19
Phần 2. Nghiên cứu về máy sấy tĩnh vỉ ngang ở ĐBSCL Việt Nam
TÓM TẮT
Nghiên cứu này bao gồm các thí nghiệm và điều tra khảo sát về máy sấy tĩnh vỉ ngang với
trọng tâm hiện tượng nứt hạt gạo và so sánh các chế độ sấy đảo gió. Kết quả cho thấy cả hai
máy sấy qui mô sản xuất 8 tấn và qui mô phòng thí nghiệm 20 kg, ảnh hưởng của đảo gió là
giảm sai biệt ẩm độ cuối rất rõ ràng; tuy nhiên, ảnh hưởng này đến thời gian sấy và tốc độ
sấy
là khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê. Sấy cơ học dù là có hay không có đảo gió đều
tốt hơn phơi nắng xét trên phương diện làm giảm nứt hạt. Tuy nhiên, khi so với đối chứng là
mẫu sấy bóng râm, sấy cơ học (có hay không có đảo gió) làm giảm tỉ lệ thu hồi gạo nguyên
và tăng nứt; yếu tố ảnh hưởng chưa cụ thể có thể là do tốc độ sấy. Hiện t
ượng tỉ lệ thu hồi gạo
nguyên giảm không nhất quán, thấp hơn hoặc cao hơn một ít trong mỗi cặp thí nghiệm giữa
đảo gió và không đảo gió; kết quả này không như dự đoán với số liệu sai biệt ẩm độ cuối đã
đo đạc. Thí nghiệm trên máy sấy 4 tấn ở Long An có trang bị bộ thu phụ năng lượng mặt trời
cho chất lượng hạt tốt và minh chứng tính kinh tế
cao. Các kết quả khảo sát chính từ các điều
tra hiện trạng tình hình sử dụng máy sấy tĩnh vỉ ngang ở bảy tỉnh ở ĐBSCL là: xu hưởng tăng
năng suất sấy, vai trò của các nhà chế tạo ở địa phương và cán bộ khuyến nông, sự hỗ trợ của
chính phủ giảm lãi vay mua máy sấy, sấy trong mùa khô và đặc biệt là sự mất cân đối giữa
chi phí sấy và lợi ích sấy.
GIỚI THIỆU
Máy sấy tĩnh vỉ ngang đã có mặt từ lâu trong nền sản xuất lúa ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
(ĐBSCL). Từ mẫu máy đầu tiên trong những năm 1980 đến khoảng 6500 máy vào năm 2007
quả là bước tiến dài. Nhưng không phải tất cả đều đáng lạc quan. Mức độ chấp nhận máy sấy
thay đổi tùy tỉnh, ngay cả các huyện các xã trong một tỉnh đều khác nhau. Tìm ra ra các nguyên
nhân tác độ
cả
i tiến máy này, dùng nguyên vật liệu có sẵn tại địa phương. Năm 1990, có khoảng 300
MSVN ở ĐBSCL, một nửa là ở Sóc Trăng. Nhiều tỉnh khác bắt đầu áp dụng máy này. Năm
1997 một khảo sát do Dự án Danida tiến hành, báo cáo có 1500 MSVN ở ĐBSCL, trong đó 3
tỉnh Kiên Giang, Sóc Trăng, và Cần Thơ chiếm 850 máy, 10 tỉnh còn lại chiếm 650 máy (Bảng
2).
Dự án Danida này ở Cần Thơ và Sóc Trăng đã tăng gấp đôi số lượng máy s
ấy ở mỗi tỉnh, từ 250
máy lên 500 máy trong hai năm 1998-1999 thông qua hoạt động khuyến nông và chương trình
tín dụng. Dự án này kết thúc năm 2001, và được thay bằng Hợp phần sau thu hoạch do Bộ
Nông nghiệp quản lý, và cũng được Danida hỗ trợ các hoạt động khuyến nông. Hợp phần kết
thúc năm 2007. Số MSVN tăng nhanh, năm 2002 có 3000 máy, năm 2006 có 6200 máy. Số
máy sấy ở ĐBSCL chiếm hơn 95 % tổng số máy sấy ở Việt Nam.
Sự phát triển của MSVN trong 25 năm qua theo một mô thức khá thú vị. Trước tiên, một cơ
quan nghiên cứu đưa ra một mẫu máy, trong trường hợp này là ĐHNL. Sau đó, nông dân/ thợ
cơ khí chép mẫu /cải biến/ cải tiến máy. Tiếp theo ĐHNL theo dõi các cải tiến đó, và cho ra
một mẫu máy với nhiều thay đổi và cải tiến đột phá. Chu trình lặp lại.
Các cột mốc về các mẫu thiết kế máy sấy củ
a ĐHNL là:
1982: MSTVN kiểu thông thường, với không khí sấy đi vào buồng gió từ chính
giữa; lò đốt trấu ghi phẳng và buồng lắng tro (Hình 1).
1994: MSTVN kiểu thông thường, với buồng gió bên hông (Hình 2), lò đốt trấu với
buồng lằng xoáy (Hình 3).
2001: MSTVN loại đảo chiều không khí sấy (đảo gió), Hình 5 và 6.
(dự kiến ):
2006: Lò đốt trấu tự động (model NLU-IRRI-Hohenheim, Hình 4)
2007: Bộ thu nhiệt năng lượng mặt trời cho MSTVN.
Các cải biến / cải tiến quan trọng do nông dân th
Drying Air
DOWN
Grain Grain
REVERSIBLE SRA DRYER
0.6m
Floor: 25 sq.m / 8 ton
Hình 5. Nguyên lý sấy đảo gió
Hình 6. Máy sấy đảo gió SRA-10 (10 tấn/mẻ)
ĐHNL đã dẫn đầu khi đưa ra các mẫu quạt sấy hiệu quả, cho cả máy sấy thông thường và
máy sấy đảo gió, đã chuyển giao thiết kế quạt cho 15 nhà sản xuất ở ĐBSCL, trong đó 7 nhà
đã chế tạo ống khảo nghiệm quạt theo tiêu chuẩn Nhật JIS.
22 Chất lượng lúa sấy
Chất lượng lúa sấy được đánh giá bằng nhiều tiêu chí:
Lúa không bị dính tro đen từ lò đốt.
Ẩm độ cuối hạt sấy khá đều phù hợp với yêu cầu bảo quản.
Nếu làm lúa giống, tỷ lệ nẩy mầm cao.
Nếu làm lúa thuơng phẩm, độ nứt vỡ hạt phải tối thiểu.
Tiêu chí đầ
u tiên (không lẫn tro) đã được đáp ứng sau vài năm nhờ các thợ xây lò đốt rút kinh
nghiệm và cạnh tranh nhau vì đây là phản ứng đầu tiên của nông dân.
Tiêu chí thứ hai khá khó đáp ứng do bản thân nguyên lý sấy vỉ ngang. Sai biệt ẩm độ cuối
khoảng 1,5 % giữa lớp trên và lớp dưới được coi là tốt, trong lúc ở máy sấy tháp liên tục sai
biệt 1 % là bình thường. Với MSVN nông dân phải đảo thủ công. Về kỹ thuật, suất lượng gió
C;
và b) Ở 50
o
C vào giờ đầu và ổn định 43
o
C ở các giờ sau. Do năng suất thực tế của lò đốt đã
thiết kế, nhiệt độ sấy khó đạt đến 50
o
C nên trong thí nghiệm nhiệt độ sấy chỉ đạt được
khoảng 48
o
C. Yếu tố sấy có đảo gió và không đảo gió được tiến hành trong tất cả các thí
nghiệm. Ngoài ra một vài thí nghiệm được tiến hành để so sánh đối với phơi nắng trên sân xi
măng với bề dày 7 cm, như thông thường theo nông dân.
23 Độ nứt hạt và tỉ lệ thu hồi gạo nguyên do Vinacontrol phân tích, một đơn vị chứng nhận gạo
xuất khẩu, và Phòng Thí nghiệm Chất lượng Gạo của Bộ môn Công nghệ Hóa học thực hiện
theo qui trình của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) và Đại học Queensland. Mỗi nghiệm
thức được phân tích trên 3 mẫu, mỗi mẫu lấy ngẫu nhiên 50 hạt; các hạt lúa được bóc vỏ trấu
bằng tay và soi
độ nứt bằng kính lúp. Độ tăng độ nứt hạt và giảm tỉ lệ thu hồi gạo nguyên
của mỗi nghiệm thức trên cơ sở mẫu lúa trước sấy được phơi dưới bóng râm đến ẩm độ 14%.
Vấn đề lớn nhất của thí nghiệm là ẩm độ ban đầu của lúa sấy. Chúng tôi đã gặp nhiều khó
khăn trong những mẻ sấy về chất lượng và
ẩm độ ban đầu. Điều này được chứng minh qua 8
mẻ sấy. Ngay cả đối với máy sấy 1 tấn, thí nghiệm 3 yếu tố cũng khó thực hiện do khác nhau
về ẩm độ ban đầu. Cuối cùng chúng tôi đã tiến hành thí nghiệm so sánh theo cặp trên máy
sấy 20 kg có đảo gió và không đảo gió.
Lựa chọn hai máy sấy 8 tấn cho các thí nghiệm này. Một máy sấy có đảo chiều gió được thiết
kế tại trường ĐH Nông Lâm Tp.HCM và được lắp đặt tạ
i HTX Tân Phát A, huyện Tân Hiệp,
tỉnh Kiên Giang vào tháng 07 năm 2006 (Hình 7 và 8). Máy sấy đảo gió do một nhà sản xuất
địa phương chế tạo, thiết kế gần giống mẫu của ĐHNL và lắp đặt tại HTX Tân Thới, TP. Cần
Thơ. Điểm khác biệt là buồng sấy với “ống gió chìm” (Hình 9) để phân bố không khí sấy đồng
đều hơn. Hình 7. Máy sấy vỉ ngang 8-tấn/mẻ, HTX Tân
Phát A, Kiên Giang
Hình 8. Máy sấy vỉ ngang 8-tấn/mẻ với chiều không
khí từ trên xuống
Hình 9. Máy sấy 8 tấn tại HTX Tân Thới, TP. Cần Thơ
Các thí nghiệm tiến hành tại Kiên Giang được kiểm soát tốt hơn nên sẽ được trình bày nhiều
kết quả hơn trong báo cáo này và các kết quả tại Cần Thơ mang tính sơ bộ. Tham khảo các tài
liệu của Phan Hiếu Hiền (2006, 2007, 2008) các chi tiết thí nghiệm.
25
Các thí nghiệm tại Kiên Giang được tiến hành trong hai mùa mưa (tháng 07 năm 2006 và
tháng 07-08 năm 2007), và hai mùa khô (tháng 03 năm 2007 và tháng 03 năm 2008). Các kết
quả chủ yếu như sau:
• Nhiệt độ sấy ổn định và có thể giữ trong vòng ± 3
o
C thường từ giá trị danh nghĩa 43
p hoặc cao hơn một ít ở
mỗi cặp (Hình 12). Kết quả này được xử lý thống kê số liệu tỉ lệ thu hồi gạo nguyên bằng
trắc nghiệm t giữa các mẻ có đảo gió và không có đảo gió cho thấy sự khác biệt là không
có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức 5%. Kết quả này không như dự đoán với kết quả thu
được về sai biệt ẩm độ cuối. Có thể là do mẫ
u xay xát vì thời gian xát trắng là một phút,
các hạt nứt vẫn chưa bị gãy vỡ trong quá trình xay xát.
• Trong cả hai trường hợp (có và không có đảo gió), khi sấy tỉ lệ thu hồi gạo nguyên giảm
và tỉ lệ hạt nứt tăng. Các yếu tố ảnh hưởng chưa được tìm hiểu thỏa đáng do có rất nhiều
yếu tố liên quan khi sấy một khối lượng lúa lớn 8 tấn như độ đồng đều c
ủa lúa, tốc độ sấy
v.v… Dự đoán tốc độ sấy là lý do ảnh hưởng đáng kể (Hình 13), các số liệu cho thấy tốc
Dr ying r ate
0.0
0.5
1.0
1.5
2.0
2.5
3.0
20 22 24 26 28 30
Initial MC, %wb
Air Reversal
No air reversal
Hình 10. Ảnh hưởng của sấy đảo gió đến tốc độ sấy
26
độ sấy thích hợp là trong khoảng 1.0-1/2 %/ giờ. Tuy nhiên, kết quả này cần được kiểm
chứng bằng các thí nghiệm tiếp theo hay các thí nghiệm ở qui mô phòng thí nghiệm.
NAR B6
StDev(AR
)
Head Rice Before drying, % Head Rice After drying, %
Hình 12. Tỉ lệ thu hồi gạo nguyên trước và sau sấy
Effect of Drying rate (AR & NAR)
0
4
8
12
16
20
24
28
32
36
0.8 1.0 1.2 1.4 1.6 1.8 2.0
Drying rate, % /hr
Crack Increase,
Head rice Decrease, %
Grain Crack Increase, % Head Rice Decrease , %
Hình 13. Ảnh hưởng của tốc độ sấy đến tỉ lệ hạt nứt và tỉ lệ thu hồi gạo nguyên
Máy sấy qui mô thí nghiệm
Hai yếu tố ảnh hưởng được nghiên cứu gồm có yếu tố A là ẩm độ cuối với hai mức ẩm độ
(14% ký hiệu X14 và 17% ký hiệu X17). Yếu tố B là chế độ đảo gió với hai mức độ (có đảo
gió AR và không có đảo gió NoAr). Bố trí mỗi trong bốn nghiệm thức (hay kết hợp yếu tố) là
một khối thí nghiệm thực hiện tại cùng một thời gian nhờ
vào hai máy sấy qui mô thí nghiệm
16
17
18
19
20
21
22
23
AR X14 NoArX14 AR X17 NoArX17
AR = Air Reversal; NoAr = No Air reversal.
X14 = Average Final MC 14%
X17 = Average Final MC 17%
Final MC, %w
b
Upper
Middle
Lower
Hình 14. Độ đồng đều ẩm độ
20-8-2008I: 43
o
C. Final MC 17%
10
12
14
16
18
20
22
24
26
28
30
024681012
Drying time, hr
MC , % wb
NoArX14-Bottom
NoArX14-Middle
NoArX14-Top
AR X14-Bottom
AR X14-Middle
AR X14-Top Layer
Hình 16. Các đường cong sấy xuống 14% của các lớp lúa trên cùng, ở giữa và lớp đáy
b. Tốc độ sấy:
Ảnh hưởng của cả chế độ sấy lẫn ẩm độ cuối là không có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức
alpha 5%. Tuy nhiên, ở mức alpha 10%, tốc độ sấy xuống 14% ẩm chậm hơn sấy xuống 17%
một cách có ý nghĩa (Bảng 1, Hình 15 và 16).
-6.38
-8.56
-12.92
22
-20
-18
-16
-14
-12
-10
↓
B =
Đảo gió
A =
Ẩm
cuối↓
B =
Đảo gió
A =
Ẩm
cuối↓
B =
Đảo gió
A =
Ẩm
cuối↓
B = Đảo gió
NoAr AR
NoAr AR
NoAr AR
NoAr AR Ctrl
X14
1.00 0.88
X14
4.20 2.00
X14
B: không quan trọng (giữa các nghiệm thức)
c. Tỉ lệ thu hồi gạo nguyên và tỉ lệ hạt nứt
Khi sấy, dù là có đảo gió hay không cũng làm giảm tỉ lệ thu hồi gạo nguyên và tỉ lệ hạt nứt
tăng so với mẫu sấy đối chứng trong bóng râm. Có thể là do tốc độ sấy quá cao (hơn
1,3%/giờ). Tuy nhiên phân tích hồi qui và vẽ đồ thị (Hình 18) cho thấy không có chiều hướng
nhất định nào. Khi ẩm độ cuối 17% thì hạt bị nứ
t nhiều và tỉ lệ thu hồi gạo nguyên thấp vì
xay lúa không phải ở ẩm độ tối ưu với máy xay trong phòng thí nghiệm.
Effect of Drying rate on rice crack
0
5
10
15
20
25
0.8 1.0 1.2 1.4 1.6
Drying rate , %wb /hr
Rice crack, %
NoAr
AR
Hình 18. Ảnh hưởng của tốc độ sấy đến tỉ lệ hạt nứt
30
Về mặt lý thuyết, tỉ lệ thu hồi gạo nguyên nhiều tương ứng với tỉ lệ hạt nứt thấp và tỉ lệ thu
hồi gạo nguyên nhiều tỉ lệ nứt ít tương ứng với sai biệt ẩm độ cuối nhiều. Vì vậy, dự đoán sai
biệt ẩm độ cuối ít khi sấy đảo gió so với sấy không đảo gió sẽ cho tỉ lệ hạt n
ứt giảm ít hơn và
tỉ lệ nứt ít hơn, nhưng số liệu cho thấy ngược lại (Bảng 1).
23.8 ±1.7 % xuống 14.2 ± 0.8 %.
31
• Nhiệt độ sấy có thể điều chỉnh trong khoảng 38- 44
o
C với lò than đá. Với NLMT, nhiệt
độ sấy đạt 38
o
C khi nắng tốt (nhật chiếu hơn 800 W/m
2
), và chỉ đạt 36
o
C khi trời có mây
(nhật chiếu khoảng 500 W/m
2
, mức tiêu biểu trong mùa mưa). Khi nắng kém, thời gian
sấy kéo dài đến 12 giờ như ở Mẻ 3.
• Phối hợp NLMT và năng lượng than đá rất tiện lợi để kết thúc mẻ sấy trong ngày. Do
mùa vụ thu hoạch tại địa phương thường không quá 25 ngày, không thể “ung dung” với
mẻ sấy dài đến 2 ngày.
• Độ gạo nguyên trong tất cả các mẻ sấy đều tương đương với phơi trong bóng râm, và còn
tố
t hơn với 2 mẻ sấy NLMT, có lẽ do nhiệt độ sấy hơi thấp.
Phân tích sử dụng năng lượng mặt trời trên cơ sở Mẻ 4 và Mẻ 5, cả hai đều sử dụng nguồn
nhiệt kết hợp từ than đá và NLMT, các kết luận như sau:
• NLMT đóng góp giúp tiết kiệm 43– 78 % than đá.
• Tiết kiệm này qui ra tiền bằng 46 000– 82 000 đồng mỗi mẻ (≈ US$ 3– 5 /mẻ
) hay
2 000– 22 000 đồng /tấn (≈ US$ 0.7– 1.3 /tấn).
Số liệu chung:
Bốn tỉnh được khảo sát tương đối giống nhau về khí hậu và các điều kiện nông nghiệp khác.
Nhiệt độ trung bình tháng 27- 28
o
C, tối đa 29
o
C vào tháng Tư và tối thiểu vào tháng Giêng
25
o
C. Nhưng sai biệt nhiệt độ giữa ngày và đêm thì rõ rệt hơn, ví dụ 25 và 36
o
C vào các
tháng nóng, hoặc 23 và 33
o
C trong các tháng mùa mưa. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10,
còn lại là mùa nắng, không Xuân Hạ Thu Đông như ở Bắc bộ. Lượng mưa hàng năm 1 400
mm ở Long-An, và cao hơn ở Cần Thơ và Kiên -Giang, lần lượt là 1 600 and 1800 mm. Ẩm
độ không khí trung bình là 80- 82 %. Điều này chỉ nói rằng đây là khi hậu nhiệt đới, chưa cụ
thể gì liên quan đến sau thu hoạch. Số liệu một ngày tiêu biểu ở Cần Thơ vào tháng 3 nắng
hay tháng 8 mưa, ẩm độ không khí vào ban
đêm rất cao, hơn 90 %; khác hẳn với Australia ẩm
độ nhỏ hơn 70 % ngay cả ban đêm. Ý nghĩa là hạt sẽ hồi ẩm khi bảo quản. Số liệu cho mỗi
tỉnh ghi ở Bảng 2.
Bảng 2. Số liệu khảo sát trên 4 tỉnh
Cần-Thơ Kiên-Giang Long-An Tiền-Giang
Dân số (2005), 1,14 1,65 1,41 1,70
% dân nông nghiệp 50 76 83 85
Diện tích trồng lúa hằng năm , h
a
Giang và Kiên -Giang năm 2002. Hiện tại đã có 400 máy sấy đảo gió ở ĐBSCL, trong đó
khoảng 30 máy là mẫu ban đầu và do Đại học Nông Lâm lắp đặt.
c) Phần trăm lúa sấy bằng máy vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của các tỉnh. Như tại Kiên
Giang trung bình là 24%, nhưng ở một số huyện mới chỉ 3 % lúa thu hoạch vụ hè thu
được sấy bằng máy.
d) Phần trăm lúa sấy b
ằng máy có thể không tương ứng với số lượng máy sấy hiện có,
nhưng phụ thuộc vào thời tiết. Điều này giải thích tại sao tại Cần Thơ lượng lúa sấy bằng
máy mới chỉ từ 10 đến 20 %.
e) Sấy bằng máy không chỉ giảm tổn thất sau thu hoạch mà còn giữ được chất lượng hạt.
Hiện tại, nhiều nông dân, các chủ nhà máy xay, các cán bộ nhận ra điề
u này, khác so với
quan điểm 10 năm về trước.
f) Mặc dù những ưu điểm trên nhưng hiện tại phơi nắng vẫn còn là chủ yếu. Như tại Cần
Thơ, trong khi khả năng đáp ứng về năng suất sấy của các máy sấy đã lắp đặt là 25%
nhưng vẫn chỉ 15% được sấy bằng máy. Thậm chí có nguồn khác cho rằng đến 90% là
phơ
i nắng, trong đó 40% phơi trên sân đất, 40 % phơi trên sân xi măng, và 10 % phơi trên
đường nhựa.
g) Lý do là chi phí sấy, trong khi chất lượng lúa chưa được quan tâm nhiều trong phương
pháp và hệ thống sản xuất ở hiện tại. Số liệu thu thập tại tỉnh Long-An cho thấy trên
Bảng 3.
Từ Bảng 3, một số ghi nhận như sau:
• Trong mùa khô, chi phí sấy bằng máy sấy SRA-4 (98 đồng/ kg) vẫn còn cao hơn đối với
phơ
i nắng thông thường.
• Trong mùa mưa, chi phí sấy máy thì thấp hơn so với chi phí phơi. Do đó, mức phí 5 %
giá trị lúa, hoặc khoảng 130 đồng/kg, qua đó chủ máy có thể thu hồi vốn đầu tư sau 2- 4
năm tuỳ giá trị đầu tư.
Kết quả khảo sát năm 2007:
• Nhu cầu về máy sấy có năng suất lớn từ 12- 20 tấn/ mẻ; phản ảnh bằng yêu cầu lắp đặt
máy sấy 10- 16 tấn trong 2 năm vừa qua, khác với 5 năm trước yêu cầu máy sấy 4- 8 tấn/
mẻ; năm 2007 có yêu cầu máy sấy 20 tấn/mẻ .
• Vai trò của nhà chế tạo tại địa phương và người làm công tác khuyến nông: Tỉnh có số
lượ
ng máy sấy phát triển nhanh như An-Giang và Tiền -Giang có nhiều nhà chế tạo cung
cấp những máy sấy có độ tin cậy và hiệu suất cao cho nông dân. Người làm công tác
khuyến nông có sự hiểu biết sâu về cấu tạo và hoạt động của máy sấy là yếu tố quan trọng
trong việc triển khai ứng dụng những mẫu máy mới.
• Hỗ trợ từ phía Chính phủ, đặc biệt là giảm lãi vay cũng là một yếu tố tác
động đến sự phát
triển máy sấy.
• Thu hoạch vào mùa khô, hiện tại cũng nhiều nơi sấy bằng máy được phổ biến chiếm 30-
90 % như tại huyện Giồng-Riềng, tỉnh Kiên-Giang, huyện Kế-Sách và Mỹ-Tú, tỉnh
Sóc-Trăng, huyện Gò-Công và Chợ-Gạo, tỉnh Tiền-Giang… Nông dân chỉ bán lúa tươi.
• Dự án Danida ở Cần Thơ và Sóc Trăng năm 2001-2006, và Hợp phần sau thu hoạch cho
ĐBSCL đã làm t
ốt việc khuyến nông máy sấy đến nhiều người trong lĩnh vực lúa gạo, với
một tổ chức và phương tiện khá đầy đủ. Khuyến nông vốn là yếu tố hạn chế phổ biến
máy sấy vào những năm 1990, đến những năm 2000 đã đóng vai trò tích cực. Nếu nông
dân vẫn chưa chấp nhận máy sấy, cần xét các yếu tố khác.
Những vấn đề được gi
ải quyết từ năm 2007:
Những dữ liệu và phân tích trên làm nhận ra một vấn đề quan trọng nhất trong khâu sấy tại
các tỉnh, đó là sự mất cân đối giữa chi phí sấy và lợi ích từ khâu sấy
.
35
c) Chính sách: Các yếu tố trên (công nghệ và khuyến nông) chỉ là điều kiện cần nhưng chưa
đủ. Từ cuối xâu chuỗi, thị trường gạo chất lượng cao phải được xác lập, với giá cả phân
biệt rõ rệt. Ti
ếp theo, lợi ích từ giá gạo cao phải được phân bố tương xứng cho cả nông
dân và nhà chế biến/ doanh nghiệp. Chính sách có thể tác động vào các việc này thông
qua các biện pháp tài chính.
Chính sách ảnh hưởng đến toàn hệ thống lúa gạo thì phức tạp và không phải chỉ vài tháng là
có được. Nhưng liên quan đến chương trình CARD, cần thiết lập tại một số tỉnh vài mô hình
trình diễn đồng bộ từ cung cấp nguyên liệu đến sấy đến xay xát, với s
ự tham gia của nông
dân.
36
KẾT LUẬN
Theo dõi việc lắp đặt và tiến hành thí nghiệm với máy sấy vỉ ngang 8 tấn đảo gió ở Kiên
Giang và Cần Thơ, khảo nghiệm và phân tích về độ nứt vỡ hạt trong điều kiện sản xuất thực
tế. Thí nghiệm trên hai máy sấy 20 kg/mẻ trong phòng thí nghiệm để khảo nghiệm theo
cặp: có và không đảo gió và hai ẩm độ cuối. Trong cả hai chế độ, đảo gió làm giảm sai bi
ệt
ẩm độ cuối nhưng thời gian sấy không giảm. Tác động của đảo gió đến tỉ lệ thu hồi gạo
nguyên và hạt nứt không nhất quát và liên quan đến các tương tác với ẩm độ cuối và có thể
là với các yếu tố khác chưa được khảo sát.
Theo dõi đặc tính sấy của một máy sấy tháp lắp đặt tại Long An với bộ thu năng lượng mặt
trời cho kết quả
chất lượng hạt tốt và kinh tế.
Khảo sát nhanh về hiện trạng sử dụng máy sấy vỉ ngang tại 7 tỉnh. Các kết luận chính
gồm: Khuynh hướng tăng năng suất sấy; vai trò của nhà sản xuất và cán bộ khuyến nông
địa phương ; sự hỗ trợ của Nhà nước với việc giảm lãi suất vay làm máy sấy; và sấy máy
trong vụ Đông Xuân.
International Conference on Crop Harvesting and Processing, 9-11 February 2003
(Louisville, Kentucky USA) ASAE Publication Number 701P1103e.
Phan Hieu Hien. 2006, 2007, 2008. Flat-bed dryer Sub-Component Reports to CARD
Project. Nong-Lam University (unpublished),
Phan Hieu Hien, Le Quang Vinh, Tran Thi Thanh Thuy. 2007. The Solar Macaroni Dryer.
Proceedings of the International Conference on Crop Harvesting and Processing, 11-14
February 2007 (Louisville, Kentucky USA). ASABE Publication Number 701P0307e
RNAM (Regional Network for Agricultural Machinery. 1991. RNAM Test codes and
procedures for farm machinery: Part 16 (Batch Dryer).