LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập tại khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh
trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội và thời gian thực tập tại Công ty TNHH
đầu tư phát triển Vân Long, tôi đã được học tập và trang bị rất nhiều kiến thức.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất đến tập thể và cá nhân đã giúp đỡ
tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm
khoa và các thầy, cô giáo trong khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh đã truyền
đạt cho tôi những kiến thức quý báu nhất trong suốt thời gian tôi học tập và rèn
luyện tại trường.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến cô giáo - Th.S Bùi Thị Phúc đã
hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực tập tốt
nghiệp.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ nhân viên
Công ty TNHH đầu tư phát triển Vân Long đã nhiệt tình giúp đỡ, hướng dẫn
tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Do thời gian và trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế nên chắc chắn
khóa luận không thể tránh khỏi những sai sót. Kính mong được sự góp ý quý
báu của thầy cô và các cô chú, anh chị trong Công ty và các bạn để bài luận văn
của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 27 tháng 05 năm 2011
Sinh viên
Lê Thị Thủy
i
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Mục tiêu kiểm soát nội bộ chu trình bán hàng - thu tiền Error:
Reference source not found
Bảng 3.1: Kết quả sản xuất kinh doanh 3 năm 2008 – 2010 Error: Reference
source not found
Mẫu 3.7: Sổ theo dõi công nợ khách hàng Error: Reference source not found
Mẫu 3.8: Bảng tổng hợp công nợ khách hàng Error: Reference source not found
Mẫu 3.9: Biên bản đối chiếu công nợ Error: Reference source not found
Mẫu 3.10: Yêu cầu mua hàng Error: Reference source not found
Mẫu 3.11: Bảng theo dõi hóa đơn hàng đổi bù Error: Reference source not
found
Mẫu 3.12: Bảng tổng hợp dư nợ cuối kỳ của khách hàng Error: Reference
source not found
Mẫu 3.13: Giấy đề nghị thanh toán Error: Reference source not found
iv
DANH MỤC CÁC KÝ TỰ VIẾT TẮT
BCTC : Báo cáo tài chính
BHXH : Bảo hiểm xã hội
CSTD : Chính sách tín dụng
ĐT : Đầu tư
GTGT : Giá trị gia tăng
HĐKT : Hợp đồng kinh tế
KCN : Khu công nghiệp
L : Lưu
NPP : Nhà phân phối
NVL : Nguyên vật liệu
PXK : Phiếu xuất kho
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TK : Tài khoản
TM : Thương mại
TNDN : Thu nhập doanh nghiệp
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
v
Phần I
MỞ ĐẦU
tra, giám sát được quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Đặc biệt dựa vào
kiểm soát nội bộ, các nhà quản trị có thể quản lý hữu hiệu và hiệu quả hơn các
nguồn lực kinh tế góp phần hạn chế tối đa những rủi ro phát sinh trong quá
trình sản xuất kinh doanh, đồng thời giúp doanh nghiệp xây dựng được một
nền tảng quản lý vững chắc phục vụ cho quá trình mở rộng, và phát triển đi lên
của doanh nghiệp.
Nằm trong hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm soát chu trình bán hàng - thu
tiền là nội dung quan trọng. Bởi hoạt động bán hàng - thu tiền ảnh hưởng trực
tiếp đến sự tồn vong của doanh nghiệp. Đây là quá trình tạo ra thu nhập, tạo
điều kiện cho hoạt động tái sản xuất kinh doanh và thu về lợi nhuận. Tuy nhiên,
chu trình này cũng là hoạt động xảy ra thường xuyên và dễ xảy ra gian lận, sai
sót. Việc xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu đối với chu trình bán
hàng sẽ bảo đảm thu được tiền từ khách hàng, cung cấp cho khách hàng sản
phẩm có chất lượng tốt từ đó nâng cao uy tín, hình ảnh và nâng cao sức cạnh
tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Công ty TNHH đầu tư phát triển Vân Long cũng nằm trong khuôn khổ
đó. Bởi sức ép của nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh khốc liệt của các doanh
nghiệp trong và ngoài nước, Vân Long đã gặp không ít khó khăn. Nhưng bằng
những chính sách linh hoạt hợp lý, đặc biệt với sự đẩy mạnh hoạt động của hệ
thống kiểm soát nội bộ chu trình bán hàng - thu tiền, Vân Long vẫn khẳng định
được uy tín cũng như chỗ đứng của mình trên thị trường.
Nhận biết được vai trò quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ chu
trình bán hàng - thu tiền như đã nói trên đây, và qua thời gian thực tập tại công
ty TNHH đầu tư và phát triển Vân Long, chúng tôi lựa chọn đề tài:
“Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ chu trình bán hàng - thu tiền tại
công ty TNHH đầu tư phát triển Vân Long”.
2
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng xây dựng và hoạt động hệ thống kiểm soát nội bộ
1.4.2.3. Phạm vi thời gian
- Số liệu được sử dụng từ năm 2007 đến năm 2010 của công ty TNHH
đầu tư và phát triển Vân Long
- Đề tài được thực hiện từ ngày 27/12/2010 đến ngày 27/05/2011
4
Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm soát nội
bộ chu trình bán hàng - thu tiền
2.1.1. Những vấn đề cơ bản về hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp
2.1.1.1. Khái niệm và mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ
a. Khái niệm về kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ
Hiện nay kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ được hiểu với
nhiều quan điểm khác nhau, sau đây là một số quan điểm được biết đến một
cách phổ biến:
• Kiểm soát nội bộ theo quan điểm của COSO
Theo định nghĩa của COSO (Commettee of Sponsoring Organization):
Kiểm soát nội bộ là một quy trình chịu ảnh hưởng bởi hội đồng quản trị, các
nhà quản lý và các nhân viên khác của một tổ chức, được thiết kế để cung cấp
một sự bảo đảm hợp lý trong việc tổ chức thực hiện các mục tiêu sau:
- Hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động.
- Tính chất đáng tin cậy của BCTC.
- Sự tuân thủ các luật lệ và qui định hiện hành.
Tuy nhiên theo Chuẩn mực thực hành của Viện Kiểm toán viên nội bộ
quốc tế (IIA), các mục tiêu kiểm soát nội bộ được diễn tả theo một cách khác:
“Các mục tiêu hàng đầu của kiểm soát nội bộ nhằm:
- Độ tin cậy và tính trung thực của thông tin.
- Tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, luật pháp và qui định.
- Bảo vệ tài sản.
- Sử dụng hiệu quả và kinh tế các nguồn lực.
thông tin cung cấp phải đảm bảo tính kịp thời về thời gian, tính chính xác và độ
tin cậy về thực trạng hoạt động và phản ánh đầy đủ khách quan các nội dung
kinh tế chủ yếu của mọi hoạt động.
6
• Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý:
Hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế trong doanh nghiệp phải đảm bảo
các quyết định và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp phải được tuân thủ đúng mức. Cụ thể hệ thống kiểm soát nội bộ cần:
- Duy trì kiểm tra việc tuân thủ chính sách có liên quan tới các hoạt
động của doanh nghiệp.
- Ngăn chặn phát hiện kịp thời, xử lý các sai phạm và gian lận.
- Ghi chép kế toán đầy đủ chính xác lập BCTC trung thực khách quan.
• Bảo đảm hiệu quả của hoạt động và năng lực quản lý:
Các quá trình kiểm soát trong một đơn vị được thiết kế nhằm ngăn ngừa
sự lặp lại không cần thiết các tác nghiệp, gây ra sự lãng phí trong hoạt động và
sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực.
Như vậy, bốn mục tiêu nói trên của hệ thống kiểm soát nội bộ tuy nằm
trong một thể thống nhất tuy nhiên đôi khi cũng có mâu thuẫn với nhau như
giữa tính hiệu quả của hoạt động với mục đích bảo vệ tài sản, sổ sách hoặc
cung cấp thông tin đầy đủ và tin cậy. Cụ thể như nếu chúng ta muốn tăng
cường việc bảo vệ tài sản thì sẽ làm tăng thêm chi phí như vậy sẽ không đảm
bảo được mục tiêu nâng cao tính hiệu quả của hoạt động. Vậy nhiệm vụ của
các nhà quản lý là xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và kết hợp
hài hòa bốn mục tiêu nói trên.
2.1.1.2. Sự cần thiết phải xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ và các nguyên
tắc xây dựng
a. Sự cần thiết xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ
Mọi doanh nghiệp hoạt động đều có chung một mục tiêu là lợi nhuận và sự
phát triển ngày càng lớn mạnh về qui mô. Các nhà quản trị trong doanh nghiệp
mong muốn doanh nghiệp mình luôn đạt được lợi nhuận tối ưu, tất yếu mọi bộ
có thề phân quyền, ủy nhiệm, giao việc cho cấp dưới một cách chính xác, khoa
học chứ không phải chỉ dựa trên sự tin tưởng cảm tính? Hệ thống kiểm soát nội
bộ được đặt ra để giải quyết những vấn đề nêu trên, và đảm bảo cho doanh
nghiệp, tổ chức hoạt động ổn định, cân bằng. (Phạm Anh Tuấn, 2009)
Trong cơ chế thị trường hiện nay, nâng cao sức cạnh tranh và sử dụng
tiết kiệm hiệu quả các nguồn lực đó chính là mục tiêu của bất kỳ một doanh
nghiệp nào dù quy mô có ra sao. Những đòi hỏi đó chỉ có thể được đáp ứng,
8
được khắc phục nhờ hệ thống kiểm soát nội bộ khoa học và hữu hiệu. Từ đó
việc thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ đang trở thành nhu cầu cấp thiết
trong quản lý tại mỗi doanh nghiệp.
b. Các nguyên tắc xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ
Việc xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ phải dựa trên các nguyên tắc sau:
- Các thủ tục kiểm soát được thiết lập phải được dựa trên điều kiện thực
tế của mỗi đơn vị hoạt động. Chỉ có dựa trên thực tế của đơn vị thì các thủ tục
kiểm soát mới có thể phát huy tối đa tác dụng kiểm soát của nó.
- Việc thiết lập các thủ tục kiểm soát phải tuân thủ các nguyên tắc phổ
biến như nguyên tắc phân công phân nhiệm, nguyên tắc bất kiêm nhiệm và
nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn.
- Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm mục đích nâng cao hiệu quả
hoạt động cho đơn vị, vì thế giữa chi phí để duy trì hệ thống kiểm soát nội bộ
phải nhỏ hơn lợi ích do hệ thống kiểm soát nội bộ mang lại. (kiemtoan.com)
2.1.1.3. Chức năng, nhiệm vụ của hệ thống kiểm soát nội bộ
Hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp có các chức năng và nhiệm vụ
sau:
- Giúp cho việc quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp một cách có
hiệu quả.
- Bảo đảm rằng các quyết định và chế độ quản lý được thực hiện đúng
thể thức và giám sát mức hiệu quả của chế độ và quyết định đó.
- Đảm bảo việc chấp hành chính sách kinh doanh như: phát hiện kịp thời
Chứng từ kế
toán
Sổ sách kế
toán
Báo cáo kế
toán
Môi trường
kiểm soát
Hệ thống kế
toán
Thủ tục kiểm
soát
Bộ phận kiểm
toán nội bộ
HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
Đặc thù quản lý
Cơ cấu tổ chức
Chính sách
nhân sự
Công tác kế
hoạch
Các nhân tố
bên ngoài
Uỷ ban kiểm
soát
10
(Phạm Tuấn Anh, 2009)
2.1.1.5. Hạn chế tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ
a. Hạn chế tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ
Trên thực tế, một hệ thống kiểm soát nội bộ dù được thiết kế hoàn hảo đến
khi có sai sót xảy ra thì các bộ phận đùn đẩy trách nhiệm cho nhau.
- Không yên tâm về tài chính công ty. Có lẽ đây là dấu hiệu đáng ngại
nhất cho thấy hệ thống kiểm soát nội bộ đang có trục trặc. Phải xem xét ngay
lập tức hệ thống kiểm soát nội bộ, nếu nhà quản lý cảm thấy không an tâm
trong thu chi tài chính của công ty. Thậm chí có khi nhà quản lý không biết
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lãi hay lỗ, cho dù trên giấy tờ hợp
đồng mua bán, văn bản tài chính vẫn thấy lợi nhuận.
2.1.2. Khái quát về chu trình bán hàng - thu tiền
2.1.2.1. Mục tiêu của chu trình bán hàng - thu tiền
Bán hàng - thu tiền là một trong các chu trình chủ yếu trong hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá trình tái sản xuất, hoạt động tiêu thụ
nhằm thực hiện giá trị của sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ. Tức là để chuyển
hóa vốn của doanh nghiệp từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ. Cho nên,
bán hàng - thu tiền là chu trình quan trọng để đạt được mục tiêu cuối cùng của
doanh nghiệp là lợi nhuận. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu cuối cùng đó, chu
trình này cũng có những mục tiêu riêng của nó.
Đối với bán hàng (tiêu) mục tiêu chủ yếu là: Bán đúng, bán đủ, bán kịp
thời. Bán đúng nghĩa là: chuyển giao đúng khách hàng; bán đúng giá và đúng
chủng loại, phẩm chất hàng hóa, dịch vụ. Bán đủ nghĩa là bán đủ số lượng hàng
hóa, dịch vụ đã thỏa thuận. Bán kịp thời là chuyển giao hàng hóa, thực hiện
dịch vụ đúng thời hạn đã cam kết.
Đối với thu tiền (thụ) mục tiêu chủ yếu là: Thu đúng, thu đủ, thu kịp
thời. Thu đúng nghĩa là xác định đúng khoản phải thu và thu đúng đối tượng
khách hàng; thu đúng hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng. Thu đủ là
thu đủ số tiền cần phải thu. Thu kịp thời là thu đúng hạn, không để nợ quá hạn.
12
Mục tiêu chủ yếu của việc ghi nhận và báo cáo là đúng, đủ, kịp thời,
ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu.
2.1.2.2. Đặc điểm của chu trình bán hàng - thu tiền
Bán hàng - thu tiền là quá trình chuyển quyền sở hữu của hàng hoá qua
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
- Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch
bán hàng.
- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
* Trường hợp khác doanh thu được ghi nhận theo nguyên tắc sau:
Doanh thu tiêu thụ được xác định tùy thuộc vào phương pháp tiêu thụ,
đối với những phương pháp tiêu thụ khác nhau thì cách xác định doanh thu tiêu
thụ cũng khác nhau. Có thể phân thành các phương pháp xác định doanh thu
như sau:
- Đối với doanh nghiệp áp dụng phương thức bán hàng trả một lần: doanh
thu bán hàng là tổng số lượng hàng hoá đã tiêu thụ nhân với giá bán chưa thuế
nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ hoặc đơn giá đã
có thuế nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp.
- Đối với doanh nghiệp áp dụng phương thức bán hàng trả góp: doanh thu
bán hàng được xác định theo giá bán trả một lần, không bao gồm lãi trả chậm.
Số lãi trả chậm được tính vào doanh thu hoạt động tài chính.
- Đối với doanh nghiệp áp dụng phương thức bán hàng đại lý: doanh thu
bán hàng được xác định bằng tổng của đơn giá doanh nghiệp giao cho đại lý
nhân với số lượng sản phẩm đại lý đã bán được.
2.1.2.3. Chức năng cơ bản của chu trình bán hàng - thu tiền
Trong chu trình bán hàng - thu tiền ở mỗi doanh nghiệp, mỗi bước công
việc bao gồm nhiều nghiệp vụ với các chứng từ minh chứng tương ứng. Việc
kiểm soát từng khâu, từng nghiệp vụ nhằm ngăn ngừa và phát hiện các sai
phạm, rủi ro xảy ra là việc hết sức quan trọng. Nếu đơn vị không xây dựng
được hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu đối với nghiệp vụ bán hàng và nợ
phải thu khách hàng thì việc không thu hồi được các khoản nợ của khách hàng
là điều khó tránh khỏi. Trong nghiệp vụ bán hàng, đối với những phương thức
giao dịch khác nhau, phương thức thanh toán khác nhau cũng như các điều kiện
14
trong hợp đồng khác nhau thì quy trình xử lý công việc cũng khác nhau. Song
15
phải tổ chức công việc vận chuyển hàng đến địa điểm giao cho khách hàng. Khi
chuyển giao hàng cho người mua phải thực hiện các thủ tục giao nhận. Đối với
trường hợp cung cấp dịch vụ (sửa chữa, xây lắp…) thì công việc này chính là thực
hiện cung cấp dịch vụ cho người mua. Các chứng từ sổ sách ghi nhận và theo dõi
việc chuyển giao hàng hóa, cung cấp dịch vụ thường là chứng từ xuất kho, chứng
từ vận chuyển, sổ theo dõi xuất kho, theo dõi vận chuyển…
• Gửi hóa đơn tính tiền cho người mua và ghi rõ nghiệp vụ bán hàng
Khi thực hiện giao nhận hàng hóa hay cung cấp dịch vụ hoàn thành, bên
bán lập và chuyển hóa đơn tính tiền cho người mua. Hóa đơn bán hàng là
chứng từ chỉ rõ mẫu mã, số lượng hàng hóa, giá cả hàng hóa gồm cả giá gốc
hàng hóa, chi phí vận chuyển, bảo hiểm và các yếu tố khác theo luật thuế
GTGT. Hóa đơn được lập làm 3 liên: liên 2 được gửi cho khách hàng, liên 1 và
liên 2 sau được lưu lại ghi sổ và theo dõi thu tiền. Như vậy hóa đơn vừa là
phương thức chỉ rõ cho khách hàng về số tiền và thời hạn thanh toán của từng
thương vụ, vừa là căn cứ ghi sổ Nhật ký bán hàng và theo dõi các khoản phải thu.
Nhật ký bán hàng là số ghi cập nhật các thương vụ, nhật ký ghi rõ doanh thu
gộp của nhiều mặt hàng và phân loại theo các định khoản thích hợp.
• Xử lý và ghi sổ các khoản thu tiền và khoản phải thu khách hàng
Sau khi thực hiện các chức năng về bán hàng cùng ghi sổ kế toán các
nghiệp vụ này cần thực hiện tiếp các chức năng thu tiền. Kể cả những trường
hợp thanh toán phức tạp cũng cần được xử lý và phê chuẩn như khấu trừ hay
chuyển tiền thu để trả cho một bên khác. Mọi trường hợp thu tiền thông thường
khác (thu tiền trực tiếp hay qua ngân hàng) hoặc thu tiền không thông thường
đều phải đảm bảo việc ghi sổ kịp thời, đầy đủ. Cần đặc biệt chú ý khả năng dấu
giếm hoặc bỏ sót các khoản thu tiền, đặc biệt là đối với thu tiền mặt trực tiếp.
• Xử lý và ghi sổ các khoản giảm trừ doanh thu
Các trường hợp phát sinh về chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán
sau khi đã viết hóa đơn và hàng đã bán bị trả lại vì lỗi thuộc về bên bán đều
phải được xử lý và ghi sổ đầy đủ, đúng đắn và kịp thời.
hàng, hình thành doanh thu bán hàng và tiết kiệm chi phí bán hàng để tăng lợi
nhuận. Hiện nay, các doanh nghiệp thường sử dụng các phương thức bán hàng sau:
• Phương thức bán buôn
* Hình thức bán buôn qua kho
17
Đây là hình thức bán hàng bán buôn hàng hóa mà ở đó hàng bán được xuất ra
từ kho bảo quản của doanh nghiệp. Trong hình thức này có hai dạng chủ yếu sau:
- Giao hàng trực tiếp:
Theo hình thức này bên mua cử đại diện đến doanh nghiệp để nhận
hàng. Doanh nghiệp xuất kho hàng hóa giao trực tiếp cho đại diện bên mua, sau
khi đại diện bên mua nhận đủ hàng hóa, bên mua ký vào chứng từ bán hàng,
hàng hoá được xác định tiêu thụ. Vì vậy, mọi tổn thất hàng hoá trong quá trình
vận chuyển hàng người mua phải chịu.
Hình thức này được áp dụng khá hiệu quả với các doanh nghiệp có kho
bán buôn nhưng không chủ động về mặt phương tiện vận tải.
- Chuyển hàng
Theo hình thức này, căn cứ vào hợp đồng đã ký kết hoặc theo đơn đặt
hàng, doanh nghiệp xuất kho hàng hóa, bằng phương tiện vận tải của mình
hoặc thuê ngoài, chuyển hàng giao cho bên mua tại một nơi đã thỏa thuận.
Hàng hoá được xác định tiêu thụ khi doanh nghiệp giao xong hàng cho người
mua và người mua ký vào chứng từ giao hàng. Chi phí vận chuyển do hai bên
thỏa thuận. Phương thức này được áp dụng đối với những khách hàng có quan
hệ mua bán thường xuyên với doanh nghiệp.
* Hình thức bán buôn vận chuyển thẳng
Theo hình thức này doanh nghiệp sau khi mua hàng, nhận hàng mua,
không đưa về nhập kho mà chuyển bán thẳng cho bên mua. Có thể thực hiện
theo các hình thức sau đây:
- Giao hàng tay ba
Theo hình thức trực tiếp này doanh nghiệp sau khi mua hàng, nhận hàng
mua từ bên bán sẽ giao trực tiếp cho đại diện của bên mua tại kho bên bán. Sau
bên giao đại lý. Tổng đại lý đại diện cho hệ thống đại lý trực thuộc. Các đại lý trực
thuộc hoạt động dưới sự quản lý của tổng đại lý với danh nghĩa của tổng đại lý.
• Phương thức bán lẻ
Phương thức bán lẻ là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu
dùng hoặc các đơn vị kinh tế mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ. Đặc
điểm của phương thức này là hàng hóa ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào
lĩnh vực tiêu dùng, giá trị và giá trị sử dụng đã được thực hiện. Hàng hóa được
19
bán với số lượng nhỏ, giá bán ổn định. Tuy nhiên đối với doanh nghiệp sản
xuất quy mô lớn thì hình thức này xảy ra không thường xuyên. Phương thức
bán lẻ được thực hiện theo các hình thức sau:
- Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung
- Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp
- Hình thức bán hàng tự phục vụ
- Hình thức bán hàng tự động
• Các phương thức khác
* Bán hàng trả góp, trả chậm:
Theo phương thức này, khi giao hàng cho người mua thì số hàng đó
được coi là tiêu thụ và doanh nghiệp mất quyền sở hữu về số hàng đó. Người
mua sẽ thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua, số tiền còn lại người mua
chấp nhận trả dần ở các kỳ tiếp theo và phải chịu một tỷ lệ lãi nhất định.
* Phương thức bán hàng trao đổi hàng:
Đây là hình thức tiêu thụ mà trong đó người bán đem hàng hóa của mình
để đổi lấy hàng hóa của người mua. Giá trao đổi là giá thoả thuận hoặc giá bán
của hàng hóa đó trên thị trường. Doanh thu chỉ được ghi nhận đối với hàng hóa
hoặc dịch vụ được trao đổi không tương đương. Đối với dịch vụ hàng hóa
tương đương doanh thu không được ghi nhận.
b. Phương thức thanh toán
Nghiệp vụ thanh toán cũng khá đa dạng. Tùy theo từng chính sách bán
hàng hoặc tình hình tài chính của khách hàng hay của chính doanh nghiệp mà