Luận văn tốt nghiệp Đề tài
Nghiên cứu máy móc và lao động
trong quá trình sản xuất giá trị
thặng dư
1
Lời giới thiệu V
iệc ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại đã thúc đẩy lực
lợng sản xuất ở những nớc t bản chủ nghĩa phát triển, nhờ đó không những
các tập đoàn t bản độc quyền thu đợc lợi nhuận siêu ngạch cao mà đời sống
của những ngời lao động tại nghiệp cũng đợc cải thiện và hình thành tầng lớp
trung lu trong xã hội.
Sự phát triển của máy móc thành hệ thống máy móc đề ra công xởng. Công
xởng là xí nghiệp đại công nghiệp sử dụng cả một hệ thống máy móc để sản
xuất . Máy móc đợc sử dụng phổ biến trong xã hội thông qua cuộc cách mạng
công nghiệp. Về thực chất, đó là cuộc cách mạng kỹ thuật thay thế lao động thủ
công bằng lao động sử dụng máy móc, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật. Kỹ
thuật cho phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa, bảo đảm sự toàn thắng của chủ
nghĩa t bản với chế độ phong kiến, xác lập sự thống trị tuyệt đối của quan hệ
sản xuất t bản chủ nghĩa trên toàn xã hội.
Phải chăng máy móc tạo ra giá trị thặng d?. C.Mác đã chỉ ra rằng. giá trị của
hàng hoá trong nền kinh tế t bản chủ nghĩa bao gồm giá trị của những t liệu
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
3
sản xuất đã đợc tiêu dùng chuyển sang sản phẩm mới c và lợng giá trị mới do
lao động sống thêm vào trong đó để bù lại t bản khả biến đã đợc dùng để mua
sức lao động (ngang với giá trị sức lao động và m là giá trị thặng d dôi ra ngoài
giá trị sức lao động). Nh vậy, nguồn gốc của giá trị thặng d chỉ là lao động
sống.
Những ngời phản bác học thuyết giá trị thặng d cho rằng điều đó chỉ đúng
trong thời C.Mác còn sống khi lao động thủ công chiếm u thế, còn ngày nay
trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ, máy móc là nguồn gốc chủ yếu
của giá trị thặng d
Sở dĩ có nhận thức sai lầm ấy là do cha phân biệt đợc vai trò của máy móc
với t cách là nhân tố của quá trình lao động và vai trò của máy móc với t cách
là nhân tố của quá trình làm tăng gía trị.
Hàng hoá là một vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con ngời và đi
vào quá trình tiêu dùng thông qua mua- bán. Vì vậy, không phải bất cứ một vật
phẩm nào cũng là hàng hoá. Hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá
trị trao đổi.
lao động cụ thể là tạo ra một công dụng nhất định, tức là tạo ra giá trị sử dụng
của hàng hoá.
Lao động trừu tợng: là lao động xã hội của ngời sản xuất hàng hoá không kể
đến hình thức cụ thể của nó. Các loại lao động cụ thể có điểm chung giống nhau
là sự tiêu hao cơ bắp, thần kinh sau một quá trình lao động. Đó chính là lao động
trừu tợng, nó tạo ra giá trị của hàng hoá.
Tất nhiên, không phải có hai thứ lao động kết tinh trong hàng hoá mà chỉ là lao
động của ngời sản xuất hàng hoá có tính chất hai mặt mà thôi.
Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, tính chất hai mặt của lao động sản xuất
hàng hoá là sự biểu hiện của mâu thuẫn giữa lao động t nhân và lao động xã hội
của những ngời sản xuất hàng hoá. Đó chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất
hàng hoá giản đơn. Mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá giản đơn còn biểu
hiện ở lao động cụ thể với lao động trừu tợng, ở giá trị sử dụng với giá trị hàng
hoá.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
5
Bất cứ quá trình lao động nào cũng là sự kết hợp ba nhân tố chủ yếu: lao động
có mục đích của con ngời, đối tợng lao động, t liệu lao động (quan trọng hơn
cả là công cụ lao động, nhất là công cụ cơ khí hay máy móc). Sử dụng máy móc
càng hiện đại thì sức sản xuất của lao động càng cao, càng làm ra nhiều giá trị sử
dụng (nhiều của cải) trong một đơn vị thời gian.
Nhng khi xét quá trình tạo ra và làm tăng giá trị thì những hàng hoá tham gia
vào đây không còn đợc xét với t cách là những nhân tố vật thế nữa, mà chỉ
đợc coi là những lợng lao động đã vật hoá nhất định. Và dù máy móc (kể cả
rôbớt) quan trọng đến múc nào cũng không thể tự nó chuyển giá trị vào sản
phẩm chứ đừng nói đến việc tạo thêm giá trị.
Chính lao động sống đã cải tử hoàn sinh cho các t liệu sản xuất, trong đó có
mày móc, chuyển giá trị của chúng sang sản phẩm mới theo mức độ đã tiêu dùng
trong quá trình lao động sản xuất. Nhng một t liệu sản xuất không bao giờ
nguồn gốc sinh ra giá trị siêu ngạch, mà không thấy rằng máy móc chỉ là đIều
kiện để thu đợc lợi nhuận siêu ngạch thông qua cạnh tranh.
Thực chất vấn đề sẽ sáng tỏ hơn khi chỉ những xí nghiệp đi trớc trong việc
ứng dụng công nghệ tiên tiến mới thu đợc lợi nhuận siêu ngạch. Khi công nghệ
đó trở thành phổ biến, các đối thủ cạnh tranh đã đuổi kịp trình độ tiên tiến thì giá
trị thị trờng sẽ hạ xuống, hàng hoá rẻ đi, những ngời tiêu dùng đợc hởng lợi
và không có ngời sản xuất nào thu đợc lợi nhuận siêu ngạch nữa.
Nhng động cơ kiếm lợi nhuận siêu ngạch lại kích thích việc ứng dụng công
nghệ mới và một hiệp mới của cuộc cạnh tranh lại tiếp diễn. Nhờ đó, kỹ thuật
tiến bộ không ngừng. Mặt khác, cạnh tranh dới tác động của tiến bộ kỹ thuật tất
yếu dẫn đén phân hoá giàu nghèo. Muốn thu hẹp khoảng cách giàu nghèo nhà
nớc phải thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo, điều tiết thu nhập của dân
c và hỗ trợ những ngời nghèo.
Cũng cần lu ý rằng máy móc là phơng tiện giảm nhẹ nỗi cực nhọc của
ngời lao động, tiết kiệm lao động sống nhng không phải bao giờ máy móc
cũng là đIều kiện để thu đợc nhiều lợi nhuận hơn là sử dụng lao động thủ công.
Khi nói về giới hạn sử dụng máy móc trong chủ nghĩa t bản, C.Mác đã chỉ ra
rằng nhà t bản không trả cho lao động đã sử dụng, mà chỉ trả cho giá trị sức
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
7
lao động đã sử dụng. Cho nên, việc sử dụng máy móc bị giới hạn bởi số chênh
lệch giữa giá trị của chiếc mày và giá trị của sức lao động bị máy đó thay thế. Do
đó, tiền công thấp sẽ ngăn cản việc sử dụng máy móc, bởi vì lợi nhuận bắt nguồn
không phải từ việc giảm bớt lao động đợc trả công. C.Mác đã dẫn ra sự kiện
ngời Mỹ chế tạo ra máy đập đá, nhng ngời Anh không sử dụng máy móc đó
vì sử dụng kẻ khốn khó làm công việc ấy sẽ thu đợc nhiều lợi nhuận hơn.
Việc nhận thức máy móc chỉ chuyển giá trị sang sản phẩm mới theo mức độ
khấu hao chứ không làm tăng giá trị, không những giúp hiểu đúng nguồn gốc
của giá trị thặng d mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý kinh tế.
sức lao động bằng giá trị những t liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống ngời
công nhân và gia đình họ, và những chi phí để đào tạo ngời công nhân có một
trình độ chuyên môn nhất định phù hợp với yêu cầu của sản xuất t bản chủ
nghĩa. Giá trị sức lao động còn có tính lịch sử và xã hội, do đó tuỳ theo điều kiện
cụ thể từng nớc và từng thời kỳ mà giá trị sức lao động có thể cao hay thấp khác
nhau.
b. Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động
: là ở chỗ nó thoả mãn nhu cầu nào
đó cuat ngời mua. Nhng khác với hàng hoá thông thờng khác, hàng hoá sức
lao động có một giá trị sử dụng đặc biệt là khi đem tiêu dùng thì nó tạo ra một
giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó. Phần giá trị lớn hơn đó chính là giá trị thặng
d mà nhà t bản chiếm đoạt.
Quá trình tiêu dùng sức lao động là quá trình lao động diễn ra trong lĩnh vực
sản xuất. Chính trong lĩnh vực này, đồng thời với việc tạo ra những giá trị sử
dụng thì giá trị và giá trị thặng d cũng đợc tạo ra.
3) Phải chăng C.Mác quy công trực tiếp tạo ra giá trị cho lao động thể lực.
Có ngời cho rằng C.Mác và các nhà khoa học tiền bối và cùng thời với
C.Mác trong thời đại máy hơi nớc, máy dệt. . . đều quan niệm của cải đợc lao
động sáng tạo ra là của cải dạng vật thế. Từ đó quy công trực tiếp tạo ra gía trị
cho lao động thực thể và chính C.Mác đã nhấn mạnh của cải vật thể và lao động
thực thể đồng thời đã có nêu luận điểm về của cải tinh thần và lao động khoa
học. Sự kế tục, sáng tạo phải nối tiếp những gợi ý.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
9
Luận điểm trên hoàn toàn sai lầm, do không nắm đợc phơng pháp trình bày
của C.Mác. Khi nói giá trị hàng hoá đợc đo bắng thời gian lao động trung bình
cần thiết hay thời gian lao động xã hội cần thiết. Tức là thời gian đòi hỏi để sản
xuất ra một giá trị sử dụng nào đó trong những đIều kiện sản xuất bình thờng
của xã hội với một trình độ thành thạo trung bình và một cờng độ lao động
nào chăng nữa.
1) Giá trị thặng d:
Nếu việc coi giá trị chỉ là thời gian lao động đã cô đọng lại, chỉ là lao động đã
vật hoá là rất quan trọng để nhận thức đợc giá trị nói chung thì việc coi giá trị
thặng d chỉ là thời gian lao động thặng d đã cô đọng lại. Chỉ là lao động thặng
d đã vật hoá, cũng quan trọng nh để nhận thức giá trị thặng d.
Vì giá trị của t bản khả biến bằng giá trị sức lao động mà t bản đã mua, vì
giá trị sức lao động ấy lại quyết định phần cần thiết của ngày lao động. Còn giá
trị thặng d thì lại do phần thặng ra trong ngày lao động quyết định cho nên giá
trị thặng d so với t bản khả biến cũng bằng lao động thặng d so với lao động
cần thiết hay tỷ suất giá trị thặng d.
m lao động thặng d
v lao động cần thiết
Cả hai vế của tỷ số này biểu thị cùng một tỷ lệ dới những hình thái khác nhau,
trong một trờng hợp thì dới hình thái lao động đã vật hoá, trong trờng hợp
khác thì dới hình thái lao động đang vận động.
Bây giờ nếu chúng ta so sánh quá trình tạo ra giá trị với quá trình làm tăng giá
trị thì chúng ta sẽ thấy rằng quá trình làm tăng giá trị chẳng qua cũng chỉ là quá
trình tạo ra giá trị đợc keó dài quá một điểm nào đó. Nếu quá trình tạo ra giá trị
chỉ kéo dài đến cái đIểm mà ở đó giá trị sức lao động do t bản trả đợc hoàn lại
bằng một vật ngang giá mới thì đó là quá trình giản đơn tạo ra giá trị mà thôi.
Còn nếu nh quá trình tạo ra giá trị vân đợc tiếp diễn quá điểm đó thì nó trở
thành một quá trình làm tăng giá trị.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
11
Với t cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị
thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng hoá. Với t cách là sự thống
nhất giữa quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị thì quá trình sản xuất là
một quá trình sản xuất t bản chủ nghĩa, là hình thái t bản chủ nghĩa của nền
đại biểu chẳng hạn cho một ngày lao động 12 giờ, phần ab là 10 giờ lao động tất
yếu và phần bc là 2 giờ lao động thặng d. Nếu không kéo dài ac ra thì làm thế
nào mà có thể tăng việc sản xuất ra giá trị thặng d lên đợc. Dù lợng ac là cố
định nhng bc hình nh có thể kéo dài ra đợc, nếu không phải bằng cách kéo
dài bc ra ngoài điểm cố định c - điểm này đồng thời cũng là điểm tận cùng của
ngày lao động thì ít ra cũng phải bằng cách lùi điểm xuất phát b về phía a. Giả dụ trong đờng thẳng bb bằng một nửa bc nghĩa là bằng một giờ lao
động. Nếu bây giờ trong ac, điểm b bị đẩy lùi về phía b thì lao động thặng d
trở thành bc, tăng lên một nửa, tăng từ 2 giờ lên 3 giờ dù toàn bộ ngày lao động
vẫn luôn chỉ tính là 12 giờ. Tuy nhiên, việc kéo dài lao động thặng d ra nh thế
từ bc thành bc, từ 2 giờ lên đến 3 giờ cũng không sao thực hiện đợc, nếu không
rút ab thành ab, rút lao động tất yếu từ 10 giờ xuống 9 giờ.
Nh vậy là việc rút ngắn lao động tất yếu tơng xứng với việc kéo dàI lao động
thặng d hay là một phần thời gian lao động mà t trớc đến nay ngời công
nhân vẫn dùng trong thực tế cho bản thân mình, sẽ biến thành thời gian lao động
cho nhà t bản. Thế là giới hạn của nhà t bản sẽ không thay đổi, nhng sự phân
chia lao động thành lao động tất yếu và lao động thặng d sẽ thay đổi.
Sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suất của lao động chúng ta hiểu nói
chung là sự thay đổi trong cách thức lao động. Một sự thay đối làm rút ngắn thời
gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá sao cho một số lợng
lao động ít hơn mà lại còn đợc một sức sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn.
a
c
b
không cung cấp những yếu tố vật chất của những t liệu sinh hoạt đó, thì năng
suất tăng lên cũng không làm ảnh hởng gì đến giá trị của sức lao động cả.
Một hàng hoá mà giá rẻ đi, thì chỉ làm giảm giá trị sức lao động theo tỷ lệ
nhiều ít mà hàng hoá đó đợc dùng để tái sản xuất ra sức lao động đó. áo sơ mi
chẳng hạn là một vật cần thiết bậc nhất, nhng cũng còn nhiều vật cần thiết bậc
nhất khác nữa. Giá áo sơ mi hạ xuống thì chỉ giảm bớt chi tiêu của ngời công
nhân để mua cái vật cá biệt đó thôi. Tổng số những vật cần thiết cho đời sống chỉ
gồm có những hàng hoá nh thế do các ngành công nghiệp khác nhau sản xuất
ra.
Giá trị của từng hàng hoá thuộc loại đó là một phần của giá trị sức lao động,
toàn bộ phần giảm đi của giá trị sức lao động đó thì đợc đo bằng tổng số thời
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
14
gian mà lao động tất yếu đã đợc rút ngắn đi trong tất cả các ngành sản xuất đặc
biệt. Kết quả cuối cùng ở đó, chúng ta coi nh là kết quả trực tiếp và mục đích
trực tiếp. Khi một nhà t bản hạ thấp giá áo sơ mi xuống, chẳng hạn bằng cách
nâng cao năng suất lao động lên thì không nhất thiết nhà t bản có ý định làm
giảm bớt giá trị của sức lao động và do đó rút ngắn ngày lao động mà ngời công
nhân dùng để làm việc cho bản thân.
Nhng rút cục lại chỉ có góp phần làm cho đạt đợc kết quả đó, nhà t bản mới
giúp cho việc nâng tỷ suất chung của giá trị thặng d lên đợc. Phải phân biệt
những xu hớng chung và tất yếu của t bản với những hình thức biểu hiện của
những xu hớng đó.
Việc quy định giá trị theo thời gian lao động là một quy luật bắt buộc đối với
nhà t bản dùng những phơng pháp cải tiến vì quy luật đó buộc anh ta phải bán
hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội của hàng hoá đó. Đó là quy luật cỡng bức của
cạnh tranh, nó bắt buộc những kẻ cạnh tranh với nhà t bản phải dùng phơng
thức sản xuất mới. Vậy là tỷ suất chung của giá trị thặng d rút cục chỉ bị ảnh
hởng, khi việc nâng cao năng suất lao động làm hạ thấp giá cả của những hàng
không gây nên một sự thèm khát cao độ về lao động thặng d. Nhng vấn đề là
phải thu đợc giá trị trao đổi dới hình tháI riêng biệt của nó bằng cách sản xuất
ra vàng và bạc.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.