Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Cải tiến thị trường nội tiêu và xuất khẩu trái cây Việt Nam thông qua cải tiến chuỗi cung ứng và công nghệ sau thu hoạch - MS8" - Pdf 15


1

Ministry of Agriculture & Rural Development
BÁO CÁO TIẾN ĐỘ CARD 050/04/VIE

“Cải tiến thị trường nội tiêu và xuất khẩu trái cây
Việt Nam thông qua cải tiến chuỗi cung ứng và công
nghệ sau thu hoạch”

MS8: Báo cáo sáu tháng lần thứ 5 Tháng 1 năm 2008 1
Mục lục trang

1. Thông tin về tổ chức 1
2. Tóm tắt dự án 3
3. Tổng kết của chuyên gia 3

Lãnh đạo phía Việt Nam
Thạc Sỹ Nguyễn Duy Đức
Đối tác Australia
Bộ Công Nghiệp Cơ Bản Và Thuỷ Sản Bang
Queensland
Nhân sự phía Australia
 Ông Robert Nissen
 TS. Peter Hofman
 Ông Brett Tucker
 Ông Roland Holmes
 Cô Marlo Rankin
Ngày bắt đầu
6/2005
Ngày kết thúc (theo kế hoạch)
5/ 2008
Ngày kết thúc (chỉnh sửa) 6/2008
Thời điểm nộp báo cáo trước Báo Cáo Sáu Tháng Lần 4, Tháng 9/2007
Người liên hệ
Tại Australia: Giám đốc dự án
Tên:
Ông Robert Nissen
Điện thoại:
+61 07 54449631
Vị trí:
Giám đốc dự án
Fax:
+61 07 54412235
Tổ chức:
Bộ Công nghiệp Cơ bản và Thuỷ
sản Bang Queensland

Tổ chức:
Phân Viện Cơ Điện Nông Nghiệp
Công Nghệ Sau Thu Hoạch (SIAEP)
Email:
2
2. Tóm tắt dự án

3. Tổng kết của chuyên gia:

Hiện nay các cán bộ của SIAEP và SOFRI đang áp dụng các kế hoạch chiến lược được dự án
CARD xây dựng trong thời gian trước.

Bốn cán bộ tham gia dự án CARD cũng như lãnh đạo SOFRI đã có cơ hội tham dự Hội thảo
quốc tế về “Nâng cao hiệu quả của các Hệ thống cung ứng tại các nền kinh tế đang chuyển
đổi nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trườ
ng” do Hiệp hội Quốc tế về khoa học
trồng trọt và Quản lý hệ thống cung ứng tổ chức tại Hà Nội từ 23-27/9/2007. Các cán bộ dự
án của SOFRI đã trình bày nhiều tham luận tại hội thảo, trong đó có một bài về Phân tích hệ
thống cung ứng ngành trái cây nhiệt đới và cận nhiệt đới bằng Phương pháp đánh giá SWOT.
Áp dụng tại Việt Nam. Một bài tham luận đáng chú ý nữa là Tác động c
ủa Qui trình canh tác
nông nghiệp tốt GAP đến thị trường trái cây nội địa và xuất khẩu của Việt Nam.

Vào tháng 1/2008, dự án đã tiếp xúc với Công ty Metro Cash & Carry Việt Nam (cụ thể là
gặp bà Lê Thị Minh Trang trưởng phòng quản lý chất lượng, và ông Stephan Maurin, trưởng
ngành hàng thực phẩm) để thiết lập kênh cung ứng sản phẩm cho các nông dân trồng xoài cát
Hòa Lộc của hai hợp tác xã tham gia dự án.

Rau quả thường mang lại lợi nhuận cao hơn nhiều so với trồng cây lương thực hay chăn nuôi.
Đặc biệt các nông hộ qui mô nhỏ có thể phát huy lợi thế cạnh tranh của mình (lao động dồi
dào) và khắc phục điểm yếu (diện tích đất nhỏ, xa thị trường), khi canh tác sản phẩm giá trị
cao như rau quả. Điều này rất phù hợp với điều kiện ở khu vực đồ
ng bằng sông Cửu long và
duyên hải miền Trung của Việt Nam.

Ford và cộng sự (2003) đã chỉ ra những điểm yếu chính của ngành sản xuất trái cây Việt
Nam. Đó là chất lượng sản phẩm thấp và không đồng đều, chưa có tiêu chuẩn chất lượng,
công nghệ canh tác và chế biến sau thu hoạch nghèo nàn lạc hậu, thiếu phối hợp trong sản
xuất tiêu thụ, thiếu thông tin và hệ thống cung ứng, giá cả và nhu c
ầu khách hàng.

Dự án đang cố gắng khắc phục những đểm yếu nêu trên thông qua sự phối hợp với các Viện
nghiên cứu (SIAEP và SOFRI), nông dân trồng xoài và bưởi ở miền Nam. Dự án quan tâm
đến toàn bộ hệ thống cung ứng và tập trung vào những khâu quan trọng trong lĩnh vực trước
và sau thu hoạch, marketing.

Mục tiêu của dự án là:

• Cải tiến công nghệ trước thu hoạch để nâng cao chất lượng quả (quả
n lý dịch hại
tổng hợp, quản lý mùa màng, kiểm soát ruồi đục quả, chỉ số thu hoạch, giảm dư
lượng thuốc BVTV, nâng cao sức khoẻ người trồng và bảo vệ môi trường).
• Cải tiến công nghệ sau thu hoạch cho Xoài và Bưởi (quản lí nhiệt độ kho, đóng gói,
xử lý nhiệt, xông khí etylen, bao trái, đánh bóng, đảm bảo chất lượng).
• Cải tiến tiêu chuẩn chất lượng và hệ thố
ng đảm bảo chất lượng áp dụng cho xoài và
bưởi. Phương pháp luận có thể áp dụng cho những loại sản phẩm khác.
• Nhận dạng hệ thống cung ứng hiện nay đối với thị trường nội địa và xuất khẩu,

Các kế hoạch chiến lược về xoài và bưởi do dự án xây dựng hiện đang được cán bộ dự án của
SIAEP và SOFRI thực hiện. Đây là những hoạt động được qui định trong các hoạt động của
dự án (mục 3, 4, 6, 7, 8, 11, 12 và 13) và những điểm mốc của dự án (mục 4, 7, 9 và 10)

Năm ưu tiên hàng đầu cho ngành xoài (xếp theo thứ
tự ưu tiên giảm dần)
1. Tăng sản lượng (thực hiện theo qui trình GAP)
2. Tăng cường liên kết bốn nhà: nhà nông-thương lái, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học
và nhà nước.
3. Cập nhật thông tin thị trường cho thị trường trong nước và xuất khẩu
4. Nâng cao kỹ thuật đóng gói và bảo quản để tăng thời gian sử dụng và giá trị sản
phẩm, giảm tổn thất sau thu hoạch.
5. Qui hoạch vùng trồng để đảm bảo nguồn cung

Năm ưu tiên hàng đầu cho ngành bưởi (xếp theo thứ tự ưu tiên giảm dần)
1. Hỗ trợ kỹ thuật từ khâu gieo trồng đến khi thu hoạch (theo qui trình GAP)
2. Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm
3. Qui hoạch vùng trồng
4. Đào tạo về IPM
5. Nâng cao khả năng áp dụng kỹ thuật trong khâu thu hoạch, đ
óng gói và vận chuyển.

Trong thời gian tháng 9&10 năm 2007 cũng như tháng 1&2 năm 2008, chuyên gia Úc và cán
bộ dự án của SIAEP và SOFRI đã tiến hành tập huấn cho một số nông dân trồng xoài và
bưởi.

Nội dung tập huấn bao gồm:
• Qui trình GAP áp dụng cho xoài và bưởi (bao gồm nội dung IPM và IDM)
• Kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch xoài, bưởi
• Tăng cường liên kết giữa các tác nhân tham gia chuỗi cung ứng.


Ông Nissen cũng trình bày 02 báo cáo tham luận tại Hội thảo này, trong đó có một báo cáo
về Quá trình phát triển của các chuỗi cung ứng trái cây tại khu vực Đông Nam Á. Bài viết
này liên quan đến mốc 4 và 7, trong đó phương pháp luận và kỹ thuật phân tích chuỗi cung
ứng được trình bày một cách chi tiết nhằm có thể sử dụng như những công cụ cho việc nâng
cấp chuỗi cung ứng ở khu vực. Chi tiết v
ề bài viết này được ghi trong phần Phụ lục A của
báo cáo.

Xây dựng kênh cung ứng mới
Vào tháng 1/2008, dự án đã tiếp xúc với Công ty Metro Cash & Carry Việt Nam (cụ thể là
gặp bà Lê Thị Minh Trang trưởng phòng quản lý chất lượng, và ông Stephan Maurin, trưởng
ngành hàng thực phẩm) để thiết lập kênh cung ứng sản phẩm cho các nông dân trồng xoài cát
Hòa Lộc của hai hợp tác xã tham gia dự án. Điều này liên quan đến các hoạt động số 8, 9, 10
và 13 trong khuôn khổ ưu tiên 3 và 4 của kế ho
ạch lược mà dự án đã vạch ra đối với sản
phẩm xoài.

Các khóa đào tạo và tập huấn cho nông dân
Đào tạo nông dân trong tháng 9&10/2007
Các khóa đạo tạo nông dân được thực hiện bởi cán bộ của SIAEP và SOFRI với sự tham gia
hướng dẫn của chuyên gia Úc. Các khóa tập huấn được triển khai ở thành phố Mỹ Tho, tỉnh
Tiền Giang và thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa cho nông dân trồng xoài và bưởi. Các
khóa tập huấn được tiến hành trong hai ngày với nội dung như
sau:
Ngày 1 về kỹ thuật trước thu hoạch
• Giới thiệu khái niệm về chuỗi cung ứng
• Phân tích chuỗi cung ứng trái cây của Việt Nam
• Kỹ thuật trước thu hoạch theo qui trình GAP
• Thiết kế vườn cây ăn trái

xây dựng trước đó. Danh sách học viên được thể
hiện ở phụ lục C.

Phát triển hệ thống cung ứng mới cho xoài và bưởi

Bên cạnh các hoạt động tập huấn đào tạo đã nêu, trong các chuyến công tác tháng 9&10/2007
và 1&2/2008, các chuyên gia Úc đã phối hợp với cán bộ dự án tiếp tục hoàn thiện việc phân
tích dữ liệu điều tra và xây dựng hướng dẫn hệ thống chất lượng trên cơ sở tham khảo ý kiến
đóng góp của các tác nhân tham gia chuỗi cung
ứng. Đặc biệt trong buổi tiếp xúc với đại diện
của công ty Metro Cash & Carry Việt Nam vào tháng 2/2008, những hệ thống tiêu chuẩn
chất lượng được trình bày với phía Metro để có thể đáp ứng nhu cầu nhập hàng của họ về
chất lượng. Hoạt động này liên quan đến các hoạt động dự án số 8, 9, 10, 11, 12 và 13, cũng
như mốc hoạt động số 4 của dự án theo như gợi ý của Ban quản lý các dự
án CARD trong
khi phê chuẩn dự án số MS6. Phân tích kinh tế xã hội của chuỗi cung ứng:

Trong thời gian công tác tháng 9&10/2007 cũng như 1&2/2008, chuyên gia Úc tiếp tục phối
hợ cùng cán bộ dự án của SOFRI và SIAEP tiến hành thu thập thông tin thị trường, các vấn
đề kinh tế xã hội có liên quan đến quá trình nâng cấp chuỗi cung ứng ở khu vực Đồng bằng
sông Cửu Long. Hoạt động này liên quan đến các hoạt động dự án số 8, 9, 10, 12 và 13, cũng
như mốc hoạ
t động 7, 9 và 10.

Đánh giá kết quả tập huấn

Việc đánh giá kết quả của 08 khóa tập huấn được thực hiện bằng hệ thống ORID, qua đó

• Khả năng áp dụng thông tin: dao động trong khoảng 90% đến 95%, trong đó trung
bình 92% học viên cho rằng họ sẽ áp dụng ki
ến thúc đã học.
• Sự tự tin của học viên: dao động từ 90% đến 100%, trong đó 95% học viên cho biết
họ sẽ thêm tự tin nếu như tiếp tục được tham dự những khóa đào tạo tiếp theo.
• Rào cản về văn hóa: Dao động trong khoảng 34% đến 47%, trong đó 40% số học viên
cho rằng có một số trở ngại về văn hóa trong việc áp dụng kiến thức đượ
c học (đã
được áp dụng thành công ở Úc) vào điều kiện Việt Nam, 20% không biết chắc và
40% cho biết không có trở ngại gì trong việc áp dụng công nghệ sau thu hoạch của
Úc vào điều kiện Việt Nam. Đối với nội dung quản lý vườn cây và kỹ thuật canh tác
trước thu hoạch, 50% cho rằng có sự khác biệt văn hóa, 30% không chắc chắn và
20% cho biết không có khác biệt gì.
• Kiến thức của giảng viên: 77% học viên cho rằng trình độ
của giảng viên rất tốt, 23%
cho rằng tốt.
• Đáp ứng mong đợi của học viên: 77% số học viên cho rằng các nội dung tập huấn đáp
ứng hoàn toàn các mong đợi của họ, trong khi 23% cho rằng các mong đợi của họ về
khóa tập huấn được đáp ứng khá tốt.

Các tài liệu tập huấn đã được dự án CARD cung cấp

Những tài liệu tập huấn theo nhu cầu đã đượ
c thực hiện cho đến nay gồm :

1. Giới thiệu về chuỗi cung ứng.
2. Xây dựng chuỗi cung ứng.
3. Nâng cao cơ hội thị trường cho trái cây Việt Nam thông qua cải tiến hệ thống cung
ứng.
a. Kế hoạch chiến lược.

c. Hệ thống kênh mương
d. Định vị hàng cây
e. Hệ thống tỉ
a cành
f. Chăm sóc cây con
g.
8. Cẩm nang bảo quản sau thu hoạch
a. Biến đổi sinh lí sau khi thu hoạch
i. Quá trình chín và suy giảm chất lượng
ii. Những tác nhân chính gây tổn thất sau thu hoạch
iii. Công nghệ sau thu hoạch
1. Giới thiệu về sinh lí trái sau khi thu hoạch
2. Thu hoạch và đóng gói tại vườn
3. Vận hành nhà đóng gói sơ chế
4. Ủ chín và bảo quản
5. Vậ
n chuyển xoài
6. Nhận biết thị trường
7. Nguyên nhân và giải pháp cho những khuyết tật xảy ra sau thu
hoạch
9. Xây dựng chương trình tập huấn cho nông dân trồng xoài và bưởi ở Việt Nam
10. Phân tích hiệu quả kinh tế tại nông hộ
11. Thiết kế vườn cây ăn trái cho xoài và bưởi
12. Sổ tay dành cho nông dân trồng cây có múi về tỉa cành tạo tán
13. Sổ tay dành cho giảng viên về tỉa cành tạo tán cây có múi
14. Sổ tay về dịch hại và bệnh trên cây có múi
15. Sổ tay hướng dẫn sử dụng hóa chất
16. Sổ tay quản lý dịch hại trên cây xoài
17. Sổ tay dành cho giảng viên về tối ưu hóa chất lượng xoài.



• Điểm mốc 1: tháng 6/2005
o Hợp đồng đã được kí kết
• Điểm mốc 2: tháng 1/2006
o Nộp báo cáo Sáu tháng lần 1 và đã được chấp nhận
• Điểm mốc 3 : tháng 7/2006
o Nộp báo cáo sáu tháng lần 2 và đã
được chấp nhận
• Điểm mốc 4 : tháng 1/2007 Chưa nộp báo cáo vì một số công việc chưa hoàn thành
o Xây dựng phương án luận, kỹ năng phân tích và tài liệu tập huấn về chuỗi
cung ứng.
o Xác định chuỗi cung ứng xoài và bưởi.
o Chiến lược hoạt động cho xoài và bưởi.
o Sổ tay về kỹ thuật sau thu hoạch và biến đổi sinh hóa lý trên trái (đã hoàn tất)
o S
ổ tay đảm bảo chất lượng xoài và bưởi (đang hoàn tất giai đoạn cuối)
• Điểm mốc 5: tháng 1/2007
o Nộp báo cáo sáu tháng lần 3 và đã được chấp nhận
• Điểm mốc 6: tháng 9/2007
o Nộp báo cáo sáu tháng lần 4 và đã được chấp nhận
• Điểm mốc 7 : Chưa nộp báo cáo vì một số công việc chưa hoàn thành
o Những vấn đề c
ần lưu ý khi tiến hành nâng cấp chuỗi cung ứng đối với một số
sản phẩm trái cây cụ thể (đã hoàn tất như là một phần của kế hoạch chiến lược
nâng cấp chuỗi)
o Xác định vai trò, trách nhiệm và khung thời gian triển khai các hoạt động
nâng cấp chuỗi
o Hoàn tất bộ tài liệu hỗ trợ bao gồm – (i) công cụ đào tạo nông dân và (ii) tài
liệu tuyên truyền nâng cao nhậ
n thức

• Hiện nay bưởi chủ yếu đươc tiêu thụ ở thị
trường địa phương. Nếu muốn có thu nhập
tốt hơn nông dân cần khai thác cơ hội thị trường ở TP.HCM và các tỉnh phía Bắc.
Ngoài ra nông dân cũng có thể lập thành các nhóm liên kết ngang và tìm cách bán
hàng trực tiếp cho người tiêu dùng.

Lợi ích kinh tế của việc trồng xoài chất lượng cao

Cán bộ SOFRI cũng đã tiến hành phân tích hiệu quả kinh tế của việc nâng cao chất lượng
xoài cát Hòa Lộc cho thị trường mục tiêu là thành phố Hồ
Chí Minh. Việc kiểm chứng được
thực hiện qua kênh tiêu thụ truyền thống để xem thương lái cũng như người tiêu dùng có sẵn
lòng trả giá cao hơn cho sản phẩm chất lượng tốt hay không. Việc khảo sát được tiến hành từ
tháng 5 đến tháng 8 năm 2007 qua việc chọn ngẫu nhiên xoài từ những mẫu vườn khác nhau.
Mẫu là xoài được bao bằng loại bao do Đài Loan sản xuất.

Những trái được bao chi được phun hóa chất m
ột lần trước khi bao, trong khi mẫu đối chứng
là những trái không bao được phun thuốc thêm bảy lần. Kết quả là những trái được bao
không còn dư lượng hóa chất và do đó hoàn toàn an toàn để sử dụng khi đến tay người tiêu
dùng. Việc bao trái đã giảm 87% chi phí mua thuốc BVTV, cho trái có chất lượng tốt hơn
(xem bảng 1) và do đó được bán với giá cao hơn.

Bảng 1. So sánh tỉ lệ trái từng loại khi xoài được bao
Loại Khi bao trái (%) Khi không bao trái (%) % chênh lệch
Loại 1 60 40 20
Loại 2 30 40 10
Loại 3 10 20 10
• Chuỗi cung ứng mới với cách đóng gói và vận chuyển mới
• Chuỗi cung ứng mới cung cấp hàng cho các siêu thị như Metro.

Hai hợp tác xã trồng xoài cát Hòa Lộc sẽ thử nghiệm việc cung ứng hàng cho Metro vào
tháng 5 và 6/2008 trong đó sẽ sử dụng bốn loại bao bì dành riêng cho từng loại sản phẩ
m từ
“siêu hạng”, đến loại ba.

Trái cây sẽ được phân loại và đóng gói theo hướng dẫn chất lượng đã được dự án biên soạn
với sự tham gia của các tác nhân tham gia chuỗi. Sau đó hàng sẽ được hai hợp tác xã chuyển
tới siêu thị Metro bằng xe lạnh. Điều này sẽ hình thành mội chuỗi cung ứng mới mang tính
thử nghiệm trong đó toàn bộ qui trình bảo quản lạnh sẽ được áp dụng. Việc đ
ánh giá chất
lượng sản phẩm sẽ được cán bộ dự án của SIAEP và SOFRI thực hiện tại từng khâu của
chuỗi, và nhân viên phụ trách chất lượng của METRO sẽ thông báo lại cho dự án về chất
lượng sản phẩm khi đến tay người tiêu dùng.

Có cơ sở để hy vọng rằng hoạt động thử nghiệm này sẽ mang lại kết quả tích cực cho người
dân về kinh tế và cách thức ti
ếp cận với thị trường. Hoạt động này liên quan đến các hoạt
động dự án số 8, 9, 10, 11, 12 và 13, cũng như mốc hoạt động số 4 của dự án theo như gợi ý
của Ban quản lý các dự án CARD trong khi phê chuẩn dự án số MS6.

Nâng cao năng lực
Quá trình tổ chức hội thảo

Trong đợt tập huấn tháng 9&10/2007 và 1&2/2008, ngoài cán bộ nghiên cứu của SIAEP và
SOFRI còn có các đối tượng khác tham gia như nông dân, thương lái và cán bộ khuyến nông.
Tất c
ả bốn nội dung tập huấn đều được tổ chức theo phương pháp có sự cùng tham gia của

o Tỉa cành tạo tán
o IPM
o IDM
• Kỹ thuật sau thu hoạch cho xoài
o Xử lý sau thu hoạch cho xoài (biến đổi sinh lý sau khi thu hoạch)
o Thu hái
o Phân loại
o Đ
óng gói
o Tồn trữ
o An toàn thực phẩm

• Xây dựng hướng dẫn đảm bảo chất lượng cho xoài và bưởi ở Việt Nam
• Đánh giá và phân tích kinh tế xã hội liên quan đến chuỗi cung ứng
• Tổng kết những phát hiện về chuỗi cung ứng mới
o Xây dựng chuỗi cung ứng mới
o Xem xét kế hoạch hành động
o Lấy mẫu và đi
ều tra
o Kế hoạch hành động cho 6 tháng tiếp theo

11 đợt tập huấn trên được tiến hành vào các ngày:
• 1/10/2007: hội thảo 1
• 2/10/2007: hội thảo 2
• 3 /10/2007: hội thảo 3
• 4/10/2007: hội thảo 4

13
• 5/10/2007: hội thảo 5
• 8/10/2007: hội thảo 6

ủa xoài sau khi thu hoạch và phương thức bảo quản
• Xây dựng chương trình tập huấn cho nông dân trồng xoài và bưởi ở Việt Nam
• Xây dựng hướng dẫn đảm bảo chất lượng cho xoài và bưởi ở Việt Nam
• Đánh giá và phân tích chuỗi cung ứng sản phẩm xoài và bưởi ở Việt Nam
• Quản lý bệnh hại trên xoài
• Sổ tay đồng ruộng về bệnh và dịch hại trên xoài
• Qu
ản lý dịch hại trên cây xoài
• Sổ tay quản lý dịch hại trên xoài
• Sổ tay tối ưu hóa chất lượng xoài khi thu hoạch và tài liệu tập huấn dành cho nông
dân.

Trong thời gian ông Nissen ở Việt Nam, SIAEP đã tiến hành khóa đào tạo cho các nước
SEAN về Công nghệ sau thu hoạch rau quả (từ ngày 13-26/1/2008) cho học viên đến từ 10
nước ASEAN (trừ Singapore). 5 cán bộ của SIAEP đã tham gia giảng dạy và 04 người khác
hướng dẫn thí nghiệm. Ông Nissen cũng tham gia giả
ng một số nội dung. Các tài liệu do dự
án CARD xây dựng đã được sử dụng làm tài liệu tập huấn và được học viên đánh giá cao.

14
Xuất bản
Hai bài báo đã được viết và gửi cho bộ công nghiệp cơ bản và thuỷ sản (DPI&F), trong đó 1
bài sẽ được đăng trong báo cáo thường niên của bộ. Bài báo này điểm lại những hoạt động
mà DPI&F đã thực hiện ở Việt Nam từ nguồn tài trợ của cho chương trình CARD của
AusAID. Ngoài ra, ông Nissen còn giới thiệu về dự án trên trong hai cuộc hổi thảo quốc tế là
Hội nghị
vùng khu vực châu Á và Thái Bình Dương về rau quả do Tổ chức lương nông thế
giới (FAO) tổ chức tại Chiang Mai, Thái Lan và Hội nghị về trồng trọt tổ chức ở Hà Nội vào
tháng 9/2007.



Vì những lý do nêu trên, chúng tôi kính đề nghị Ban quản lý dự án chương trình CARD cho
phép gia hạn thời gian thực hiện dự án thêm 03 tháng để chúng tôi có thể hoàn tất những
công việc còn dang dở. Chúng tôi không đề nghị cấp thêm kinh tế. Xem phụ lục C để tham
khảo khung thực hiện.

6. Báo cáo về những vấn đề liên quan
Môi trường
Những vấn đề môi trường được nhận dạng trong những báo cáo trước vẫn là quan ngại lớn
của nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long. Đó là: 15
• Việc sử dụng quá mức thuốc bảo vệ thực vật và chất kích thích tăng trưởng, số lượng
phân bón sử dụng và hình thức bón phân chưa thật sự thân thiện với môi trường (kể
cả phân hữu cơ và vô cơ).
• Hình thức xen canh và kết hợp chăn nuôi - trồng trọt kiểu truyền thống còn rất phổ
biến, làm trở ngại quá trình áp dụng cái mới.

Việc xâm mặn ngày càng nghiêm trọng hơn.
• Hạn chế trong việc sử dụng và quản lí nguồn nước (ví dụ phóng uế, vứt xác động vật
và xả rác bừa bãi xuống nguồn nước). Việc phun thuốc trong sản xuất nông nghiệp

Việc hiểu rõ về các mối nghi hại của hình thức sử dụng phân bón cũng như thuốc bảo vệ thực
vật đóng một vai trò h
ết sức quan trọng trong việc tìm ra giải pháp. Mặc dù trong các cuộc
điều tra nông hộ do dự án thực hiện người nông dân không nêu rõ các mối nguy hiểm thường

người ta vẫn gắn với phương thức canh tác phổ biến.

Cũng có một vài phương thức để thay đổi tập quán c
ũ, và chúng tôi cho rằng việc đào tạo cho
nông dân về IPM/IDM sẽ có những đóng góp đáng kể vào tiến trình này. Việc hình thành hệ
thống giám sát đánh giá sẽ làm giảm đáng kể số lượng và tần suất sử dụng hóa chất. Hệ
thống giám sát cần nêu rõ:
• Điều kiện thời tiết
• Lấy mẫu bệnh và dịch hại phổ biến trong vườn

16
• Xây dựng ngưỡng dịch hại gây tổn thất kinh tế (chỉ áp dụng xịt thuốc khi vượt
ngưỡng)
Thiết kế vườn cây ăn trái.
Dự án phát hiện ra rằng phần lớn vườn cây ăn trái ở Việt Nam không được thiết kế và bảo
dưỡng đúng cách với quá nhiều cây lớn. Việc không được tỉa cành tạo tán đúng cách đưa đến
những hệ quả sau:

• Tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển
• Tăng khả năng kháng thuốc của sâu bệnh.
• Gây ô nhiễm nguồn đất và nước do phải sử dụng nhiều hoá chất

Đợt tập huấn cho nông dân trồng xoài và bưởi về cách thức thiết lập vườn cây ặn trái được
tiến hành tháng 9&10/2007. Nhiều nông dân đã tích cực thảo luận về cách thức cải tạo vườn
vì họ đã hiểu nếu áp dụng đúng qui trình thì sẽ giảm đáng kể các mối nguy hại. Nhiều nông
dân cho biết đã lên kế hoạch cải tạo vườn cây của mình.


t định có ảnh hưởng tới
rủi ro của các thành viên. Các phương pháp nghiên cứu và gói công nghệ nhập khẩu cần phải
được thử nghiệm và điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện địa phương. Nếu tất cả các nguồn

17
tài chính bị chặn, nhiều nông dân, người thu gom, người bán sỉ (thành viên) sẽ chuyển sang
sản phẩm khác dễ dàng hơn

Sự phát triển các mô hình từ trên xuống dưới được dẫn dắt bằng các câu hỏi kỹ thuật sẽ
không được chấp nhận hoàn toàn vì không liên quan tới hoàn cảnh cụ thể ở địa phương.
Nhiều nhà nghiên cứu và cơ quan khuyến nông đã không hợp tác đầy đủ với nông dân vì ngại
không đủ kinh phí
để tiếp cận thực tế. Hỗ trợ thông tin kỹ thuật và thị trường là điều cơ bản
cho sự thành công của nông dân. Nhiều nông dân được hỗ trợ về thông tin chung chung chứ
không có thông tin cụ thể về khối lượng thị trường và chất lượng sản phẩm. Trong nhiều
trường hợp thông tin nhận được duy nhất từ những người thương lái. Những thương lái Việt
Nam còn làm nhiệm vụ
khác ngoài việc bán hàng, họ thường cho nông dân nhỏ vay tiền. Bấy
kỳ sản phẩm nào không bán được đều trả lại cho nông dân sẽ tốt hơn là tiếp tục cho lưu
thông. Các rắc rôi hoặc giá cả không được như mong muốn gặp phải trong chuỗi cũng nên
phản hồi lại cho nông dân. Điều có thể tin là sẽ xảy ra là cung vượt cầu. Nhiều thành viên của
chuỗi trả giá rẻ hơn hoặc mua sản phẩm kém ph
ẩm chất hơn và bán với giá cao hơn để thu
nhiều lợi nhuận hơn. Điều này làm thiệt hại cho hệ thống canh tác mới, giảm tinh thần kinh
doanh của nông dân nhỏ và giảm lòng tin vào thị trường.

Các vấn đề ảnh hưởng tới sự chấp nhận kỹ thuật canh tác mới ở Đồng Bằng Sông Cửu Long,
Việt Nam có quan hệ tới mục tiêu và vốn đầu tư của nông dân, người thu gom, ng
ười bán sỉ
là nhỏ hay lớn. Nhiều nông dân tin rằng kỹ thuật quản lý và canh tác hiện đại (sử dụng phân

ở các chợ đầu mối
cũng nhu chợ bán lẻ là nữ giới (chiếm khoảng 85%) vì thế trong tất cả các nội dung đào tạo
số lượng nữ tham gia luôn chiếm tỉ lệ cao trên 50%. 18
Trong thành phần cán bộ dự án một tỉ lệ lớn nhân viên của SIAEP và SOFRI tham gia dự án
là nữ giới. Trong những hoạt động tập huấn gần đây số lượng nữ, nhất là các cán bộ trẻ nhân
viên luôn chiếm khoảng 50%. Những nhân viên này luôn tỏ ra năng động sáng tạo và tỏ ra
không kém các đồng nghiệp nam trong quá trình học tập cũng như thực hành. Đây là kết quả
rất đáng khích lệ thể hiện s
ự quan tâm của lãnh đạo hai đơn vị là ông Nguyễn Duy Đức và
TS. Nguyễn Minh Châu.
7. Tính bền vững
Những khó khăn
Chất lượng sản phẩm và tiêu chuẩn an toàn
Như đã thể hiện trong các báo cáo trước việc áp dụng những tiêu chuẩn chất lượng cao hơn
rất khó thực hiện, nhất là khi những tiêu chuẩn này được áp đặt từ bên trên hoặc bên ngoài
trước khi có sự đồng thuận của các thành viên tham gia chuỗi cung ứng. Dự án này đã đưa ra
những tiêu chuẩn chất lượng cơ bản và sẽ tiến hành nhiề
u hoạt động đào tạo tập huấn cho các
đối tượng là người thu mua, người bán sỉ cũng như bán lẻ với mong muốn là những tiêu
chuẩn về chất lượng sản phẩm và độ an toàn sẽ được chấp nhận rộng rãi.

Xây dựng chuỗi cung ứng mới
Việc đào tạo cho cán bộ nghiên cứu, cán bộ khuyến nông và nông dân về xây dựng chuỗi
cung ứng mới đã được thự
c hiện vào tháng 11/2006. Tuy nhiên, việc đưa những chuỗi cung
ứng này vào điều kiện thực tế là một thách thức lớn vì những đối tượng được đào tạo không
phải là đơn vị chi phối chuỗi cung ứng. Vì thế có thể kết luận rằng việc xây dựng một chuỗi

trái. Các công cụ do dự án soạn thảo sẽ hỗ trợ việc thành lập chuỗi cung ứng mới. Cho đến
nay khả năng chuỗi cung ứng này có được thị trường chấp nhận hay không vẫn là một dấu
hỏi. Tuy nhiên, nếu như chuỗi cung ứng mới được thiết lập có thể giảm tỉ lệ hao hụt trước và
sau khi thu hoạch, có tỉ lệ sản phẩm tốt cao hơn, và do đ
ó mang lại lợi nhuận cao và ổn định
cho người nông dân thì nó sẽ được thị trường chấp nhận.

Các nông dân trồng xoài và bưởi nếu muốn tiếp cận phân khúc thị trường cấp cao thì phải:
• Hình thành các liên kết ngang.
• Cùng áp dụng một qui trình sản xuất
o Cách thức quản lí dịch bệnh để đảm bảo sản phẩm an toàn.
o Thu hoạch trái cùng độ chín (theo chỉ số thu hoạch).
o Tuân th
ủ các tiêu chuẩn về phân loại và chất lượng
o Đóng gói cùng một phương thức.
o Xây dựng và bảo vệ thương hiệu

Dự án CARD sẽ tiếp tục đào tạo các thành viên tham gia chuỗi cung ứng về qui trình GAP,
tiêu chuẩn phân loại và hỗ trợ họ hình thành một kênh phân phối mới cho thị trường cấp cao
ở thành phố Hồ Chí Minh.

Việc BQL các dự án CARD cho phép dự án gia hạn thêm 03 tháng sẽ tạo điều ki
ện để chúng
tôi thực hiện tốt những tài liệu cần hoàn tất.
Tính bền vững
Như đã báo cáo dự án sẽ đảm bảo tính bền vững thông qua:
• Hoạt động tập huấn có sự tham gia (PAL) và nông dân học hỏi lẫn nhau (FTF). Trong
các hoạt động dự án khuôn khổ dự án tất cả các thành viên trong chuỗi cug ứng đều
được mời tham gia một cách đầy đủ và trọn vẹn.
• Đào tạo cho các b

• Giảm hao hụt sau thu hoạ
ch thông qua việc thiết lập một mô hình sản xuất, phân loại,
đóng gói và vận chuyển để đảm bảo sản phẩm ngon nhất khi đến tay người tiêu dùng.
Các hoạt động này sẽ được thực hiện để cung cấp hàng chất lượng cao cho công ty
Metro vào 5/2008. Đồng thời vào tháng 5/2008 nông dân trồng xoài và bưởi ở hai
HTX ở Tiền Giang sẽ được tập huấn và tham quan học hỏi viề cách thực hiện qui
trình GAP, hệ thống xử lý sau thu hoạch xoài
ở công ty Emu, Khánh Hòa.
• Xây dựng chuỗi cung ứng mới để nông dân có thể tiếp cận thị trường cấp cao ở
TP.HCM thông qua hoạt động của hợp tác xã. Cán bộ của SIAEP và SOFRI sẽ hỗ trợ
kĩ thuật thông qua đào tạo và cung cấp thông tin thị trường cho các hợp tác xã để họ
có thể ra các quyết định kinh doanh phù hợp. Hoạt động này cũng sẽ được thực hiện
vào 5/2008
• Hỗ trợ việ
c thành lập các liên kết dọc để gắn kết nông dân với thị trường thông qua
hoạt động đào tạo nhằm trang bị kiến thức kinh doanh cơ bản và lợi ích cũng như
nhược điểm của từng hình thức liên kết. Mục đích cuối cùng là gắn người sản xuất
với ngưòi tiêu dùng trên cơ sở gia tăng giá trị. Cho đến nay, dự án CARD đã làm tốt
khâu này, hỗ trợ cán b
ộ của SIAEP trong việc nâng cao năng lực để họ có thể tham
gia giảng dạy cho các dự án phát triển chuỗi cung ứng do công ty Metro thực hiện
cùng GTZ và Bộ Thương mại.
• Trước mắt hỗ trợ nông dân trồng xoài và bưởi xây dựng và áp dụng qui trình ASEAN
GAP
9. Kết luận
Dự án đang nhận được sự tham gia tích cực của các đối tác Việt Nam là SIAEP và SOFRI.
Mặc dù có một số chậm trễ từ phía Australia do những lí do bất khả kháng dự án nhìn chung
vẫn đảm bảo tiến độ với hầu hết các công việc được thực hiện trong khung thời gian với chất
lượng đảm bảo.


tế quá độ ở Đông Nam Á
R. J. Nissen
1
, A. P. George
1
, P. Hofman
1
, B. Tucker
2
, M. Rankin
3
.

1
Bộ Công Nghiệp Cơ bản và Thủy Sản, Trung tâm Nghiên Cứu Maroochy, hộp thư 5083,
Sunshine Coast Mail Centre, Nambour, Queensland, 4560, Australia
2
Bộ Công Nghiệp Cơ bản và Thủy Sản, 16-32 Đường Enterprise, Bundaberg, Qld 4670
3
Đại Học Queensland, Trường Quản Lý Hệ Thống Tự Nhiên và Nông Thôn, cơ sở Gatton,
Gatton, Queensland, 4343 Australia.

Từ khóa: Chuỗi cung ứng, lập chuỗi cung ứng chiến lược, cơ sở của chuỗi cug ứng, nghiên cứu
tác động tham gia (PAL), các mối quan hệ chuỗi cung ứng.

Tóm lược
Chúng tôi xây dựng một quy trình mới hỗ trợ nông dân, thương lái và các thành phần mở rộng
khác để áp dụng chuỗi cung ứng cải tiến các sản phẩm nghề làm vườn cho các nền kinh tế quá
độ ở Đông Nam Á. Tại Đông Nam Á, khoảng 30% dân số sống dưới mức nghèo khổ. Trên 80%
sống dựa vào nông nghiệp. Trên toàn cầu, việc người tiêu dùng quan tâm đến thực phẩm an

Nhiều chuỗi cung ứng truyền thống và chợ thông thường ở châu Á thiếu các phương tiện vệ sinh
cần thiết đáp ứng yêu cầu sản phẩm an toàn đang tăng của các nhà xuất khẩu lớn, thường vẫn là
của các nước Phương Tây. Hai hệ thống sản xuất, truyền thống và hiện đại, cùng tồn song song ở
các nền kinh tế quá độ Đông Nam Á. Hầu hết các chuỗi cung ứng hiện đại trong vùng này được
điều hành bởi các công ty đa quốc gia với rất ít thành viên. Các nhà cung cấp cần có sự linh động
lớn để cộng thêm giá trị vào sản phẩm và đảm bảo sản phẩm của mình đáp ứng được các tiêu
chuẩn chất lượng và an toàn.

Các nhà làm vườn đơn lẻ trong chuỗi cung ứng truyền thống có lợi nhuận rất hạn chế, vì vậy họ
cần cải tiến nhiều về chất lượng sản phẩm và xây dựng chuỗi cung ứng mới. Thông qua các công
việc dự án tiến hành đối với nông dân trồng xoài, bưởi và hạch quả (đào, mận và xuân đào) ở
Việt Nam, Thái Lan và Lào, chúng tôi đã đào tạo các nhóm nông dân với cách quản lý sản xuất
và sau thu hoạch một cách tốt nhất. Chúng tôi cũng đã đào tạo họ về quản lý chuỗi cung ứng và
cách xây dựng chuỗi cung ứng cải tiến (Nissen et al., 2006a; Nissen et al 2006b). Quy trình
khuyến nông và đào tạo chúng tôi đang sử dụng dựa trên nguyên cứu tác động tham gia (PAL)
(Horne and Stür, 2003), đào tạo tiểu giáo viên (TTT) và học viên đào tạo lẫn nhau (PTP). Chúng
tôi cũng sử dụng một số kỹ thuật đánh giá chiến lược sau:
♦ Điều tra phối hợp và phân tích quy trình
♦ Phân tích các điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) (Haberberg, 2000)
♦ Phân tích khoảng cách
♦ Kiểm tra tính phù hợp
♦ Đầu tới cuối, nguyên trạng và đơn giản hóa kiểm tra (Cohen and Roussel, 2005)

Cho dù nhà v
ườn tạo lợi nhuận bằng tăng năng suất, mối quan tâm cơ bản của họ là kiếm sống
hợp lý từ mảnh vườn của mình với sự thân thiện môi trường và kinh tế bền vững. Nông dân ít khi
chấp nhận hoàn toàn một công nghệ trọn gói xây dựng cho họ. Nói cách khác, họ thường chấp
nhận cái gì họ quan tâm, đó là các phần chính, các mô đun có thể kết hợp với nhau cho phù hợp
với nhu cầu thực thế, “họ áp dụng cho phù hợp hơn là chấp nhận” (Horne and Stür, 2003).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status