiêm kế toán tổng hợp: Chịu trách nhiệm hướng dẫn
kiểm tra chi tiết công tác kế toán, lập các sổ kế toán tổng hợp, tổng hợp chi phí tính giá
thành sản phẩm, lập các báo cáo và quyết toán tài chính hằng quý, hằng năm, quyết
toán XDCB theo đúng quy định của Nhà nước. Tham mưu cho kế toán trưởng về các
lĩnh vực kế toán tài chính, hạch toán kế toán, làm các thủ tục liên quan đến tín dụng
Ngân hàng. Đồng thời phó phòng kế toán còn quản lý, giải quyết các công việc của
phòng, thay mặt kế toán trưởng khi kế toán trưởng đi vắng.
+ Kế toán thanh toán: Có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của bộ
chứng từ trước khi thanh toán, theo dõi hạch toán vốn bằng tiền như tiền mặt, tiền gửi

người bán của toàn Công ty từ lúc phát sinh cho đến khi thanh toán xong. Theo dõi sự
biến động của các khoản nợ phải thu, phải trả. Lập báo cáo tình hình công nợ khách
hàng hằng tháng, hằng quý để có kế hoạch trả nợ và thu hồi nợ.
+ Kế toán nguyên vật liệu kiêm tạm ứng: Theo dõi tình hình nhập, xuất, tồn
kho nguyên nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế, công cụ lao động, ghi chép chi tiết và
tổng hợp. Theo dõi, ghi chép chi tiết và tổng hợp các khoản tạm ứng cho cán bộ công
nhân viên trong công ty. Cuối tháng chuyển cho kế toán tổng hợp.
+ Kế toán tài sản cố định: Có nhiệm vụ theo dõi tình hình tăng giảm của tài
sản cố định. Xác định nguyên nhân tăng giảm, tính toán và trích lập khấu hao cho tài
sản cố định theo đúng quy định của Bộ tài chính. Lập bảng phân bổ chi phí khấu hao
hằng thánh, quý, năm chuyển cho kế toán tổng hợp để tổng hợp lập báo cáo tài chính.
+ Thủ quỹ: Có nhiệm vụ thu, chi, bảo quản tiền mặt trong quỹ, ghi chép sổ
quỹ, lập báo cáo thu chi tiền hằng ngày.
4.2. Chế độ kế toán áp dụng
Công ty áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số
15/2006//QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính, các chuẩn mực kế
toán Việt Nam và các thông tư hướng dẫn thực hiện kèm theo, các văn bản sửa đổi, bổ
sung.
4.3. Hình thức kế toán áp dụng tại công ty
- Để phù hợp với đặc điểm kinh doanh, phù hợp với qui trình công nghệ sản
xuất sản phẩm, Công ty CP Dệt Hoà Khánh - Đà Nẵng đã áp dụng hình thức: Chứng từ
ghi sổ và mẫu biểu liên quan khác theo quyết định số 15/QĐ – BTC ngày 20/3/2006
của Bộ tài chính.
- Sổ sách kế toán của công ty sử dụng trong việc hạch toán là các bảng kê
chứng từ kế toán cùng loại, chứng từ ghi sổ cho từng tài khoản, sổ chi tiết (vật tư,
nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, vải mộc, thành phẩm), sổ chi tiết công nợ, sổ đăng
ký chứng từ ghi sổ, bảng cân đối xuất nhập tồn, sổ quỹ, sổ cái
- Công ty sử dụng tất cả các tài khoản theo hệ thống tài khoản kế toán theo QĐ
15/QĐ-BTC. Ngoài ra, để đảm bảo cho công tác quản lý và kiểm soát công ty còn chi
tiết các tài khoản như nguyên liệu chính, phụ, nhiên liệu, chi tiết các tài khoản chi phí

động. Khi thực tập tại công ty cổ phần Dệt Hòa Khánh em nhận thấy rằng ông Nguyễn
Chánh – chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc công ty là người dày dặn kinh nghiệm
quản lý và luôn quan tâm đến kiểm soát, luôn hướng cho cấp dưới mình biết được tầm
quan trọng của kiểm soát và đặt chúng lên hàng đầu. Tại phòng kế toán thì kế toán
trưởng là người giám sát điều hành mọi hoạt động. Hiện nay kế toán trưởng của công
ty là Ông Đỗ Tánh, ông là một con người khá nghiêm túc trong công việc tuy nhiên
cũng khá gần gũi với cấp dưới. Ông luôn đòi hỏi nhân viên kế toán của mình làm việc
chăm chỉ, cẩn thận, làm việc tuân theo chuẩn mực, theo quy định…phải kiểm tra toàn
bộ chứng từ cẩn thận trước khi hạch toán. Ông luôn hướng cho mọi nhân viên thấy
được tầm quan trọng của kiểm soát, kiểm tra kế toán, vì thế ông đã xây dựng được hệ
thống kiểm soát chặt chẽ tại phòng kế toán.
SVTH: Lê Thị Na – Lớp: 32K6.1 Trang 22
BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Chứng từ kế toán
Sổ quỹ Sổ, thẻ kế
toán chi tiết
Bảng kê chứng
từ kế toán cùng
loại
CHỨNG TỪ GHI SỔ
Sổ đăng ký
chứng từ ghi sổ
Sổ Cái
Bảng cân đối số
phát sinh
Bảng tổng
hợp chi
tiết
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Công Phương
1.1.2. Cơ cấu tổ chức quản lý bán hàng-thu tiền tại công ty

nhiệm giữa bộ phận kế toán với các bộ phận khác và trong nội bộ phòng kế toán. Đó
chính là sự phân chia nhiệm vụ, quyền hạn độc lập giữa các kế toán viên và thủ quỹ.
Đối với việc bán hàng thu tiền ngay thì liên quan đến kế toán tiêu thụ, kế toán thanh
toán, thủ quỹ. Đối với việc bán chịu thì liên quan đến kế toán tiêu thụ, kế toán công
nợ, kế toán thanh toán. Ở công ty Dệt Hòa Khánh thì kế toán tiêu thụ và công nợ là do
một người đảm trách, do vậy việc này cũng có phần làm giảm đi hiệu quả của hệ thống
kiểm soát.
- Bộ phận quản lý kho hàng (thủ kho và các nhân viên): Bộ phận quản lý kho có
nhiệm vụ quản lý, theo dõi số lượng chủng loại hàng hoá trong kho. Hằng ngày bộ
phận này phải báo cáo vế số lượng chủng loại hàng hoá còn trong kho, số lượng chủng
loại hàng đã xuất bán và số lượng, chủng loại thành phẩm mà xí nghiệp hoàn tất nhập
vào kho cho bộ phận kinh doanh để có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng,
kiểm soát được số lượng, chủng loại hàng bán ra cũng như hàng còn trong kho.
1.1.3. Chính sách nhân sự
Nhân tố con người có ý nghĩa rất lớn trong việc tăng cường hiệu quả của kiểm
soát, vì vậy công ty luôn quan tâm đến vấn đề này. Chính sách tuyển dụng của công ty
luôn chú trọng những người trẻ tuổi có chuyên môn, tiền lương của nhân viên thường
SVTH: Lê Thị Na – Lớp: 32K6.1 Trang 23
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Công Phương
xuyên được tăng lên, tiền thưởng của nhân viên tuỳ thuộc vào kết quả mà nhân viên đó
đạt được, hằng năm công ty tổ chức đào tạo cho nhân viên , bồi dưỡng những nhân
viên có tài. Bên cạnh đó công ty cũng ban hành văn bản kỷ luật đối với những trường
hợp vi phạm điều lệ của công ty, trường hợp sai sót, gian lận ảnh hưởng hoạt động của
công ty. Ban lãnh đạo công ty luôn ý thức được rằng thực hiện chính sách nhân sự tốt
chính là yếu tố quan trọng để có một môi trường kiểm soát mạnh.
1.1.4. Công tác lập kế hoạch tiêu thụ
Kế hoạch tiêu thụ của công ty do phòng sản xuất kinh doanh lập, kế hoach tiêu
thụ và kết quả kinh doanh được đặt ra hằng năm về số lượng sản phẩm được tiêu thụ,
doanh thu, chi phí, lợi nhuận. Công tác lập kế hoạch tiêu thụ được lập dựa trên các yếu
tố:

mét
7.208.414 7.550.414
- Vải màn tuyn các loại
kg
1.440.000 1.540.000
II Sản lượng tiêu thụ
SVTH: Lê Thị Na – Lớp: 32K6.1 Trang 24
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Công Phương
- Vải dệt các loại
mét
7.208.414 7.550.414
- Vải màn tuyn các loại
kg
1.440.000 1.540.000
III Doanh thu SX chính
Tr.đ
69.209,9 73.827,3
IV Chi phí
Tr.đ
65.183,8 67.606,5
1 Giá vốn
Tr.đ
47.939,1 50.938,5
2 Chi phí tài chính ( Lãi vay )
Tr.đ
12.229,2 11.471,8
3 Chi phí bán hàng
Tr.đ
2.090,0 2.164,4
4 Chi phí quản lý

74,4 74,4
IV Lợi nhuận từ KDTM
Tr.đ
523.8 297.3
C TỔNG LỢI NHUẬN SXKD
Tr.đ
4.549,9 6.518,1
- Kèm theo kế hoạch tiêu thụ là kế hoạch sản xuất, định mức chi phí, giá thành.
- Nơi nhận:
+ Ban giám đốc.
+ Phòng kế toán- thống kê.
+ Phòng tổ chức-hành chính.
+ Các xí nghiệp sản xuất.
Đà Nẵng ngày 25/01/2010 Đà Nẵng ngày 28/01/2010
Người lập Trưởng phòng SX-KD Tổng Giám đốc
( đã ký, họ tên) (đã ký, họ tên)
(đã ký, họ tên, đóng dấu)

1.2. Các chính sách liên quan đến hoạt động bán hàng-thu tiền
1.2.1. Chính sách bán hàng
Công ty bán hàng theo hợp đồng kết hợp với bán lẻ thông qua các cửa hàng đại
lý giới thiệu sản phẩm, ngoài ra công ty cũng bán lẻ trực tiếp tại công ty nếu khách
hàng có nhu cầu đến mua. Bán theo hợp đồng thì tuỳ theo từng đối tượng khách hàng
mà có thể thanh toán 25%-50% tiền hàng trước khi nhận hàng, khi giao nhận hàng
xong thì phải thanh toán hết số tiền còn lại theo giá trị hoá đơn. Đối với khách hàng
truyền thống, uy tín thì căn cứ theo hợp đồng nguyên tắc khi giao nhận hàng đợt I cho
gối đầu và trước khi giao nhận hàng đợt II phải thanh toán dứt điểm tiền giao hàng đợt
SVTH: Lê Thị Na – Lớp: 32K6.1 Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status