Trường THCS Nghĩa Tân Sáng kiến kinh nghiệm Địa
lí
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trước những yêu cầu của xã hội, thời đại và sự phát triển của khoa học
– kỹ thuật, mục tiêu dạy học của môn Địa lý ngày nay không đơn thuần chỉ là
cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng địa lý cho học sinh, mà qua đó phải
góp phần cùng với các môn học khác đào tạo ra những con người có năng lực
hành động; có tính sáng tạo, năng động, tính tự lực và trách nhiệm; năng lực
cộng tác làm việc, năng lực vận dụng kiến thức, kỹ năng để giải quyết những
tình huống, vấn đề của cuộc sống và xã hội.
Để đạt được mục tiêu nói trên, nội dung dạy học địa lý ở trường phổ
thông đã có sự thay đổi, một số nội dung mới được đưa vào chương trình, vì
vậy chương trình hiện hành toàn diện và cập nhật hơn so với chương trình cũ.
Sự thay đổi của mục tiêu và nội dung dạy học đòi hỏi phương pháp dạy
học cũng phải thay đổi cho phù hợp. Thực tế cho thấy, nhiều giáo viên đã rất
linh hoạt trong việc sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại kết hợp với
các phương pháp truyền thống cho phù hợp với từng bài. Bên cạnh đó, cũng
có rất nhiều giáo viên chỉ máy móc áp dụng các phương pháp truyền thống
như: phương pháp giảng giải, phương pháp thuyết trình, phương pháp bản đồ.
Vì vậy, trong quá trình giảng dạy địa lí vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế: học
sinh nắm kiến thức không vững, dễ quên, “học vẹt”, thể hiện qua khâu kiểm
tra, học sinh chỉ sao chụp SGK ghi chép và trả lời, nhiều khi kiến thức sai
dẫn đến không phát triển được tư duy.
Sở dĩ còn tồn tại trên là do trong quá trình giảng dạy, giáo viên chỉ chú ý
trình bày về kiến thức mà chưa kết hợp với việc giúp học sinh tìm ra phương
pháp học tập để nắm chắc kiến thức. Vì vậy trong quá trình giảng dạy địa lý,
nhất thiết giáo viên cần kết hợp nhiều phương pháp. Đặc biệt là sử dụng các
phương pháp dạy học tích cực nhằm cải tiến cách thức truyền thụ kiến thức,
Người thực hiện: Nhữ Thị Hải Hà - Tổ: Hoá - Sinh - Địa
1
lí
- Phương pháp so sánh: So sánh các đối tượng, hiện tượng cùng loại hoặc
khác loại để rút ra những nét riêng biệt, độc đáo, những điểm tương đồng.
2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát: Quan sát quá trình dạy học của giáo viên và
học sinh trên lớp.
- Phương pháp điều tra: Điều tra giáo viên và học sinh đọc tài liệu có
liên quan.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Được rút ra từ khả năng dạy và
học của hoc sinh và giáo viên. Tham khảo ý kiến và dự giờ mẫu.
- Phương pháp thực nghiệm: Giáo viên tiến hành thực nghiệm ở trường
THCS để kiểm tra tính khả thi của sáng kiến.
Người thực hiện: Nhữ Thị Hải Hà - Tổ: Hoá - Sinh - Địa
3
Trường THCS Nghĩa Tân Sáng kiến kinh nghiệm Địa
lí
PHẦN II. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI.
1. Cơ sở lý luận.
1.1 Đối với việc giảng dạy của giáo viên
Trong quá trình giảng dạy bộ môn Địa Lý, giáo viên phải biết sử dụng
phương pháp so sánh nhằm lột tả được bản chất của sự vật hiện tượng. Đồng
thời người giáo viên phải biết sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau
để tìm ra mối quan hệ địa lý.
Ví dụ: Khi dạy bài 29 “Đặc điểm các khu vực Địa hình”. Để đạt được
hiệu quả tốt nhất của bài giảng này, giáo viên phải kết hợp nhiều phương
pháp như sau:
- Phương pháp thuyết trình để học sinh nắm được đặc điểm chung của
địa hình Việt Nam, đồng thời kết hợp với phương pháp bản đồ. Sau đó, dùng
phương pháp so sánh yêu cầu học sinh so sánh sự khác nhau giữa các khu
Các khái niệm, sự vật hiện tượng chỉ sống trong trí nhớ của học sinh
nếu chúng được trình bày không phải một cách cô lập, đơn lẻ mà phải có sự
liên kết logic với những vấn đề đã được học trước đó. Mặt khác học sinh sẽ
không nắm bắt được bản chất của sự vật hiện tượng nếu không có sự so sánh
giữa sự vật này với sự vật khác.
Việc sử dụng phương pháp so sánh trong dạy và học địa lý còn giúp
cho học sinh ghi nhớ sự kiện một cách tự nhiên, không gượng ép, máy móc.
Trái lại còn phát triển tư duy của học sinh, giúp học sinh học bài dễ nhớ, dễ
thuộc, có sự liên hệ bổ sung kiến thức từ bài trước với bài sau.
Tóm lại trong quá trình dạy học Địa Lý việc sử dụng phương pháp so sánh
là cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Địa Lý ở trường THCS.
1.3 Cơ sở tâm lý và trình độ nhận thức của học sinh THCS.
Ở lứa tuổi 14 - 15 học sinh bước đầu có khả năng nhận thức vấn đề
một cách độc lập, có quan điểm riêng. Tuy nhiên, tư duy của các em chưa
thật sắc bén, thiếu tính chất tổng hợp, song có những em thông minh, phát
triển tư duy trừu tượng, các em có thể giải thích được hiện tượng tự nhiên, xã
hội dựa trên cơ sở kiến thức đã được học.
Người thực hiện: Nhữ Thị Hải Hà - Tổ: Hoá - Sinh - Địa
5
Trường THCS Nghĩa Tân Sáng kiến kinh nghiệm Địa
lí
Trong chương trình lớp 6,7 các em đã được làm quen với các khái
niệm, các hiện tượng địa lý chung về khoa học Trái Đất, các vấn đề kinh tế –
xã hội của 1 số quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đó là những vấn đề
chung của Địa lý tự nhiên và kinh tế xã hội đại cương.
Chương trình Địa lý lớp 8 lại có đặc thù riêng, nó đi sâu vào nghiên
cứu đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của Châu á, đặc điểm tự nhiên của Việt
Nam nói chung và từng khu vực nói riêng. Với đặc thù về nội dung như vậy,
yêu cầu học sinh phải có sự so sánh, liên hệ các sự vật, hiện tượng của khu
vực này với khu vực khác, của vùng này với vùng khác. Nói cách khác,
nhớ, dễ hiểu.
Ví dụ: Khi cho học sinh so sánh, giáo viên thường đưa ra cho học sinh
so sánh nội dung chung chung mà không đưa ra cho học sinh so sánh những
dấu hiệu cụ thể nào => dẫn đến học sinh còn lúng túng và bị động.
Khi sử dụng phương pháp so sánh lại không kết hợp với vận dụng các
nguyên tắc và phương pháp giảng dạy khác. Do đó kết quả đạt được chưa cao
và hiệu quả của phương pháp so sánh không rõ ràng
2.2. Nhận thức và việc thực hiện phương pháp so sánh trong học tập Địa
Lý 8 của học sinh THCS
* Nhận thức:
Để nắm được nhận thức của học sinh tôi đã tiến hành gặp gỡ, trò
chuyện và đặt ra các câu hỏi trong sách giáo khoa đối với học sinh ở các lớp
tiến hành thực nghiệm. Hầu hết các con cho ràng phương pháp so sánh là
phương pháp khó, nhất là đối với chương trình Địa Lý 8. Nhưng do đặc trưng
của chương trình và môn học, vì vậy cần phải sử dụng phương pháp này
trong giảng dạy.
Các câu hỏi đặt ra cho các con cụ thể: “Sử dụng phương pháp so sánh
để liên hệ ngay trong bài học có gây khó khăn gì trong việc tiếp thu bài của
các con không?”
Câu trả lời là “không” mà thậm chí các con còn cho rằng sử dụng
phương pháp này còn giúp các con tiếp thu bài tốt hơn, nắm chắc kiến thức
và làm bài tập trên lớp cũng như ở nhà tốt hơn.
Người thực hiện: Nhữ Thị Hải Hà - Tổ: Hoá - Sinh - Địa
7
Trường THCS Nghĩa Tân Sáng kiến kinh nghiệm Địa
lí
* Những thiếu sót của học sinh thông qua việc so sánh.
- Học sinh thường bị hạn chế do việc mô tả lần lượt từng đối tượng.
- Trong quá trình so sánh thường không đầy đủ các dấu hiệu cần phải so sánh.
Khi so sánh học sinh không có bất cứ kết luận nào về đặc điểm giống và khác
TB
Biên độ
nhiệt
Mưa TB
năm
Tổng
lượng mưa
mùa mưa
Kết luận
khí hậu
Hà Nội
Huế
TP. Hồ Chí
Minh
Hầu hết học sinh lớp 8 còn có nhiều thiếu sót khi so sánh, có thể do các
em chỉ liệt kê được những đặc điểm khác nhau mà chưa tìm ra những đặc
điểm giống nhau. Hoặc khi so sánh các dấu hiệu đưa ra không cơ bản.
Cuối cùng học sinh phải có kĩ năng phân tích những dấu hiệu bản chất
trong các đối tượng, hiện tượng cần nghiên cứu.
1.2. Phương pháp dạy học so sánh.
1.2.1. Nguyên tắc:
- Học sinh phải biết lựa chọn các dấu hiệu để so sánh.
- Tiến hành so sánh chúng
- Rút ra được kết luận về sự giống và khác nhau của các sự vật hiện tượng.
- Giải thích các nguyên nhân về sự giống và khác nhau đó.
1.2.2. Cách dạy học sinh phương pháp so sánh.
Để dạy có kết quả phương pháp so sánh, cần phải xác định các mức độ
hình thành kỹ năng so sánh cho học sinh. Điều đó phụ thuộc vào nội dung và
định nghĩa của các thao tác tư duy, có thể phân ra theo các mức độ sau:
- Yêu cầu học sinh mô tả có trật tự các đối tượng và hiện tượng địa lý.
lí
PHIẾU HỌC TẬP
* Nhiệm vụ: Đọc SGK mục 2 trang 105, átlát địa lý Việt Nam trang
5,6 hãy so sánh tìm điểm giống và khác nhau giữa Đồng bằng sông Hồng
và Đồng bằng sông Cửu Long
Đặc điểm Đồng bằng sông Hồng Đồng bằng s.Cửu
Long
Diện tích
Các dạng ĐH tự nhiên
Các dạng ĐH nhân tạo
Độ nghiêng Địa hình
Hướng sử dụng và cải tạo
Ngoài việc cho học sinh so sánh theo các bài tập đã cho, giáo viên cần
hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức qua bản đồ, biểu đồ, qua SGK hoặc
tranh ảnh, phương tiện trực quan khác. Nói cách khác, để dạy học sinh cách
so sánh giáo viên phải sử dụng phối hợp các phương pháp để tìm ra các dấu
hiệu cơ bản khi so sánh.
Ví dụ: Bài 31, Khi học về đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm ở
Việt Nam, giáo viên cho học sinh so sánh với đặc điểm khí hậu với các nước
cùng vĩ độ (các nước ở Bắc Phi, Tây Á ). Để giúp học sinh hiểu bài sâu hơn,
giáo viên phải kết hợp với phương pháp thuyết trình, đồng thời kết hợp với
phương pháp khai thác kiến thức từ bản đồ, tranh ảnh, lát cắt địa hình, atlat
giảng cho học sinh thấy được nét độc đáo, riêng biệt của khí hậu Việt Nam.
Theo kinh nghiệm giảng dạy, chúng ta thường thấy học sinh không biết
cách so sánh, các con thường mô tả, liệt kê các đặc điểm, những chi tiết mà
các con quan sát được ở mỗi đối tượng. Do vậy, giáo viên cần phải làm cho
học sinh hiểu rõ so sánh là tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa
các sự vật, hiện tượng cùng loại.
Ngoài ra khi luyện tập so sánh cần cho các con so sánh từ dễ đến khó,
từ đơn giản đến phức tạp
Hoàng Liên Sơn Mộc Châu Thanh Hoá
Đá
Địa hình
Khí hậu
Đất
Thực vật
Ngoài hình thức dạy học sinh so sánh bằng cách lập bảng, chia cột.
Giáo viên có thể các hình thức khác để so sánh tuỳ thuộc vào nội dung câu
hỏi, bài tập.
Ví dụ: So sánh đặc điểm nổi bật của các hệ sinh thái ở nước ta. Ở bài
tập này không nhất thiết học sinh phải lập bảng vì chúng ta chỉ cần nêu ra các
loài sinh vật (động vật và thực vật) đặc trưng của mỗi một hệ sinh thái.
- Đặc điểm nổi bật của hệ sinh thái:
+ Rừng ngập mặn: cây sú, đước, vẹt (Tiêu biểu là rừng ngập mặn U
Minh thượng)
+ Rừng nhiệt đới gió mùa: rừng kín thường xanh, rừng thưa rụng lá,
rừng tre – nứa, rừng ôn đới núi cao.
+ Nông nghiệp: Cây lương thực, cây Công nghiệp, cây ăn quả
Như vậy mỗi một hệ sinh thái đều có những đặc trưng khác nhau. Từ
bài tập so sánh trên, các em suy nghĩ để tìm ra nguyên nhân tại sao mỗi một
hệ sinh thái đều có những đặc trưng khác nhau.
Trong nội dung của mỗi bài học có những bài đã trình bày sẵn câu hỏi
so sánh, giáo viên yêu cầu học sinh trả lời ngay. Tuy nhiên, nhiều bài không
có các câu hỏi sẵn, giáo viên cần chọn nội dung so sánh để học sinh trả lời
trong khi học bài mới.
* Đối với học sinh.
Người thực hiện: Nhữ Thị Hải Hà - Tổ: Hoá - Sinh - Địa
13
Trường THCS Nghĩa Tân Sáng kiến kinh nghiệm Địa
lí
Trường THCS Nghĩa Tân Sáng kiến kinh nghiệm Địa
lí
Sau khi rút ra sự khác nhau trên, học sinh còn có thể rút ra sự khác
nhau về đất, sông ngòi, thực vật của hai miền này. Từ sự khác nhau về vị trí,
về tự nhiên là cơ sở để học sinh rút ra được sự khác nhau trong phát triển
kinh tế – xã hội (lên lớp 9 học sinh sẽ tìm hiểu sâu hơn). Có nghĩa là học sinh
đã tìm được mối quan hệ nhân quả khi tiến hành so sánh. Như vậy, sự khác
nhau về “nhân” dẫn đến sự khác nhau về “quả”.
Trong khi so sánh không tách rời việc thiết lập mối quan hệ nhân quả.
Do đó cần nhấn mạnh mối quan hệ nhân quả để tìm ra các qui luật về địa lí.
Phương pháp so sánh cho thấy sự khác nhau của sự vật, hiện tượng ở
nơi này với nơi khác. Còn thiết lập được mối quan hệ nhân quả là nhằm giải
thích nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau hoặc hệ quả của sự khác nhau đó.
Học sinh học cách so sánh phải thấy được sự giống và khác nhau giữa các
hiện tượng địa lí.
Với bài tập trên đây, sau khi học sinh đã phân tích những dấu hiệu
khác nhau giữa hai miền thì còn phải đưa ra những nét giống nhau như:
(Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ đều là hai
cùng có nhiệt độ hạ thấp vào mùa đông, đều có địa hình chủ yếu là miền núi,
đều có mạng lưới sông ngòi dày đặc, độ dốc khá lớn, thuận lợi để phát triển
thuỷ lợi và nông sản cận nhiệt, ôn đới).
Khi học sinh so sánh khái quát hay cụ thể từng thành phần các dấu
hiệu chính và dấu hiệu phụ đều được nêu ra làm nổi bật yếu tố cần so sánh.
Các dấu hiệu phụ có tác dụng bổ sung và làm sáng tỏ dấu hiệu chính, do đó
các dấu hiệu chính không tách dời các dấu hiệu phụ.
Mỗi một bài so sánh thường có nội dung không giống nhau, vì vậy
giáo viên xác định những vấn đề nào cần được so sánh trong từng bài, tránh
sự lặp đi lặp lại và sai kiến thức khi so sánh.
• Các hình thức so sánh.
Người thực hiện: Nhữ Thị Hải Hà - Tổ: Hoá - Sinh - Địa
Trường Sơn Nam
Ví dụ: So sánh sự phân hóa lãnh thổ công nghiệp ở nước ta.
Người thực hiện: Nhữ Thị Hải Hà - Tổ: Hoá - Sinh - Địa
16
Trường THCS Nghĩa Tân Sáng kiến kinh nghiệm Địa
lí
Giáo viên cho học sinh quan sát Hình 7.1 SGK, nội dung kênh chữ
SGK, bản đồ tự nhiên Châu á, so sánh trình độ phát triển kinh tế – xã hội của
các nhóm nước ở Châu Á và giải thích về sự khác biệt đó.
- Nhóm nước phát triển cao: Có nền kinh tế – xã hội phát triển toàn diện
(Nhật Bản).
- Nhóm nước Công nghiệp mới: Mức độ CNH cao, nhanh (hàn Quốc,
Đài Loan, Singapo)
- Nhóm nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao: tốc độ CNH nhanh song
nông nghiệp vẫn đóng vai trò khá quan trọng (Trung Quốc, Thái
Lan…)
- Nhóm nước đang phát triển: Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng
(Việt Nam, Lào…)
- Nhóm nước giàu nhưng trình độ Xã hội chưa phát triển cao: Kinh tế
phát triển chủ yếu dựa vào khai thác, chế biến dầu khí (Cô - oét,
Brunêy…)
+ Hình thức 2: So sánh khái quát.
- So sánh tổng hợp: Là hình thức so sánh phức tạp vì nó bao gồm nhiều
dấu hiệu khác nhau, đồng thời phải khai thác hết các đặc điểm của đối tượng.
Hình thức này yêu cầu học sinh phải hiểu bài, khai thác tri thức địa lý trong
SGK kết hợp với bản đồ và số liệu để so sánh.
- Với dạng so sánh này yêu cầu phải so sánh cụ thể, tỉ mỉ, rõ ràng do
đó cần nêu từng dấu hiệu để so sánh.
* Hình thức 3: So sánh theo dấu hiệu của sự vật địa lý.
- So sánh đối tượng chỉ có một, hai dấu hiệu:
Đây là nội dung khó mang tính chất tổng hợp, khái quát cao, đòi hỏi
các em phải nắm được kiến thức cơ bản, khả năng tư duy tốt, áp dụng với các
học sinh khá giỏi, với các lớp chọn của trường. Thông thường giáo viên đưa
ra các dấu hiệu so sánh, học sinh đọc tài liệu kết hợp với hệ thống kênh hình
và sự hiểu biết của bản thân để đưa ra đáp án.
PHIẾU HỌC TẬP
Người thực hiện: Nhữ Thị Hải Hà - Tổ: Hoá - Sinh - Địa
18
Trường THCS Nghĩa Tân Sáng kiến kinh nghiệm Địa
lí
Nhiệm vụ: Dựa vào kiến thức đã học ở bài 41, 42, 43, quan sát bản đồ
Hình thể; Khí hậu; Địa chất khoáng sản trong Atlat Địa lí Việt Nam, hãy so
sánh các miền tự nhiên nước ta? Giải thích tại sao có sự khác nhau đó.
Miền Miền Bắc và ĐBBB Miền TB và BTB Miền NTB và NB
Phạm vi - Vùng đồi núi phía tả ngạn
SH và ĐBSH
- Vùng núi hữu ngạn
SH đến dãy BMã.
Từ 16
0
B trở xuống.
Địa
chất
- Cấu trúc đchất qhệ với
Hoa Nam (TQ),
- ĐH tương đối ổn định.
Tân ktạo nâng yếu.
- Cấu trúc địa chất quan
hệ với Vân Nam (TQ).
- ĐH chưa ổn định.
ptriển hải cảng, dlịch,
nghề cá.
Khoáng
sản
- Giàu ksản: than, Fe, Sn
Cu, apatit… VLXD.
Khoáng sản có đất
hiếm, Fe, Cr, Ti
- Dầu khí có trữ lượng
lớn.
- TNguyên giàu bôxit.
Khí hậu
- MĐ lạnh.
MH nóng, mưa nhiều, gió
ĐN, TN thổi. Thời tiết
có nhiều biến động.
- MĐ chỉ có 2 tháng
nđộ < 20
0
C, gmùa ĐB
suy yếu.
- BTB mùa hạ có gió
phơn TN, bão hđộng
mạnh, có lũ tiểu mãn
t6.
- KH cận XĐ, nđộ tbình
trên 20
0
C.
Mùa mưa ở NB và TN
- Đai nđới lên đến độ
cao 1000 m.
Thành phần loài: nđới,
XĐ, Rừng ngập mặn ven
biển có diện tích lớn.
Ví dụ: So sánh đặc điểm sông ngòi của ba khu vực: Bắc Á; Đông Á,
Đông Nam Á, Nam Á và khu vực Tây Nam Á, Trung Á.
PHIẾU HỌC TẬP
* Nhiệm vụ: Dựa vào nội dung SGK, Bản đồ tự nhiên Châu Á, lược đồ các
đới khí hậu Châu Á, hãy so sánh đặc điểm ba khu vực sông ngòi Châu Á:
+ Bắc Á
+ Đông Á, Đông Nam Á, Nam Á
+ Tây Nam Á, Trung Á
Vùng
Bắc Á
Đông Á, Đông
Nam Á, Nam Á
Tây Nam Á,
Trung Á
Các hệ thống sông lớn
Hướng chảy
Chế độ nước sông
Giá trị
Kết luận
1.2.4 Phương pháp so sánh kết hợp với các phương pháp khác trong
dạy học Địa lí - THCS
Sử dụng kết hợp các phương pháp: phương pháp bản đồ, phương pháp
sử dụng mối quan hệ nhân quả, phương pháp giảng giải, phương pháp thuyết
trình, phương pháp khai thác SGK, số liệu thống kê… cùng với phương pháp
Người thực hiện: Nhữ Thị Hải Hà - Tổ: Hoá - Sinh - Địa
21
Trường THCS Nghĩa Tân Sáng kiến kinh nghiệm Địa
lí
giải thích, minh hoạ cho học sinh hiểu các dấu hiệu nào cần được chia ra để
so sánh.
Hơn nữa phương pháp giảng giải có thêm yếu tố minh hoạ, vì vậy khi
sử dụng phương pháp này sẽ giúp cho việc thuyết phục học sinh bằng các sự
kiện, hiện tượng cụ thể, minh hoạ hiểu rõ kiến thức, thấy được bản chất của
sự vật hiện tượng.
c. Phương pháp giảng giải dạy theo mối quan hệ nhân quả.
So sánh giúp học sinh thấy được sự giống và khác nhau giữa các sự
vật hiện tượng địa lý. Phương pháp giảng giải dạy theo mối quan hệ nhân quả
có vai trò chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự giống và khác nhau đó. Do đó cùng
với phương pháp so sánh, phương pháp mối quan hệ nhân quả được sử dụng
ngay sau khi đã tìm ra dược sự giống và khác nhau giữa các hiện tượng cho
chúng ta thấy được bản chất của mối quan hệ địa lý. Mối quan hệ nhân quả
thường được thiết lập ngay sau khi so sánh, nếu chúng ta muốn biết được bản
chất của sự vật hiện tượng. Việc thiết lập mối quan hệ nhân quả là đi tìm
nguyên nhân sinh ra sự giống và khác nhau.
Như vậy phương pháp này mang tính chất hỗ trợ cho phương pháp so
sánh để tìm ra mối quan hệ và bản chất của hiện tượng địa lý.
Ngoài phương pháp trên, các phương pháp khác cũng có thể dùng kết
hợp với phương pháp so sánh như: phương pháp đàm thoại, sử dụng tranh
ảnh, số liệu….
Trong giảng dạy địa lý, việc sử dụng kết hợp nhiều phương pháp một
cách hiệu quả là “kim chỉ nam” đánh dấu sự thành công trong mỗi bài giảng
của người giáo viên. Giáo viên đã làm được một việc vô cùng to lớn là giúp
học sinh lĩnh hội kho tàng tri thức của nhân loại một cách nhẹ nhàng nhất,
cao quí hơn cả là trau dồi cho các con những kỹ năng phù hợp với trình độ
nhận thức và hướng tới những tình cảm tích cực.
Đông kinh tuyến 100
0
Đông ở khu vực Đông Á.
- Bài 14: So sánh đặc điểm tự nhiên giữa khu vực bán đảo Trung Ấn và Quần
đảo Mã Lai
- Bài 18: So sánh đặc điểm tự nhiên, dân cư xã hội, kinh tế giữa hai quốc gia
Lào và Campuchia.
Người thực hiện: Nhữ Thị Hải Hà - Tổ: Hoá - Sinh - Địa
23
Trường THCS Nghĩa Tân Sáng kiến kinh nghiệm Địa
lí
- Bài 20: So sánh đặc điểm khí hậu ở một số địa điểm trên thế giới.
- Bài 22: So sánh đặc điểm kinh tế của nước ta trước và sau đổi mới.
- Bài 24: So sánh đặc điểm khí hậu và hải văn của biển giữa mùa đông và mùa
hạ.
- Bài 29: So sánh đặc điểm địa hình khu vực núi Tây Bắc - Đông Bắc, Trường
Sơn Bắc – Trường Sơn Nam, Đồng bằng sông Hồng – Đồng bằng
sông Cửu Long.
- Bài 31: So sánh giới hạn và đặc điểm khí hậu giữa khu vực phía Bắc, Đông
Trường Sơn, phía Nam, biển Đông.
- Bài 32: So sánh đặc điểm khí hậu và thời tiết giữa mùa gió Đông Bắc và
mùa gió Tây Nam ở nước ta.
- Bài 34: So sánh đặc điểm các hệ thống sông ngòi Bắc Bộ - Trung Bộ - Nam
Bộ (so sánh về đặc điểm mạng lưới sông, hướng sông, chế độ nước
sông, giá trị sông).
- Bài 35: So sánh và tìm ra mối liên hệ giữa chế độ mưa và chế độ dòng chảy
trên lưu vực sông Hồng và sông Gianh.
- Bài 36: So sánh đặc điểm ba nhóm đất chính của Việt Nam: đất Feralit, núi
cao, phù sa (so sánh về nguồn gốc hình thành, phân bố, diện tích, đặc
điểm, giá trị sử dụng)
nhận thức như nhau.
* Nội dung thực nghiệm
- Thực hiện thực nghiệm việc vận dụng phương pháp so sánh vào dạy
bài nêu trên
- Thực nghiệm việc vận dụng phối hợp các phương pháp dạy học sinh
so sánh
- Đo mức độ nhận thức của học sinh (nhận thức và kĩ năng)
c. Tổ chức thực nghiệm.
Việc tổ chức thực nghiệm được tiến hành song song ở hai lớp thử
nghiệm đó là lớp 8B (48 học sinh) là lớp thực nghiệm và lớp 8C (48 học
sinh) là lớp đối chứng thuộc trường THCS Nghĩa Tân – Cầu Giấy – Hà Nội.
Người thực hiện: Nhữ Thị Hải Hà - Tổ: Hoá - Sinh - Địa
25