MỤC LỤC
I. LƯỢC SỬ VỀ SỰ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG
Thời cổ xưa, con người nguyên thủy chỉ dùng sức mạnh của cơ bắp đề sản sinh ra
năng lượng cho cuộc sống, năng lượng nầy do thức ăn cung cấp; ở giai đoạn hái lượm
vào khoảng 2.000 kcalo/người /ngày. Sau khi phát hiện ra lửa và cải biến công cụ săn bắt
các thú lớn thì năng lượng mà con người tiêu thụ được từ thức ăn đã tới 4.000 - 5.000
kcalo/ngày (khoảng 100.000 năm trước công nguyên), đến cuộc cách mạng nông nghiệp
vào thời đại đồ đá mới (5.000 năm trước công nguyên) thì năng lượng tự nhiên bắt đầu
được khai thác là sức nước và sức gió, đốt than củi để lấy nhiệt năng.
Vào đầu thế kỷ thứ 15 sau công nguyên, năng lượng tiêu thụ theo đầu người một ngày
là 26.000 kcalo. Ðến thế kỷ 18 với cuộc cách mạng công nghiệp ra đời, sự phát minh ra
máy hơi nước đầu tiên đẩy bằng piston, sau đó là vận động bằng tourbine; loại năng
lượng mới nầy đã tăng cường gấp bội khả năng của con người trong sản xuất và trong lưu
thông phân phối. Vì thế năng lượng tiêu thụ theo đầu người ở đầu thế kỷ thứ 19 ước tính
khoảng 70.000 kcalo / ngày.
Từ đầu thế kỷ thứ 19 trở về trước thì năng lượng cung cấp do than, củi, rơm, rạ chiếm
50% trong cơ cấu sử dụng nhiên liệu của nhân loạivà sau đó dần dần được thay thế bằng
than đá trong suốt nửa đầu thế kỷ 20.
Ðến khi sự phát minh ra động cơ đốt trong thì dầu mỏ trở thành nguồn nhiên liệu
chính thay thế dần than đá trong công nghiệp.
II. SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG Ở VIỆT NAM
1. Tài nguyên năng lượng truyền thống ở Việt Nam
1.1 Than đá
Từ thế kỷ 20 trở về trước, trong hàng ngàn năm, nguồn năng lượng được con
người sử dụng cho cuộc sống hằng ngày chủ yếu lấy từ gỗ củi, rơm rạ, thân lá thực vật.
Than đá được khai thác vào thế kỷ thứ 10 ở Ðức nhưng không được con người ưa chuộng
vì khó cháy và lại tỏa nhiều khí độc khi đốt.
Ðến thế kỷ 15, ngành công nghiệp luyện kim ra đời và ngày một phát triển, nhất là
đến đầu thế kỷ 19 vơí sự ra đời của các nhà máy nhiệt điện thì nhu cầu sử dụng than đá
chiếm tỷ trọng ngày một lớn
Trử lượng than Việt Nam được xác định là từ 3 đến 3,5 tỉ tấn, chủ yếu tập trung ở
miền Nam và Bắc; trong những năm đầu của thập niên 1960 - 1970 đã tìm thấy dầu và
khí ở vùng châu thổ Sông Hồng song chưa xác định được dầu thương mại, còn ở miền
Nam việc thăm dò chủ yếu ở thềm lục địa vào những năm cuối của thập niên 60
Sau đó đến tháng 12 -1983 chính phủ ta mới bắt đầu thăm dò tìm kiếm trở lại và
đã phát hiện được dầu ở tầng Miocene hạ (5/ 1984) rồi ở tầng Oligocene (2 / 1986). Tấn
dầu được khai thác đầu tiên ở mỏ Bạch Hổ (6/1986), tháng 9/1988 bắt đầu khai thác
chính thức.
Khối lượng dầu đã được khai tác trên đây từ 3 mỏ lớn là Bạch Hổ, Rồng và Ðại
Hùng với 133 giếng khai thác và 247 giếng thăm dò. Ngoài ra một đường ống dẩn khí dài
trên 100 km từ mỏ Bạch Hổ đã được dẩn vào đất liền đến Bà Rịa từ ngày 1 -5 -1995 đã
cung cấp 1 triệu m3/ngày đêm và dự kiến đến năm 2000 cung cấp từ 3 - 4 triệu m3/ ngày
đêm. Ngày 15 - 12 - 2000 bắt đầu xây dựng đường ống dẩn khí đốt dài khoảng 300 km từ
mỏ Lan Tây và Lan Ðỏ vào bờ.
Ngoài liên doanh dầu khí Việt Xô, hiện có hơn 10 công ty nước ngoài cũng đang
tìm kiếm và thăm dò dầu khí ở các thềm lục địa phía Nam và phía Bắc.
Ngành dầu khí trong nhiều năm qua đã có tốc độ phát triển rất mạnh, là ngành chủ
chốt trong việc đóng ngân sách và tăng trưởng GDP của đất nước, từ 25-30% năm. Đặc
biệt từ năm 2006 đến nay, theo kết luận 41/TW của Bộ Chính trị, ngành Dầu khí đã khai
thác được 111,35 triệu tấn dầu thô trong nước, khai thác ở nước ngoài được trên 2 triệu
tấn, khai thác khí đạt được 56,06 tỷ m3. Từ năm 2013 - 2017, ngành dầu khí phải đảm
bảo khai thác dầu thô từ 30-40 triệu tấn/năm và từ năm 2017 - 2025 đảm bảo khai thác
được mức từ 30-40 triệu tấn/năm. Đảm bảo quy hoạch khí và cung cấp đủ khí cho điện,
đạm và cho các lĩnh vực kinh tế khác, cần chú trọng tới việc quy hoạch, xây dựng cơ sở
hạ tầng để cho việc nhập khẩu khí hoá lỏng LNG. Song song với nhiệm vụ thăm dò, khai
thác, lọc hoá dầu, cung cấp khí, PVN còn phải đầu tư xây dựng nhiều nhà máy nhiệt điện
và thuỷ điện. Theo Tổng sơ đồ điện VII, tới năm 2020, ngành dầu khí phải đảm bảo được
từ 14-15% tổng sản lượng điện quốc gia.
Trong quá trình khai thác, vận chuyển, lọc hoá dầu ngành dầu khí không tránh
khỏi việc phát thải khí CO2 ra môi trường, để đảm bảo việc phát triển ngành dầu khí từ
nay về sau cần chú ý đầu tư công nghệ hiện đại, có các biện pháp, thiết bị để hạn chế phát
thuỷ điện lớn và vừa do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đầu tư, như: Sơn La, công
suất 2.400MW, Hoà Bình, công suất 1.920MW, Lai Châu 1.200MW, Yaly 720 MW và
hàng trăm dự án thuỷ điện khác đều do EVN đầu tư, chiếm tỷ lệ các dự án thuỷ điện 90%
của cả nước. Còn lại các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ do Tổng công ty Sông Đà, Tập đoàn
Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Tổng công ty Vinaconex đầu tư xây dựng và nhiều dự án
thuỷ điện nhỏ khác do các tư nhân đầu tư. Đây là một nguồn năng lượng sạch không gây
ô nhiễm môi trường và đã tạo ra một lượng công suất điện trên 15.000MW, góp phần vào
việc đảm bảo cung cấp đủ điện cho phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân. Song
việc xây dựng nhiều nhà máy thuỷ điện đã lấy đi hàng chục nghìn ha rừng để xây dựng
lòng hồ, đập, nhà máy, đường giao thông, các trạm biến áp, các đường dây truyền tải…
các công trình thuỷ điện lớn làm nhiệm vụ đa mục tiêu như: đảm bảo cung cấp điện, đảm
bảo điều tiết nước vào mùa khô, đảm bảo cắt lũ vào mùa mưa.
Nhưng do phát triển quá ồ ạt nên rất nhiều dự án thuỷ điện vừa và nhỏ do tư nhân đầu
tư không đảm bảo chất lượng, quản lý vận hành không đúng quy trình, nhất là vận hành
hồ đập. Nhiều năm qua, lũ lụt ở miền Trung nước ta xảy ra liên tục, trong đó có tác nhân
gây hại, đó là việc xả lũ của các nhà máy điện này. Việc cây rừng bị chặt phá với hàng
nghìn ha cũng là tác nhân gây ra lũ lụt lớn. Để giảm thiểu việc phát triển ồ ạt các thuỷ
điện nhỏ còn lại, hiện nay, theo quy hoạch, sau khi loại ra trên 440 dự án thuỷ điện nhỏ,
hiện còn khoảng 400 dự án nằm trong quy hoạch, các dự án này đều ở sâu trong rừng,
núi, có các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật thấp không đảm bảo tính khả thi của dự án. Vừa qua,
Quốc hội đã có quyết định phải xem xét lại quy hoạch các dự án thuỷ điện nhỏ nên loại
trừ các dự án hiệu quả kinh tế kém, lại gây phá rừng, gây lũ lụt, vậy nên hạn chế một
cách tối đa việc đầu tư các dự án đó.
Nhiệt điện
Cũng trong nhiều năm qua, ngành điện đã xây dựng rất nhiều dự án nhiệt điện như: nhiệt
điện than, nhiệt điện khí, điện chạy dầu với công suất trên 15.000MW, trong đó nhiều
dự án do EVN đầu tư, một số dự án còn lại do Tập đoàn Công nghiệp than - Khoáng sản
Việt Nam (TKV) và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) đầu tư đã góp phần
đảm bảo nguồn điện cung cấp cho sự phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân.
Trong gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, để có được thành tựu to lớn
Mặt trời có đường kính chừng 1, 4 triệu km và cách xa trái đất 150 triệu km. Nguồn gốc
của năng lượng mặt trời là do những phản ứng nhiệt hạch xảy ra liên tiếp bên trong lòng
mặt trời ở nhiệt độ rất cao (15 - 20 triệu độ C), các phản ứng này phát ra năng lượng dưới
các dạng bức xạ nhiệt, quang và các hạt mang điện Năng lượng mặt trời mà trái đất nhận
được là rất nhỏ, ước chừng 5 x 1024 J / năm (tương đương vớí 115.000 tỉ tấn than đá và
gấp 10 lần toàn bộ trử lượng than đá, dầu mỏ, khí đốt trong lòng đất). Ưu thế của năng
lượng này là vô tận, không đổi dạng và trong sạch nhưng nhược điểm là sự biến thiên của
năng lượng nầy theo ngày và mùa, theo khí hậu và theo vị trí của trái đất đối với mặt trời;
nên vấn đề được đặt ra là cần phải suy tính để sử dụng kinh tế nhất.
Người ta chia nguồn năng lượng của mặt trời ra làm hai dạng là năng lượng trực tiếp và
năng lượng gián tiếp:
* Năng lượng trực tiếp
Là dòng năng lượng chiếu sáng trực tiếp và khuếch tán. Năng lượng này có thể sử dụng
để sản xuất ra nhiệt hay một loại năng lượng thứ cấp như điện, nhiên liệu tổng hợp Về
kỹ thuật sử dụng năng lượng mặt trời được biết như sau:
- Cần sức nóng ở nhiệt độ thấp (<100oC): kỷ thuật sử dụng năng lượng ánh sáng mặt trời
bằng hệ thống bản phẳng hứng bức xạ (capteurplans) gọi là giàn thu nhiệt. Hiện nay đã
được sử dụng rộng rải để sưởi ấm và làm cho nước nóng.
- Cần sức nóng ở nhiệt độ cao (>100oC): thì phải có kỷ thuật hội tụ bức xạ gọi là Lò mặt
trời (pour solaire) chẳng hạn như lò mặt trời Odeillo ở miền Tây Nam nước Pháp có thể
đạt tới nhiệt độ 3.800oC. Với nhiệt độ cao như vậy nên cần thiết cho một số ngành công
nghiệp như ngành chế tạo vật liệu xây dựng hoặc được chuyển đổi thành cơ năng hay
điện năng.
- Một ứng dụng quan trọng nữa của dạng năng lượng trực tiếp là sự chuyển đổi quang
điện nhờ những tế bào quang điện, hiện nay được sử dụng phổ biến trong các thiết bị vũ
trụ.
* Năng lượng gián tiếp
Năng lượng gián tiếp của bức xạ mặt trời là gió, sóng biển, thủy triều và chuyển đổi năng
lượng sinh học (bioconversion).
- Năng lượng gió:
nhiệt Larderello ở Ý, nhà máy Geyser ở California, nhà máy Matsukawa ở Nhật Bản
- Dạng thạch nhiệt. Ðá bị đun nóng ở thể rắn hoặc thể nóng chảy, loại này nằm rất sâu
trong lòng đất. Hướng nghiên cứu là đưa nước lạnh tới các miền sâu này rồi khai thác
nước nóng bằng các hệ thống giếng song song.
- Dạng địa áp nhiệt. Nằm sâu trong lòng đất, nước bị kẹp giữa các lớp sét, khi bị nén
chặt nước đi vào các lớp đá kết (gres) kế cận với nhiệt độ cao trên vài trăm độ C. Trong
nước nóng có khí methane hòa tan, có khi bảo hòa làm thành một nguồn hydrocarbur
quan trọng. Hiện nay, chưa có một kỷ thuật nào khai thác được nguồn tài nguyên này.
2.3. Năng lượng nhiệt hạch
Ðã được nghiên cứu để khai thác chừng 30 năm qua và thành tựu thu được ngày càng sâu
rộng hơn. Năng lượng nhiệt hạch được tạo ra từ những phản ứng hạt nhân được thực hiện
giữa những nguyên tố nhẹ dùng làm nguyên liệu như các đồng vị của Hydrogen, Helium,
Lithium, Bor Hiện nay, việc sử dụng hai đồng vị phóng xạ của Hydrogen là Deuterium
(D) và Tritium (T) đòi hỏi những điều kiện mà có khả năng thực hiện được. Nguyên liệu
được nung nóng ở nhiệt độ rất cao (20 triệu độ C) sẽ bốc hơi tạo nên một trạng thái ion
hóa cực mạnh (plasma) để xảy ra lượng nhiệt hạch. Trong lò phản ứng nhiệt hạch (hay
trong bom H) xảy ra sự kết hợp hạt nhân giữa D2 (1proton và 1 neutron) với nhân T3 (có
1 proton và 2 neutron) sinh ra nhân helium (có 2 proton và 2 neutron) và phóng xạ 1
neutron, đồng thời giải phóng một năng lượng rất lớn bằng mấy chục tấn thuốc nổ. Trong
lò phản ứng nguyên tử (hay trong bom nguyên tử) năng lượng được giải phóng là do
phản ứng phân hạch phá vỡ các hạt nhân nặng của Uranium 235.
Deuterium khá phổ biến trong tự nhiên được lấy từ nước có trử lượng 46.1012 tấn.
Tritium là chất phóng xạ nhân tạo từ Lithium, trong lò phản ứng nhiệt hạch chất đồng vị
Li6 sẽ biến thành Tritium do hấp thu thêm các neutron nhanh:
3 Li
6
+
o
n
1
Dự tính, Nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại Việt Nam sẽ được xây dựng tại Ninh
Thuận, ở địa điểm Phước Dinh và Vĩnh Hải. Trong đó, Việt Nam lựa chọn chu trình công
nghệ sử dụng một lần, nghĩa là nhiên liệu sau khi đã sử dụng trong lò sẽ được cất giữ,
không tiến hành tái xử lý để chế tách urani và plutoni.
Ngoài ra, để an toàn cho môi trường, các nhà khoa học cũng đang tính toán đến một khu
vực chôn cất thải quốc gia; trước mắt là cho các loại chất thải phóng xạ hoạt độ thấp và
trung bình, ngoài ra chuẩn bị trước địa điểm cho khu vực cất giữ chất thải hoạt độ cao và
nhiên liệu hạt nhân đã cháy, mặc dù nhu cầu này sẽ chỉ xuất hiện sau năm 2050.
3. năng lượng tái tạo
Để giảm thiểu phát thải khí gây ô nhiễm môi trường làm tăng nhiệt độ khí hậu,
Việt Nam cần phải quan tâm đến việc phát triển năng lượng tái tạo. Năng lương tái tạo
hiện nay đang nhận được sự quan tâm đặc biệt không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế
giới. Ngay cả những nước phát triển như Mỹ cũng đã có những chính sách để thay thế
dần nguồn năng lượng hóa thạch bằng các nguồn năng lượng tái tạo. Nguyên nhân là do
các nguồn năng lượng hóa thạch đang cạn kiệt dần và chi phí cho nhiên liệu này ngày
càng tăng cao. Nếu với tốc độ tiêu thụ năng lượng hiện tại thì trữ lượng dầu của thế giới
được dự báo sẽ cạn kiệt trước năm 2050 và các nguồn năng lượng này còn là một trong
những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Trong khi đó những
nguồn năng lượng tái tạo như: mặt trời, gió, sinh khối, thủy triều, địa nhiệt,… lại là
những nguồn năng lượng vô tận và “sạch” hơn rất nhiều so với năng lượng không tái tạo.
Rào cản lớn nhất để tiếp cận và khai thác những nguồn năng lượng này chính là công
nghệ và chi phí thiết bị đắt hơn so với thiết bị sử dụng nhiên liệu hóa thạch.
Mặc dù chưa được đầu tư đúng mức nhưng năng lượng tái tạo hiện cũng đã thu
hút sự chú ý của một số cơ quan nghiên cứu trong nước. Thách thức chung của các
nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay là giá thành vật liệu cao, do đó, các sản phẩm làm ra khó
có thể cạnh tranh với hàng ngoại nhập.
Trong khi đó, các nhà khoa học Nguyễn Tiến Khiêm, Ngô Quý Thêm (Viện Cơ
học) cùng Đỗ Đình Khang (Công ty phát triển công nghệ) và Vũ Anh Tuấn (Công ty Yên
Đông) đưa ra báo cáo về “Công nghệ pin Mặt trời vô định hình Silic và khả năng ứng
dụng vào Việt Nam”. Theo nghiên cứu này, Việt Nam là một trong những nước nằm trong
nhiêu vv nên sinh khối phát triển rất nhanh. Do vậy, nguồn phụ phẩm từ nông, lâm
nghiệp vô cùng phong phú và ngày càng tăng cùng với sự phát triển của nông, lâm
nghiệp. Tuy nhiên, những nguồn phụ phẩm đó lại đang bị coi là rác thải tự nhiên, đang bị
bỏ phí hoặc lại chính là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường (như tình trạng đốt rơm rạ
ở miền Bắc hoặc đổ trấu xuống song, kênh rạch ở đồng bằng sông Cửu Long, đốt bỏ mùn
cưa tại Yên Bái,…). Năng lượng sinh khối nằm trong trong chu trình tuần hoàn C ngắn
(UNEP), được các tổ chức về phát triển bền vững và môi trường khuyến khích sử dụng.
Tận dụng được nguồn nhiên liệu này vừa cung cấp năng lượng cho phát triển kinh tế và
đảm bảo bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên năng lượng sinh khối cũng có một số nhược điểm như phân bố không
tập trung, nhiệt trị thấp, khối lượng riêng nhỏ nên rất phức tạp khi vận chuyển và chứa
trữ, bù lại giá thành cực kỳ rẻ, thích hợp nhất với sự tiêu thụ trong các hộ gia đình và các
mô hình công nghiệp nhỏ và vừa. Vì vậy, cùng với hoàn thiện công nghệ sử dụng nhiên
liệu thì phát triển công nghệ phụ trợ như tiền xử lý, đóng gói, chuyên chở vv cũng là
một trong những yêu cầu phụ trợ và là cơ hội phát triển công ăn việc làm cho các địa
phương.
Để tiếp cận và khai thác nguồn tài nguyên tái tạo vô cùng phong phú này, hiện
nay, dự án Đổi mới Sản phẩm Bền vững (SPIN) đang tiến hành phát triển các kỹ thuật,
thiết bị và triển khai hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ ứng dụng công nghệ khí hóa
nhiên liệu sinh khối, cùng với các thiết bị phụ trợ hỗ trợ toàn diện cho công nghệ này như
nhà sấy năng lượng mặt trời, máy băm chặt sinh khối, tấm phủ toptex vv Với gói công
nghệ và thiết bị đầy đủ này, các doanh nghiệp có thể tận dụng được nguồn nguyên liệu
giá rẻ và sẵn có tại địa phương thay thế cho nhiên liệu hóa thạc hiện nay, qua đó cắt giảm
lượng chi phí vô cùng đáng kể cho quá trình sản xuất và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Sự tham gia của các doanh nghiệp
Không chỉ có các nhà khoa học và cho tới giờ, đã có rất nhiều doanh nghiệp tư
nhân và nước ngoài tiên phong trong việc khai thác thị trường năng lượng tái tạo tại Việt
Nam.
Liên doanh giữa Công ty Năng lượng Gió Fuhrlaender AG của Đức và Công ty cổ
phần Năng lượng Tái tạo Việt Nam (REVN) hiện đang đầu tư xây dựng những tuabin gió
Âu, tại các nước phát triển mạnh năng lượng tái tạo trên thế giới hiện nay đều có sự tài
trợ và tham gia của Nhà nước vào các dự án lớn, kể cả nghiên cứu hay ứng dụng. Tuy
nhiên, ngân sách hạn chế của Nhà nước đối với năng lượng tái tạo sạch có lẽ là cản trở
lớn nhất để loại hình năng lượng này có thể đi vào cuộc sống và phát triển mạnh tại Việt
Nam.
III. Tiêu thụ năng lượng
Theo bảng 5 trích từ thống kê của WEC dựa trên trữ lượng đã được chứng minh và
nhịp khai thác năm 2005 thì tối đa 33 năm nữa là không còn tài nguyên năng lượng hóa
thạch nữa. Khí tự nhiên còn có thể khai thác được trong hơn 90 năm nữa nhưng tài
nguyên dầu mỏ và than sẽ cạn trong vài năm tới. Nếu kể thêm tăng trưởng của nhu cầu
năng lượng thì tình hình này nguy cập.
Bảng 5 – Trữ lượng những năng lượng không tái tạo (WEC, 2005)
Năng lượng Dầu thô
(Mt)
Khí
tự nhiên
Than đá
(Mt)
Uranium
(Kt)
(Gm3)
Trữ lượng 413 365 150 5(*)
Khai thác 19 4 35 ?
Số năm khai thác còn lại 22 91 4 ?
(*) Với giá thị trường 130 USD/kg
Theo bảng 5 quy ra đơn vị TWh thì trữ lượng năng lượng hóa thạch hiện nay của
Việt Nam tổng cộng 9.900 TWh. Nếu Việt Nam không có chính sách năng lượng độc đáo
nào và, với giả thuyết :
* sản lượng thủy điện đã đạt tiềm năng kinh tế, 78 TWh mỗi năm,
* nhờ trao đổi những loại năng lượng với các nước khác,
(Tính từ số liệu của IEA, 2005)
- Nhận xét này thể hiện rõ hơn với phân bố tiêu thụ điện (hình 5). Ở Pháp, một
nước khuyến khích sử dụng điện trong những áp dụng gia dụng và dịch vụ nhờ có nhiều
nhà máy điện hạt nhân, 35 % điện dùng cho tiện nghi nhà ở. Ở Hàn Quốc chỉ có 14 % . Ở
Việt Nam thì 42 % điện dùng cho tiện nghi nhà ở thay vì dùng để sản xuất sản phẩm và
dịch vụ. Tiêu thụ điện tăng gấp rưỡi lần tăng trưởng của kinh tế mà lại chủ yếu ít dùng
cho sản xuất. Mọi chuyện diễn ra như điện lực ở Việt Nam là một xa xỉ phẩm được cấp
cho người có tiền mua những thiết bị cơ điện nội thất chứ không phải là một nhân tố sản
xuất.
Hình 5 – Tiêu thụ điện theo ngành
(Tính từ số liệu của IEA, 2005)
Theo TCTK, từ 1990 đến 2005, lượng hàng luân chuyển tăng 9,4 % mỗi năm, cao
hơn tăng trưởng trung bình của tổng sản lượng quốc nội chừng 1,5 điểm %
(hình 6).
Hình 6 Thị phần và tăng trưởng những phương tiện giao thông vận tải
(Tính từ số liệu của TCTK, 2005)
Nhưng thống kê chi tiết cho thấy, ngược lại với xu hướng các nước công nghiệp tiên tiến
đang tìm cách giảm tỷ số lượng hàng vận chuyển bằng đường bộ :
* ngành đường sắt và đường sông gia tăng ít hơn tăng trưởng của tổng sản lượng
quốc nội,
* và ngành hằng hải chỉ tăng có 10 % mỗi năm ít hơn tăng trưởng 14 % mỗi năm
của ngoại thương mà hàng ngoại thương thì chủ yếu được luân chuyển bằng đường
biển.
Tỷ số tăng trưởng lớn của ngành hàng không không có ý nghĩa vì lượng hàng luân
chuyển bằng phương tiện này không đáng kể. Nhưng cũng là một nguồn gia tăng nhu cầu
năng lượng. Đặc biệt, không có lý do gì phải lập một công ty hàng không giá rẻ (low cost
airline) nội địa như Pacific Airlines để sinh ra một thị trường đi lại bằng đường hàng
không
12
.
Ấn Độ 4 749 3,8 3 438 2,9 72
Australia 1 610 2,6 3 290 3,9 204
Đài Loan 1 318 3,8 142 0,1 11
Hàn Quốc 2 719 3,1 440 6,1 16
Indonesia 1 571 4,2 2 730 2,3 174
Malaysia 746 4,4 1 142 3,2 153
Nhật Bản 6 615 0,7 1 202 0,3 18
Philippines 392 2,7 144 7,6 37
Thailand 1 063 4,0 515 6,0 49
Trung Quốc 19 663 6,3 18 531 5,7 94
Việt Nam 359 7,1 568 8,7 158
Châu Á và
Châu Đại Dương
43 403 4,2 33 750 4,4 78
Ưu điểm này được tăng cường bởi điều kiện tự nhiên thuận lợi.
- 38 % nguồn năng lượng cơ bản là năng lượng tái tạo. So với 13 % trung bình của
thế giới, đây là một tỷ lệ rất lớn. Ở dạng cơ bản, chất đốt rắn tái tạo và rác dồi dào hơn
dầu thô và than đá (bảng 2). Nguồn năng lượng này cung ứng hơn một nửa năng lượng
khả dụng của Việt Nam.
Bảng 2 – Sản xuất, cung ứng và và tiêu thụ năng lượng
(Tính từ số liệu của IEA, 2005)
Cơ bản
(TWh)
Cung ứng
(TWh)
Khả dụng
(TWh)
Than 211 95 70
Dầu thô 226 5 0
Sản phẩm dầu 0 139 139
Nam có nhiều củi gỗ, phế liệu những nhà máy chế biến gỗ, phế liệu nông phẩm và rác đô
thị. Thêm vào đó, bờ biển dài cho phép lập nhiều trại trồng rong làm nguyên liệu để sản
xuất nhiên liệu sinh học.
- Tiềm năng của năng lượng gió có thể dự đoán là rất lớn vì Việt Nam ở vùng gió
mùa thổi và bờ biển dài với đáy biển nông cho phép lập nhiều trang trại phong điện (wind
power farm). Nếu lắp đặt những trại phong điện ở ngoài khơi thì giảm được ô nhiễm
thẩm mỹ và ô nhiễm âm thanh. Những quạt phong điện sẽ hoàn vốn mau hơn trung bình
những nước khác nhờ đáy biển nông và gió ở ngoài khơi thổi đều dặn suốt năm.
- Những nguồn năng lượng tái tạo khác chưa được khai triển nhưng tiềm năng cũng
có nhiều dấu hiệu lạc quan :
* những hệ thống dùng bản mặt trời để hấp thụ năng lượng mặt trời sẽ hoàn vốn
mau hơn những nước khác nhờ mặt trời chiếu đều đặn quanh năm,
* dọc bờ biển miền Trung có một luồng nước ngầm có thể chạy những tuabin khai
thác năng lượng biển,
* những suối nước nóng tự nhiên trên khắp lãnh thổ là dấu hiệu một nguồn năng
lượng từ lòng đất tiềm tàng quan trọng.
Tiêu thụ năng lượng
Cơ cấu năng lượng tiêu thụ ở Việt Nam thuộc loại thân thiện với môi trường :
* hơn một nửa năng lượng khả dụng là năng lượng tái tạo (bảng 2 và hình 1),
* tổng cộng 80 % điện lực được sản xuất từ thủy năng và khí đốt (hình 2), hai loại năng
lượng dùng để sản xuất điện ô nhiễm môi trường ít nhất.
Hình 1 – Tiêu thụ năng lượng chia theo nguồn năng lượng
(Tính từ số liệu của IEA, 2005)
Hình 2 – Tiêu thụ năng lượng để sản xuất điện chia theo nguồn năng lượng
(Tính từ số liệu của IEA, 2005)
- Theo EIA, năm 2005, tổng công suất những nhà máy điện của Việt Nam là
11,3 MW sản xuất 51,3 TWh. Từ mười năm nay, công suất tăng trung bình 9,4 % mỗi
năm và sản lượng điện tăng 7,1 % mỗi năm. Những tỷ số tăng trưởng này lớn hơn gấp hai
lần trung bình các nước Châu Á và Châu Đại Dương (bảng 4).
Bảng 4 Sản xuất và tiêu thụ điện
- Hầu như tất cả lưu vực các sông Việt Nam đều có thể được quy hoạch thành
thang thủy lợi. Đây là phương pháp tối ưu việc cung ứng nước cho thủy điện cũng như
cho các nhu cầu của nông nghiệp, giao thông, du lịch, giải trí, Trên phương diện kinh
tế, điện của giờ cao điểm được tích trữ dưới dạng nước được bơm lên những hồ tích năng
và, vào những giờ thấp điểm, nước ở trong những hồ tích năng đó sẽ được quấy ráo để
sản xuất điện trở lại.
2. Điểm yếu
Khuyết điểm lớn nhất của ngành năng lượng Việt Nam là sự phung phí tài nguyên năng
lượng và khả năng tài chính để đầu tư vào những cơ sở sản xuất năng lượng.
- Chất đốt rắn tái tạo và rác tổng cộng hơn một nửa lượng năng lượng khả dụng đã
được tiêu thụ. Nhưng tỷ lệ đó biểu hiện một nước lạc hậu người dân đốt củi, than củi và
phế liệu của nông nghiệp để nấu thức ăn và dùng vào vài sinh hoạt khác. Rừng cây bị phá
để có củi và than củi. Những phế liệu nông nghiệp bị đốt thay vì dùng làm phân bón tự
nhiên.
Điện là nguyên do chính của những khó khăn hiện nay của Việt Nam về năng
lượng :. Xây một nhà máy thủy điện thì sau này sẽ có điện gần như miễn phí. Nhưng so
với một nhà máy nhiệt điện thì nhu cầu vốn đầu tư cho một đơn vị công suất của một nhà
máy thủ điện cao hơn và thời gian để hoàn tất công trình cũng lâu hơn. Kết quả là một
nhà máy nhiệt điện hoàn vốn mau hơn, vốn hoàn lại đó có thể dùng để xây dựng một
công trình khác. Như thế, một hệ thống nhà máy nhiệt điện có thể tăng trưởng mau hơn là
một hệ thống thủy điện
Một nhà máy thủy điện có thể phản ứng trong vòng vài phút để phát điện hay ngưng phát
điện, một nhà máy nhiệt điện cần đến vài giờ và một nhà máy điện hạt nhân cần đến vài
ngày. Vì thế người ta thường dùng thủy điện để cân bằng mạng phân phối điện chứ ít khi
dùng để sản xuất lượng điện cơ sở. Thêm nữa, lượng mưa có thể biến đổi từ mùa này
sang mùa khác, từ năm này sang năm khác. Dùng thủy điện làm cơ sở thì những mùa hạn
hán, những năm mưa ít sẽ thiếu điện.
- Thay vì có một chính sách năng lượng phù hợp với hoàn cảnh kinh tế và thiên
nhiên, Việt Nam chạy theo thị hiếu đương thời với những dự án phiêu lưu hay, ít ra, lãng
phí tiền của và công lao của người dân.
khi đó năng lượng gió cũng khá hấp dẫn, có thể đạt công suất phát điện khoảng 800-
1.400 kwh/m2/năm trên đất liền, từ 500-1.000 kwh/m2/năm tại các khu vực bờ biển, Tây
Nguyên và phía Nam và dưới 500 kwh/m2/năm ở các khu vực khác. Năng lượng sinh
khối qui đổi cũng vào khoảng 43-46 triệu tấn dầu trong đó 60% đến từ các phế phẩm gỗ
và 4% đến từ phế phẩm nông nghiệp.
Riêng vùng Đồng bằng sông Hồng, nơi vốn bị hạn chế về nguồn năng lượng gió
và năng lượng Mặt trời bởi yếu tố khí hậu thì các nghiên cứu cho thấy năng lượng địa
nhiệt lại tương đối ấn tượng. Nhóm nghiên cứu gồm các Tiến sĩ Đoàn Văn Tuyến, Đinh
Văn Toàn và Nguyễn Đức Lợi thuộc Viện Địa chất (Viện Khoa học và Công nghệ Việt
Nam) cho biết các dấu hiệu địa nhiệt khá phong phú, gồm bồn địa nhiệt vùng Đông Nam-
Tây Bắc với nhiệt độ đạt tới 160oC tại độ sâu 4km (có khả năng sinh điện vào khoảng
1,16% tổng sản lượng điện của Việt Nam sản xuất năm 2006), đới địa nhiệt đứt gãy Sông
Lô-Vĩnh Ninh có nhiệt độ trung bình khoảng 114oC, các nguồn nước địa nhiệt 40-50oC ở
các điểm Hưng Hà, Phù Cừ, Hải Dương, Ba Vì (Hà Nội)…
Theo tính toán của các nhà khoa học, chỉ riêng sử dụng bơm địa nhiệt dùng cho
điều hòa không khí ở Hà Nội cũng sẽ tiết kiệm được khoảng 800 tỉ đồng/năm về mặt kinh
tế và hơn thế nữa là giảm mức phát thải CO2 ở mức tương đương với 252.000 tấn do sử
dụng khí thiên nhiên. Bên cạnh đó, việc khai thác và sử dụng nước nóng ở vùng đồng
bằng sông Hồng với nhiệt độ 40-50oC là hoàn toàn khả thi trong các qui hoạch xây dựng
đô thị mới, công viên du lịch và khu vui chơi, nghỉ dưỡng…
4. Thời cơ
Thời cơ rất thuận lợi cho Việt Nam hợp tác quốc tế trong mọi lãnh vực tài chính, khảo sát
tài nguyên, phát triển công nghệ hạt nhân và nghiên cứu khoa học kỹ thuật.
- Việt Nam đang xuất siêu năng lượng và giá năng lượng cao hiện nay tham gia
vào những cố gắng kiềm chế nhập siêu của toàn bộ ngoại thương. Từ khi gia nhập WTO
(World Trade Organization, Tổ chức Mậu dịch Quốc tế), xí nghiệp nước ngoài ồ ạt đăng
ký đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Một số lớn vốn này có thể được hướng vào những dự
án sản xuất và nghiên cứu triển khai cung ứng và sử dụng năng lượng hợp lý.
- Nhiều nước bạn muốn Việt Nam tham gia vào những dự án năng lượng của họ.
Những mỏ hydrô cácbua ở Trung Đông đã bị các cường quốc công nghiệp và các hãng