Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ chu trình bán hàng thu tiền tại công ty cổ phần phương minh - Pdf 34

Khóa luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hệ thống kiểm soát nội bộ có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lí
doanh nghiệp và cũng là nhân tố được quan tâm hàng đầu của các kiểm toán
viên khi thực hiện kiểm toán tại mỗi tổ chức và công ty. Hệ thống kiểm soát nội
bộ có thể được xem là hệ thống “tiền kiểm” góp phần quan trọng cho việc nâng
cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động kiểm toán.
Công tác kiểm soát nội bộ được thực hiện ở hầu hết các hoạt động của
doanh nghiệp, đặc biệt trong doanh nghiệp sản xuất cũng như doanh nghiệp
thương mại việc bán hàng và thu tiền xảy ra thường xuyên thì những sai sót,
gian lận sẽ làm thay đổi chi phí, doanh thu dẫn tới sai lệch nghiêm trọng kết quả
kinh doanh. Vì thế, công tác kiểm soát nội bộ đối với chu trình bán hàng – thu
tiền đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động của một doanh nghiệp, tổ
chức. Vì nó đảm bảo cho hoạt động bán hàng của doanh nghiệp được diễn ra
suôn sẻ, đúng theo mục tiêu kiểm soát mà doanh nghiệp đề ra. Ngoài ra, kiểm
soát nội bộ chu trình bán hàng – thu tiền có ảnh hưởng sâu sắc đến việc đánh giá
công tác sử dụng đồng vốn của doanh nghiệp, cũng như đảm bảo cung cấp kịp
thời, chính xác và trung thực các thông tin tài chính phục vụ cho nhu cầu ra
quyết định của nhà quản trị. Do đó, kiểm soát nội bộ chu trình bán hàng - thu
tiền một cách có hiệu quả sẽ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp phát triển.
Với mong muốn được tiếp cận thực tế công tác kiểm soát nội bộ đối với
chu trình bán hàng – thu tiền của một doanh nghiệp cụ thể, ứng dụng những kiến
thức đã học trong nhà trường, so sánh với thực tiễn, nắm bắt mở rộng hiểu biết.
Qua thời gian thực tập tại công ty Cổ phần Phương Minh, tôi đã quyết định chọn
đề tài : “Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ chu trình bán hàng - thu tiền
tại công ty Cổ phần Phương Minh”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Khái quát các vấn đề lý luận liên quan đến hệ thống KSNB nói chung và
KSNB chu trình bán hàng - thu tiền nói riêng trong doanh nghiệp;

- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: là phương pháp hỏi trực tiếp người
cung cấp thông tin, dữ liệu cần thiết cho việc nghiên cứu đề tài. Phương pháp
này sử dụng để thu thập những thông tin cần thiết và số liệu thô có liên quan đến
đề tài.
- Phương pháp quan sát: quá trình thị giác và ghi chép lại mọi yếu tố liên
quan đến đối tượng nghiên cứu, phù hợp với mục tiêu nghiên cứu…nhằm mô tả,
phân tích, nhận định, đánh giá.
SVTH: Nguyễn Thị Lộc Uyển

Trang 2


Khóa luận tốt nghiệp
- Phương pháp so sánh: vận dụng phương pháp này nhằm đối chiếu các chỉ
tiêu, các hiện tượng kinh tế đã lượng hóa có cùng một nội dung, cùng tính chất
tương tự để xác định xu hướng và biến động các chỉ tiêu.
- Phương pháp thống kê phân tích kinh tế: là tổng hợp những thông tin, dữ
liệu được để hoàn thành công việc nghiên cứu. Phương pháp này để chọn lọc và
tập hợp những thông tin cần thiết cho đề tài.
- Phương pháp hạch toán kế toán: Phương pháp chứng từ, phương pháp tài
khoản và ghi đối ứng, phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời mở đầu và kết luận đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về hệ thống kiểm soát nội bộ chu trình bán hàng
– thu tiền trong doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ chu trình bán hàng – thu
tiền tại công ty Cổ phần Phương Minh.
Chương 3: Biện pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ chu trình
bán hàng – thu tiền tại Công ty Cổ phần Phương Minh.


ngũ thực hiện.
Trong cơ chế thị trường hiện nay, nâng cao sức cạnh tranh và sử dụng tiết
kiệm hiệu quả các nguồn lực đó chính là mục tiêu của bất kì một doanh nghiệp
nào dù quy mô nhỏ hay lớn. Những đòi hỏi, những hạn chế đó chỉ có thể được
đáp ứng, được khắc phục nhờ hệ thống kiểm soát nội bộ khoa học và hữu hiệu.
Từ đó việc thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ đang trở thành nhu cầu cấp
thiết trong quản lí tại mỗi doanh nghiệp.
SVTH: Nguyễn Thị Lộc Uyển

Trang 4


Khóa luận tốt nghiệp
1.1.2. Khái niệm và mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ
1.1.2.1. Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ
Kiểm soát nội bộ là bộ máy thực hiện chức năng kiểm toán trong phạm vi
đơn vị, phục vụ yêu cầu quản lý nội bộ đơn vị, hệ thống kiểm soát nội bộ chính
là công cụ chủ yếu của kiểm soát nội bộ. Nói đến kiểm soát nội bộ thì có rất
nhiều định nghĩa khác nhau, có thể kể đến một vài định nghĩa như sau:
Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 400 (ISA 400): “Hệ thống kiểm
soát nội bộ là toàn bộ những chính sách và thủ tục do ban giám đốc của đơn vị
thiết lập nhằm bảo đảm việc quản lý chặt chẽ và sự hiệu quả của các hoạt động
trong khả năng có thể. Các thủ tục này đòi hỏi việc tuân thủ các chính sách quản
lý, bảo quản tài sản, ngăn ngừa và phát hiện các sai sót hay gian lận,tính chính
xác và đầy đủ của các ghi chép kế toán và đảm bảo lập các báo cáo trong thời
gian mong muốn.”
Theo liên doàn kế toán quốc tế (IFAC): “Hệ thống kiểm soát nội bộ là kế
hoạch của đơn vị và toàn bộ các phương pháp, các bước công việc mà các nhà
quản lý tuân theo. HTKSNB trợ giúp cho các nhà quản lý đạt được mục tiêu một
cách chắc chắn theo trình tự và kinh doanh có hiệu quả kể cả việc tôn trọng các

máy kế toán xử lý và tổng hợp và căn cứ quan trọng trong việc hình thành các
quyết định của nhà quản lý. Do đó, các thông tin cung cấp phải đảm bảo tính kịp
thời về thời gian, tính chính xác và tin cậy về thực trạng hoạt động và phản ánh
đầy đủ khách quan các nội dung chủ yếu của mọi hoạt động kinh tế.
Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý và những quy định: hệ thống
kiểm soát nội bộ được thiết kế trong doanh nghiệp phải đảm bảo các quyết định
và chế độ pháp lí liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
được tuân thủ đúng mức.Cụ thể, cần phải:
- Duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các chính sách có liên quan đến các
hoạt động của doanh nghiệp.
- Ngăn chặn và phát hiện kịp thời cũng như xử lý các sai phạm và gian lận
trong mọi hoạt động của doanh nghiệp.
- Đảm bảo việc ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác cũng như việc lập Báo
cáo tài chính trung thực và khách quan.
Đảm bảo tính hiệu quả và hiệu năng của các hoạt động: Các quá trình
kiểm soát trong một đơn vị thiết kế nhằm ngăn ngừa sự lặp lại không cần thiết
các tác nghiệp, giảm sự lãng phí trong hoạt động và sử dụng kém hiệu quả các
nguồn lực trong doanh nghiệp. Định kì các nhà quản lý thường đánh giá kết quả
hoạt động trong doanh nghiệp được thực hiện với cơ chế giám sát của hệ thống
SVTH: Nguyễn Thị Lộc Uyển

Trang 6


Khóa luận tốt nghiệp
kiểm soát nội bộ doanh nghiệp nhằm nâng cao khả năng quản lý, điều hành của
bộ máy quản lý doanh nghiệp.
Tuy nằm trong một thể thống nhất song ba mục tiêu trên đôi khi cũng có
mâu thuẫn với nhau như giữa tính hiệu quả của hoạt động với mục đích bảo vệ
tài sản, sổ sách hoặc cung cấp thông tin đầy đủ và tin cậy. Nhiệm vụ của các nhà

Khóa luận tốt nghiệp
Đánh giá rủi ro
Hoạt động kiểm soát.
Thông tin và truyền thông.
Giám sát.
1.1.4.1. Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát bao gồm toàn bộ nhân tố bên trong và bên ngoài
đơn vị có tác động đến việc thiết kế, hoạt động và xử lý dữ liệu của các loại hình
kiểm soát nội bộ. Các nhân tố thuộc môi trường kiểm soát chung chủ yếu liên
quan tới quan điểm, thái độ, nhận thức cũng như hành động của các nhà quản lý
trong doanh nghiệp. Các nhân tố trong môi trường kiểm soát bao gồm:
a) Môi trường kiểm soát bên trong


Đặc thù về quản lý
Các đặc thù về quản lý đề cập tới các quan điểm khác nhau trong điều
hành hoạt động doanh nghiệp của các nhà quản lý. Các quan điểm đó sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến chính sách, chế độ, các quy định và cách thức tổ chức kiểm
tra, kiểm soát trong doanh nghiệp. Bởi vì các nhà quản lý là người phê chuẩn
các quyết định, chính sách và thủ tục kiểm soát sẽ áp dụng tại doanh nghiệp.



Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức là một nhân tố đóng vai trò quan trọng đối với việc chỉ
đạo và kiểm soát các hoạt động kinh doanh của đơn vị. Xây dựng cơ cấu tổ chức
của đơn vị là việc phân chia nó thành biện pháp với chức năng và quyền hạn cụ
thể đồng thời xác định các mối quan hệ trách nhiệm và quyền hạn giữa các bộ
phận đó. Một cơ cấu tổ chức hợp lý phải thiết lập sự điều hành và kiểm soát trên
toàn bộ các hoạt động và lĩnh vực của doanh nghiệp. Để thiết lập một cơ cấu tổ

kết quả hoạt động và sự luân chuyển tiền trong tương lai, có ý nghĩa rất lớn
trong kiểm soát nội bộ, một khi việc lập và thực hiện kế hoạch được tiến hành
một cách khoa học, nghiêm túc thì nó sẽ trở thành công cụ kiểm soát hữu hiệu.
Vì vậy, trong thực tế các nhà quản lý thường quan tâm xem xét tiến bộ thực hiện
kế hoạch, theo dõi những nhân tố ảnh hưởng đến kế hoạch đã lập nhằm phát
hiện những vấn đề bất thường để xử lý và điều chỉnh trong kế hoạch kịp thời.



Ủy ban kiểm soát
Ủy ban kiểm soát bao gồm những người trong bộ máy lãnh đạo cao nhất
của đơn vị như thành viên của Hội đồng quản trị nhưng không kiêm nhiệm các
chức vụ quản lý và những chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kiểm soát. Ủy ban
này thường có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
- Giám sát sự chấp hành luật pháp của công ty.
- Kiểm tra và giám sát công việc của kiểm toán viên nội bộ.
- Giám sát tiến trình lập báo cáo tài chính.
- Đại diện Công ty để mời kiểm toán viên độc lập và làm việc với họ.
- Hòa giải mâu thuẫn (nếu có) giữa kiểm toán viên độc lập với BGĐ.

SVTH: Nguyễn Thị Lộc Uyển

Trang 9


Khóa luận tốt nghiệp
Do có các chức năng quan trọng nêu trên, nên sự độc lập và hữu hiệu
trong hoạt động của ủy ban kiểm soát là nhân tố quan trọng trong môi trường
kiểm soát.
b) Môi trường bên ngoài


Khóa luận tốt nghiệp
- Phân tích và đánh giá rủi ro: thường bao gồm các bước sau đây: Ước
lượng tầm cỡ của rủi ro qua ảnh hưởng có thể có của nó đến mục tiêu của đơn
vị, xem xét khả năng xảy ra rủi ro và những biện pháp có thể sử dụng để đối phó
với rủi ro.
1.1.4.3. Hoạt động kiểm soát
Là các biện pháp, quy trình, thủ tục đảm bảo chỉ thị của ban lãnh đạo
trong giảm thiểu rủi ro và tạo điều kiện cho tổ chức đạt được mục tiêu đặt ra
được thực thi nghiêm túc trong toàn tổ chức. Hoạt động kiểm soát thể hiện qua
các thủ tục kiểm soát mà đơn vị áp dụng.
a) Thủ tục kiểm soát: được hiểu là các chính sách, các thủ tục, quy định do
nhà quản lý đơn vị thiết lập nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu của hệ thống
kiểm soát nội bộ. Các thủ tục kiểm soát được thiết kế tùy thuộc vào những nét
đặc thù của cơ cấu tổ chức của hoạt động kinh doanh.
Thường có 5 loại thủ tục kiểm soát như sau:
- Kiểm soát trực tiếp: là các thủ tục, quy chế, quá trình kiểm soát được
thiết lập nhằm trực tiếp đáp ứng các mục tiêu chi tiết của kiểm soát.
- Kiểm soát bảo vệ tài sản, thông tin: Là các biện pháp, quy chế kiểm soát
nhằm bảo đảm an toàn về tài sản và các thông tin trong đơn vị như:
+ Phân định trách nhiệm bảo vệ tài sản và thông tin.
+ Thiết lập các quy chế, biện pháp để ngăn ngừa sự tiếp cận tài sản, thông
tin của những người không có trách nhiệm.
- Kiểm soát xử lý: Là kiểm soát đặt ra để trong quá trình xử lý ghi xử lý
ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đảm bảo được rằng các nghiệp vụ đó
xảy ra và ghi vào sổ kế toán là đúng đắn.
- Kiểm soát quản lý: Là việc kiểm soát các hoạt động riêng lẻ do những
nhân viên độc lập với những người thực hiện hoạt động đó tiến hành.
- Kiểm soát tổng quát: Là sự kiểm soát tổng thể đối với nhiều hệ thống,
nhiều công việc khác nhau.

quản lý, các cấp dưới được giao cho quyết định và giải quyết một số công việc
trong phạm vi nhất định. Quy trình ủy quyền được tiếp tục mở rộng xuống các
cấp thấp hơn tạo nên một hệ thống phân chia trách nhiệm và quyền hạn mà vẫn
không làm mất tính tập trung của doanh nghiệp. Còn sự phê chuẩn được thực
hiện qua hai loại:
- Sự phê chuẩn chung: Được thực hiện thông qua việc xây dựng các chính
sách chung về những mặt hoạt động cụ thể cho các bộ phận cấp dưới tuân thủ.
- Sự phê chuẩn cụ thể: Được thực hiện theo từng nghiệp vụ kinh tế riêng.
Ngoài những nguyên tắc cơ bản trên, các thủ tục kiểm soát còn bao gồm: việc
quy định chứng từ sổ sách phải đầy đủ, kiểm soát vật chất đối với tài sản và sổ
sách và kiểm soát độc lập việc thực hiện các hoạt động của đơn vị.
1.1.4.4. Thông tin và truyền thông
Truyền thông là một phần của hệ thống thông tin nhưng được nêu ra được
nhấn mạnh vai trò của việc truyền đạt thông tin. Liên quan đến vấn đề này cần
chú ý đến các khía cạnh sau:
- Mọi thành viên của đơn vị phải hiểu rõ công việc của mình, tiếp nhận

SVTH: Nguyễn Thị Lộc Uyển

Trang 12


Khóa luận tốt nghiệp
đầy đủ và chính xác các chỉ thị của cấp trên, hiểu rõ mối quan hệ với các thành
viên khác và sử dụng được những phương tiện truyền thông trong đơn vị.
- Các thông tin từ bên ngoài( khách hàng, nhà cung cấp, khách hàng…)
cũng phải được tiếp nhận và ghi nhận một cách trung thực và đầy đủ, nhờ đó
đơn vị mới có thể có những phản ứng kịp thời.
Hệ thống thông tin kế toán chiếm vai trò quan trọng trong hệ thống thông
tin. Nó là toàn bộ các thủ tục cho phép phản ánh đo lường, tính toán, phân loại,

Đây là giai đoạn đầu tiên và đóng vai trò quan trọng trong quy trình kế
toán nói riêng và trong hệ thống kiểm soát nội bộ nói chung. Vì số liệu kế toán
chỉ chính xác nếu việc lập chứng từ nghiêm túc, nghĩa là lập chứng từ đầy đủ,
hợp lệ, hợp pháp và phản ánh trung thực mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Hệ
thống chứng từ kế toán nếu được đơn vị xây dựng khoa học, đầy đủ, đảm bảo
cung cấp thông tin kịp thời và chính xác cho nhà quản lý đơn vị thì sẽ hạn chế
được khả năng xảy ra sai phạm trong quá trình ra quyết định của các nhà quản lý
cấp cao trong đơn vị.
b) Sổ sách kế toán
Sổ sách kế toán là giai đoạn chính trong tiến trình xử lý số liệu kế toán,
bằng việc ghi chép, phân loại, tính toán, tổng hợp… để chuẩn bị cung cấp các
thông tin tổng hợp trên báo cáo. Ngoài ra, nó giúp tổng hợp, lưu trữ thông tin
một cách hệ thống, khoa học và đóng vai trò quan trung gian giữa chứng từ và
báo cáo tài chính, nên là cơ sở kiểm tra, truy cập chứng từ…
c) Báo cáo kế toán
Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình xử lý, nhằm tổng hợp các số liệu
trên sổ sách thành những chỉ tiêu báo cáo. Các báo cáo này phải phản ánh trung
thực tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị và phải tuân
thủ đúng các chuẩn mực kế toán, những quy định, chế độ hiện hành. Hệ thống
báo cáo có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý, điều hành đơn vị. Nó đa
dạng và linh hoạt tùy theo quy mô, loại hình hoạt động, yêu cầu quản lý, cơ cấu
tổ chức… của đơn vị.
1.1.4.5. Giám sát
Toàn bộ quy trình hoạt động phải được giám sát và điều chỉnh khi cần
thiết. Hệ thống phải có khả năng phản ứng năng động được thay đổi theo yêu
cầu của môi trường bên trong và bên ngoài. Bao gồm:
Giám sát thường xuyên: đạt được thông qua việc tiếp nhận các ý kiến góp
ý của khách hàng, nhà cung cấp… hoặc xem xét các báo cáo hoạt động và phát
hiện các biến động bất thường
SVTH: Nguyễn Thị Lộc Uyển

soát không còn phù hợp…
1.2. Kiểm soát nội bộ chu trình bán hàng – thu tiền
1.2.1. Khái quát về chu trình bán hàng – thu tiền
1.2.1.1. Khái niệm chu trình bán hàng – thu tiền
Bán hàng thu tiền hay còn gọi là tiêu thụ là một khâu trong quá trình tái
SVTH: Nguyễn Thị Lộc Uyển

Trang 15


Khóa luận tốt nghiệp
sản xuất. Tiêu thụ là quá trình thực hiện giá trị của “Hàng”, thông qua việc trao
đổi: “Hàng” được chuyển quyền sở hữu từ bên bán sang bên mua và đổi lại, bên
bán nhận được tiền bán hàng từ bên mua thanh toán. “Hàng” có thể là những tài
sản cụ thể hoặc dịch vụ bên bán đem đi trao đổi.
1.2.1.2. Chức năng cơ bản của chu trình bán hàng – thu tiền
a) Nhận và xử lý đơn đặt hàng của người mua
Đặt hàng của người mua có thể là đơn đặt hàng, là phiếu yêu cầu mua
hàng, là yêu cầu qua thư, fax, điện thoại, thư điện tử,… sau đó là hợp đồng về
mua – bán hàng hóa, dịch vụ. Về mặt pháp lý, đây có thể được xem là một đề
nghị sẵn sàng mua hàng hóa theo điều kiện xác định. Trên cơ sở pháp lý này,
người bán có thể xem xét để đưa ra quyết định bán, sau khi xem xét khả năng
cung ứng của doanh nghiệp và lập hóa đơn bán hàng.
b) Xét duyệt bán chịu
Do bán hàng gắn liền với thu tiền trong cùng một khái niệm tiêu thụ nên
ngay từ thỏa thuận ban đầu, bộ phận xét duyệt sẽ xem xét và quyết định bán chịu
một phần hoặc toàn bộ lô hàng. Chức năng này sẽ giảm thiểu nợ khó đòi và thất
thu do khách hàng mất khả năng thanh toán hoặc cố tình không thanh toán do sơ
hở trong thỏa thuận ban đầu.
c) Chuyển giao hàng hóa

h) Xóa sổ các khoản phải thu không thu hồi được
Công việc này được thực hiện trong trường hợp khách hàng không chịu
thanh toán hoặc mất khả năng thanh toán. Sau khi thẩm định, nếu thấy khoản
thất thu này là “ bất khả kháng”, cần xem xét xóa sổ khoản phải thu đó.
1.2.1.3. Các phương thức bán hàng và phương thức thanh toán
a) Phương thức bán hàng
Phương thức bán hàng trực tiếp: DN giao hàng cho người mua trực tiếp
tại kho, tại phân xưởng của doanh nghiệp và doanh nghiệp chuyển quyền sở hữu
cho người mua.
Phương thức chuyển giao hàng theo hợp đồng: DN chuyển hàng bán đến
địa điểm thỏa thuận trong hợp đồng. Số hàng được chuyển quyền sở hữu khi
người mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán một phần hoặc toàn bộ.
Phương thức bán hàng qua đại lý: DN sẽ chuyển hàng bán đến đại lý
được coi là nhận hàng và bán hàng hộ doanh nghiệp, đại lý được hưởng hoa
hồng tính trên doanh số bán được theo tỷ lệ nhất định đã thỏa thuận trước.

SVTH: Nguyễn Thị Lộc Uyển

Trang 17


Khóa luận tốt nghiệp
Phương thức bán hàng trả góp: Hàng hóa được coi là tiêu thụ khi giao
cho khách hàng, người mua tiến hành thanh toán theo quy định của DN.
b) Phương thức thanh toán
Nghiệp vụ thanh toán cũng khá đa dạng. Tùy theo từng chính sách bán
hàng hoặc tình hình tài chính của khách hàng hay của chính doanh nghiệp mà
doanh nghiệp có thể cho khách hàng của mình thanh toán khoản tiền mua hàng
theo các hình thức khác nhau:
- Mua hàng thanh toán ngay.

+ Số hàng vận chuyển đi không khớp với số hàng mà khách hàng đặt mua
+ Giao hàng sai quy cách, phẩm chất, số lượng.
+ Giao hàng không kịp thời cho khách hàng
+ Xuất nhầm hàng, nhầm kho, nhầm phương tiện vận chuyển, nhầm địa
điểm.
+ Hàng hóa có thể bị thất thoát trong quá trình giao hàng mà không xác
định được người chịu trách nhiệm.
+ Phát sinh thêm chi phí ngoài dự kiến trong quá trình giao hàng.
- Đối với việc lập hóa đơn và gửi hóa đơn cho khách hàng
+ Hóa đơn bán hàng được lập cho nghiệp vụ bán hàng giả mạo hoặc lập
phiếu hóa đơn bán hàng cho mỗi lần vận chuyển.
+ Lập hóa đơn sai về giá trị, tên, mã số thuế, địa chỉ của khách hàng.
+ Không bán hàng nhưng vẫn lập hóa đơn
+ Việc ký duyệt giảm giá, chiết khấu không được thực hiện bởi người có
thẩm quyền.
- Đối với việc nhận hàng bán bị trả lại
+ Hàng hóa bị trả lại vì không đạt chất lượng nhưng nguyên nhân phát
sinh từ phía khách hàng.
+ Nhận hàng bán bị trả lại không đủ số lượng.
1.2.2. Nội dung kiểm soát nội bộ chu trình bán hàng – thu tiền
1.2.2.1. Mục tiêu kiểm soát nội bộ chu trình bán hàng – thu tiền
- Các đơn đặt hàng được xử lý kịp thời, không bỏ sót
- Các nghiệp vụ bán hàng kể cả bán chịu, vận chuyển phải được phê duyệt
đúng đắn
- Hóa đơn được lập đúng quy định
- Hàng bán vận chuyển đến khách hàng là có thật, đúng theo các quy định
ghi trong đơn đặt hàng
- Các nghiệp vụ nhận hàng bán bị trả lại đã được phê duyệt đúng đắn
SVTH: Nguyễn Thị Lộc Uyển


qua các thể thức đúng đắn:
+ Phê chuẩn sự bán chịu trước khi gửi
hàng.
+ Gửi hàng
+ Xác định giá, phương thức thanh toán,
cước phí vận chuyển và các khoản chiết
khấu.
+ Các khoản chiết khấu được hạch toán
vào TK 521 và giảm trừ doanh thu.
Các nghiệp vụ bán hàng hiện hữu đều - Các chứng từ vận chuyển (hóa đơn vận
được ghi sổ (tính đầy đủ)
chuyển) được đánh sổ trước và ghi sổ.
- Hóa đơn bán hàng được đánh số trước
và ghi sổ.
Doanh thu bán hàng ghi sổ được đánh - Kiểm tra nội bộ quá trình lập háo đơn
giá đúng đắn (sự đánh giá)
và chuyển sổ, quá trình kiểm tra này
được thực hiện bởi một người độc lập.
Doanh thu bán hàng được phân loại - Sử dụng một sơ đồ tài khoản đầy đủ.
đúng đắn (sự phân loại)
- Qúa trình xem xét lạ và kiểm tra nội
SVTH: Nguyễn Thị Lộc Uyển

Trang 20


Khóa luận tốt nghiệp
Doanh thu bán hàng được ghi sổ đúng
lúc ( thời gian tính)
Các nghiệp vụ bán hàng được phản ánh

cứ hợp lý)
- Cân đối độc lập các tài khoản ngân
hàng.
Các khoản chiết khấu tiền mặt đã phê - Tồn tại một chính sách về chiết khấu
chuẩn (sự phê chuẩn)
tiền mặt.
- Sự phê chuẩn của các khoản chiết
khấu tiền mặt.
Tiền mặt nhận được đều được ghi vào - Cách ly trách nhiệm giữa quản lý tiền
sổ nhật ký thu tiền (tính đầy đủ)
mặt với ghi sổ kế toán.
- Sử dụng các thư báo tiền gửi hoặc các
bảng kê trước tiền mặt.
- Ký tắt ngay đằng sau các chi phiếu gửi
đến.
- Quá trình kiểm tra nội bộ của việc ghi
sổ các khoản thu tiền mặt.
- Gửi các báo cáo hàng tháng đều đặn
cho khách hàng.
Các khoản tiền mặt ghi sổ được đem gửi - Về cơ bản giống với mục tiêu đầy đủ.
và ghi sổ theo số tiền nhận được (sự - Điều hòa đầy đặn với tài khoản ngân
đánh giá)
hàng
Các khoản thuu tiền mặt được phân loại - Sử dụng một sơ đồ tài khoản.
đúng đắn (tính phân loại)
- Xem xét lại và kiểm tra nội bộ
Các khoản thu tiền mặt được ghi sổ căn - Quy định thể thức ghi sổ các khoản thu
cứ theo thời gian (thời gian tính)
tiền mặt hàng ngày.
- Kiểm tra nội bộ.

- Biên bản thanh lý hợp đồng kinh tế, quyết toán cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
- Phiếu thu, giấy báo Có, sổ phụ ngân hàng.
- Các chứng từ liên quan khác.
b) Tổ chức hệ thống tài khoản và sổ sách kế toán
Từ những chứng từ ban đầu, kế toán sẽ phân loại chứng từ theo từng nội
dung kinh tế, từ đó phản ánh vào sổ kế toán liên quan. Tùy thuộc vào mục đích
của việc theo dõi nội dung của các nghiệp vụ kinh tế mà kế toán sẽ mở các tài
khoản và các loại sổ kế toán chi tiết cho từng đối tượng cụ thể. Đối với các loại
sổ kế toán tổng hợp thì phụ thuộc vào hình thức kế toán mà đơn vị đang sử
dụng.
Sổ sách và tài khoản kế toán phải đúng quy định về mẫu sổ và tên gọi của
các tài khoản, sổ kế toán phải có đầy đủ chữ kí của người có thẩm quyền phê
duyệt.
Các loại sổ kế toán chi tiết được sử dụng trong chu trình bán hàng thu tiền:
- Sổ chi tiết theo dõi doanh thu.
- Bảng tổng hợp doanh thu.
- Sổ chi tiết tiền mặt, tiền gửi ngân hàng.
- Bảng tổng hợp tiền mặt, tiền gửi ngân hàng.
- Sổ chi tiết công nợ phải thu.
SVTH: Nguyễn Thị Lộc Uyển

Trang 23


Khóa luận tốt nghiệp
- Bảng tổng hợp công nợ phải thu.
Các loại sổ kế toán tổng hợp: Theo TT 200/2014TT-BTC ban hành thì các
doanh nghiệp không bắt buộc phải áp dụng mẫu sổ kế toán như trước mà được
tự thiết kế, xây dựng riêng phù hợp với yêu cầu quản lý và đặc điểm hoạt động
của mình. Doanh nghiệp nào không tự xây dựng được thì vận dụng mẫu sổ theo

Khóa luận tốt nghiệp
đây là hệ thống lý luận tổng quát và đầy đủ nhất về các bước để xây dựng một
hệ thống kiểm soát nội bộ về chu trình bán hàng – thu tiền cho các doanh
nghiệp. Đây chính là tiền đề để nghiên cứu thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ
chu trình bán hàng – thu tiền tại công ty.

SVTH: Nguyễn Thị Lộc Uyển

Trang 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status