Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Thúc đẩy thị trường nội tiêu & xuất khẩu trái cây Việt Nam thông qua cải tiến quản lý chuỗi cung ứng & công nghệ sau thu hoạch " - Pdf 15

DỰ ÁN CARD 050/040 VIE
‘Thúc đẩy thị trường nội tiêu & xuất khẩu trái cây Việt Nam
thông qua cải tiến quản lý chuỗi cung ứng & công nghệ sau thu
hoạch” Nghiên cứu về kinh tế và kinh tế xã hội ở nông trại xoài quy mô nhỏ và các
hợp tác xã ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, Việt Nam
Ông Robert Nissen
1
,Ông Nguyễn Duy Đức
2
, Cô San Trâm Anh
2
, Cô Trần Thị Kim
Oanh
2
, Ms. Trần Thị Ngọc Diệp
2
, Ông Vũ Công Khanh
2
, Ông Ngô Văn Bình
2
, Ông Lê
Minh Hùng

4
Trường đại học Queensland, Gatton College, School of Natural and Rural Systems
Management, Gatton Campus, Lawes Queensland, 4343, Australia.

© Bộ Công Nghiệp Cơ Bản & Thủy Sản bang Queensland, 2008. giữ bản quyền xuất bản.
Theo đạo luật bản quyền 1968 (Cth), cấm mọi hành vi sao chép (photo, sao chép điện tử
hay bất cứ hình thức nào), đưa lên mạng, truyền dẫn hay bất cứ hình thức xuất bản nào
trước khi được phép của Bộ Công Nghiệp Cơ Bản & Thủy Sản bang Queensland.
Mọi ý kiến xin gử
i về [email protected] (Điện thoại: +61 7 3404 6999).
Hoặc người quản lý cục sở hữu trí tuệ Bộ Công Nghiệp Cơ Bản & Thủy Sản bang
Queensland. GPO Box 46 Brisbane Queensland 4001

Việc lưu trữ, tái xuất bản và phổ biến các tài liệu này cho mục đích giáo dục hoặc mục đích
thương mại khác là chủ quyền của tác giả, Việc tái bản hoặc các mục đích thương mại khác
không được phép nếu không có sự đồng ý củ
a tác giả.
Mục lục

TÓM LƯỢC CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC QUẢN LÝ VÀ THỰC HIỆN DỰ
ÁN 4
THÔNG TIN CƠ BẢN 6
THUẾ 22
MỐI QUAN TÂM VỀ MÔI TRƯỜNG CHO DỰ ÁN CARD 29
PHẦN 2 (B):- KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CHUỖI CUNG ỨNG XOÀI CÁT HÒA LỘC Ở
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG MÊ KÔNG VIỆT NAM 34
VƯỜN CÂY QUY MÔ NÔNG TRẠI HAY HỘ GIA ĐÌNH 34
TỔNG SẢN LƯỢNG & SẢN LƯỢNG TIÊU THỤ 34
QUY MÔ NÔNG HỘ 34
SẢN LƯỢNG NÔNG TRẠI 34

THỜI Đ
IỂM BÁN XỔ CỦA NHÀ BÁN SỈ ĐỊA PHƯƠNG 48
TIỀN LỜI THỰC CỦA NHÀ BÁN SỈ ĐỊA PHƯƠNG 48
HỢP TÁC XÃ 49
SỐ LƯỢNG KINH DOANH BỞI HỢP TÁC XÃ 49
GIÁ BÁN SẢN PHẨM CỦA HỢP TÁC XÃ 51
CHI PHÍ KHÁC CỦA HỢP TÁC XÃ 52
TỔNG LỢI NHUẬN CỦA HỢP TÁC XÃ 53
CHI PHÍ CỐ ĐỊNH 53
CHI PHÍ VỐN CỦA HỢP TÁC XÃ 54
HỆ THỐNG BÁN LẺ (CỬA HÀNG TRÁI CÂY) 55
SẢN LƯỢNG Ở CỬA HÀNG BÁN LẺ 55
GÍA BÁN LẺ 55
GIÁ BÁN LẺ 55
CHI PHÍ BIẾN ĐỔI TRUNG BÌNH 56
LỢI NHUẬN BÁN LẺ 57
CHI PHÍ CỐ ĐỊNH CHO NGƯỜI BÁN LẺ 57
CHI PHÍ CƠ SỞ HẠ TẦNG CHO NGƯỜI BÁN LẺ 58
TỔNG CHI PHÍ CỐ ĐỊNH CHO NGƯỜI BÁN LẺ 58
ĐIỂM HÒA VỐN CHO NGƯỜI BÁN LẺ 58
LỢI NHUẬN RÒNG CHO NGƯỜI BÁN LẺ 59
PHẦN 2 (C):- SO SÁNH CHUỖI CUNG ỨNG/GIÁ TRỊ TẠI CẤP NÔNG HỘ 60
CHUỖI CUNG ỨNG/GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG (NÔNG DÂN TRỒNG CHỈ CUNG
ỨNG CHO CHỢ ĐỊA PHƯƠNG THÔNG QUA NGƯỜI THU MUA) 60
DOANH THU 60
THU NHẬP RÒNG 61
CHUỖI CUNG ỨNG/GIÁ TRỊ CŨ NÔNG DÂN THƯỜNG ỨNG DỤNG ĐỂ CUNG
CẤP SẢN PHẨM LOẠI ĐẶC BIỆT VÀ HẠNG I CHO THỊ TRƯỜNG MỚI Ở THÀNH
PHỐ HCM 62
DOANH THU 63

lại hiệu quả đáng kể trong việc giảm tỷ lệ đói nghèo. Tỷ lệ đói nghèo bình quân ở Việt Nam
hiện nay là 19%. Tỷ lệ đói nghèo ở vùng Đồng bằng Sông Cử
u Long vẫn ở mức 13.3% , thêm
vào đó có đến 20% hộ chỉ sống trên giới hạn sự nghèo khổ. Tình trạng suy thoái kinh tế có thể
cho thấy sự thay đổi tỷ lệ đói nghèo, người dân từ các thành phố phải trở về lại quê nhà do sự
các công ty phá sản, do việc cắt giảm nhân công ở các công ty.
Theo báo cáo của diễn đàn hợp tác kinh tế của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, Đồng
bằng Sông Cửu Long cung cấp 90% sả
n lượng gạo, 70% sản lượng trái cây và 60% sản phẩm
thủy sản nước ngọt cho xuất khẩu của Việt Nam. Do đó, khi nhắc đến Đồng bằng Sông Cửu
Long, người ta nghĩ ngay đến những điểm thuận lợi nỗi bậc của nó là một vùng giàu thực
phẩm nhưng nghèo về kiến thức. Việc giáo dục và đào tạo của con người ở vùng này rất kém.
Ví dụ, số l
ượng học sinh trong vùng ở trường hướng nghiệp chiếm tỉ lệ thấp nhất. Do trình độ
dân trí thấp so với cả nước nên vùng Đồng bằng Sông Cửu Long vẫn chưa đạt được tiềm năng
thực sự, những vùng sản xuất nông nghiệp chưa ổn định và tỷ lệ nghèo đói sẽ tăng lên nếu
điều này vẫn tiếp diễn. Những người nông dân có tri thức cao tỏ ra hiể
u được vấn đề này và
đã áp dụng những công nghệ mới để giải quyết chúng, trong khi những người nông dân có
trình độ thấp hơn vẫn tiếp tục sử dụng phương thức sản xuất truyền thống và cho rằng việc
giải quyết vấn đề này thuộc về trách nhiệm người khác.
Khoảng 40% diện tích đất của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long bị ảnh hưởng acid
sunfat (ASS). Acid sunfat từ các vùng
đất trống bị nhiễm ASS, thông qua kênh mương, đất
canh tác và mô đất chảy vào hệ thống nước ngọt và chảy ra biển, làm chết hoặc tăng nguy cơ
gây bệnh cho các sinh vật sống ở biển. Đất mặn ở các vùng giáp ranh với biển cũng cản trở sự
phát triển của nông nghiệp. việc phát triển mới và cải tạo các vườn cây ăn quả có sẵn yêu cầu
đất phải được chuyển
đổi hoặc cải tạo và phải có kế hoạch quản lý để loại bỏ sự chảy acid và
đào thải chất dinh dưỡng từ vùng đất canh tác vào môi trường.

nước rất nghiêm trọng. Đó là do:
• Quản lý và cải tạo đất không hợp lý (đặc biệt là đất nhiễm acid sulphate (ASS))
• Quản lý nước và hệ thống tưới tiêu không đ
úng
• Sử dụng không đúng và không thay đổi hóa chất nông nghiệp (thuốc trừ sâu, chất kích
thích sinh trưởng v.v…)
• Dùng phân bón không đúng (cả phân hữu cơ và vô cơ)
Điều này có thể dẫn tới hậu quả:
• Tăng độ mặn của nước
• Giảm sản lượng mùa vụ và nghề nuôi trồng thủy sản ở địa phương
• Ô nhiễm lan rộng, các mối nguy về ch
ất độc và các bệnh truyền nhiễm tăng lên cho
dân cư ở địa phương.
• Phá hủy cân bằng hệ sinh thái của địa phương
• Giảm sự thuê mướn nhân công do giảm năng suất.
Việt Nam cần phải phát triển các tổ chức kinh doanh nông nghiệp vừa và nhỏ. Nhiều nhóm
nông dân đang cố gắng thực hiện việc này nhưng họ gặp phải nhiều khó khăn. Một khó khăn
lớn nhất là việc vay tiền từ các ngân hàng để mở rộng hoạt động kinh doanh của họ do các
ngân hàng thực hiện việc ưu tiên cho các doanh nghiệp nhà nước vay. Ở Việt Nam đa số
người dân sống ở nông thôn, do đó cần phải có chính sách phát triển kinh tế xã hội thuận lợi
cho vùng nông thôn.
Các việc làm cần thiết để phát triển các doanh nghiệp nông nghiệp vừa và nhỏ là:
1. Phát triển tiếp thị và thương mạ
i
• Đào tạo để họ hiểu chuỗi cung ứng: giúp họ nhận thức được tầm quan trọng
của tất cả những người tham gia và vai trò của họ trong chuỗi cung ứng (nội
địa và xuất khẩu)
• Đào tạo cách xây dựng và phát triển các chuỗi cung ứng: hiểu được tầm quan
trọng của việc phát triển chuỗi cung ứng, sau đó xây dựng chuỗi cung ứng
riêng của họ

ường mới ở thành phố Hồ Chí Minh.
Hệ thống GAP và đảm bảo chất lượng mới này dựa trên cơ sở:
• Áp dụng phương pháp thu hoạch và xử lý mới, sử dụng giỏ lưới, giảm số lượng trái
trên cây, không ném hoặc làm rơi hoặc dùng tay thu hoạch quả, kéo cắt với túi lưới
được dùng để thu hoạch quả, cắt quả với cuống dài, cắt quả với cuống ngắn và
để lại
cuống quả để suberise cháy mủ bằng cách không cho mủ dính vào quả.
• Đảm bảo chất lượng, hàng năm đưa ra bảng tiêu chuẩn về độ trưởng thành, phân cở,
phân loại quả và các khuyết tật cho phép và đáp ứng những tiêu chuẩn này.
• Việc áp dụng công nghệ sau thu hoạch như điều kiện vệ sinh, nhúng nước nóng để
phòng trừ bệnh, tiêu chuẩn phân loại và đóng gói.
• Đ
óng gói quả vào các thùng cách nhiệt để loại bỏ sự tổn thương, sự tạp nhiễm và hư
hỏng quả
• Để quả trong phòng lạnh và sử dụng phòng dấm chín.
• Thuê người phân loại và đóng gói đã được huấn luyện để đảm bảo chất lượng khi bao
gói ở nhà vườn.
So sánh nông trại trồng xoài và trồng lúa ở đồng bằng Sông Cửu Long cho thấy nông trại
trồng cây ăn trái cho lợ
i nhuận cao hơn đáng kể. Lợi nhuận này đạt được nhờ áp dụng hệ
thống GAP và áp dụng thực hành nông nghiệp tốt trước và sau khi thu hoạch cùng với việc
chiếm lĩnh các thị trường nội địa có tiềm năng là các thành phố lớn ở Việt Nam.
Ví dụ: nông dân trồng lúa ở Đồng bằng Sông Cửu Long trồng trung bình 2 vụ mỗi năm.
Trung bình thu hoạch khoảng 4.8 tấn/ha với thu nhập khoảng 3,652 VN
Đ/kg gạo (Berg 2002,
pp.100 và 102). Do đó, các nông dân trồng xoài Cát Hòa Lộc có thu nhập cao gấp 7 lần so với
các nông dân trồng lúa.
THÔNG TIN CƠ BẢN
Năm 2003, Việt Nam có khoảng 670.000 ha đất sản xuất rau quả, với sản lượng đạt
khoảng 5.7 triệu tấn. Gần 85% các hộ nông dân ở nông thôn trồng ít nhất 1 loại cây ăn quả và

p và phát triển nông thôn được
thực hiện từ năm 2005 nói về sự hạn chế nghiêm trọng thông qua việc xác định giải pháp cho
nhà đầu tư của chính phủ và bộ phận công nghiệp. Nó chú trọng vào toàn bộ hệ thống của
chuỗi cung ứng và xác định khâu nào có thể mang lại lợi nhuận. Dự án sẽ lắp đầy khoảng
trống và giảm điểm yếu trong công nghệ sau thu hoạch, tăng chất lượng s
ản phẩm và tạo sự
ổn định, tổ chức thành từng nhóm và xây dựng kế hoạch quản lý chuỗi cung ứng.
Trong phạm vi dự án CARD này, xoài và bưởi là 2 loại quả được lựa chọn để nghiên
cứu. Xoài được lựa chọn vì nó là loại trái cây quan trọng với sản lượng cao 33.000 ha ở vùng
Đồng bằng Sông Cửu Long và 9200 ha ở Khánh Hòa, một tỉnh miền trung Việt Nam. Bưởi có
diện tích khoảng 9.000 ha ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Nh
ững người nông dân trồng
xoài và bưởi ở những vùng này tập hợp thành các nhóm và hoạt động kinh doanh để cải thiện
thu nhập của họ. Dự án CARD đã hỗ trợ để cải thiện công nghệ sau thu hoạch, cung cấp kiến
thức về chuỗi cung ứng và cải thiện công nghệ.
Các mục tiêu của dự án CARD 050/04 VIE “ cải tiến thị trường xuất khẩu và nội địa cho
rau quả Việt Nam thông qua cải ti
ến công nghệ sau thu hoạch và quản lý chuỗi cung ứng” là :
• Cải tiến công nghệ sau thu hoạch để sản xuất ra xoài chất lượng cao (quản lý dịch hại
tổng hợp, quản lý mùa vụ tổng hợp, kiểm soát ruồi đục quả, chỉ dẫn thu hoạch, giảm
dư lượng thuốc trừ sâu, cải thiện môi trường và sức khỏe con người v.v…
• Cải thiện công nghệ sau thu hoạch xoài và bưở
i ( ví dụ quản lý chuỗi cung ứng lạnh,
đóng gói, nhúng sau thu hoạch, làm chín bằng etylen, phủ sáp, rửa và tác nhân làm
ướt, đảm bảo chất lượng)
• Cải thiện tiêu chuẩn chất lượng và chương trình đảm bảo chất lượng cho xoài và bưởi.
Phương pháp và việc phát triển công nghệ cho 2 loại quả này thông qua dự án này sẽ
được mở rộng áp dụng cho những loại rau quả khác.
• Vạch ra chuỗi cung ứng hiện tại cho thị
trường nội địa và xuất khẩu (cộng hòa nhân

o Ông Nguyễn Thế Bình
o
Bà Trần Thị Ngọc Diệp
• Viện cây ăn quả Miền Nam
o Tiến sĩ Nguyễn Minh Châu
o Ông Đoàn Hữu Tiến
o Ông Tạ Minh Tuấn

PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Vài phương pháp được sử dụng để thu thập số liệu về hoạt động của chuỗi cung ứng
xoài và bưởi ở Đồng bằng Sông Cửu Long của Việt Nam. Số liệu liên quan và thông tin được
thu thập từ internet, từ các báo cáo của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (MARD), từ
bộ phận thống kê của chính phủ Việt Nam (GSO), và văn phòng các tỉnh thuộc vùng Đồng
bằng Sông Cửu Long. Thêm vào đó là các thông tin thu được từ internet, các báo cáo đã công
bố và cơ sở dữ liệu của tổ chức nông lương liên hiệp quốc (FAO) và ngân hàng thế giới, tổ
chức kế hoạch hóa gia đình của liên hợp quốc (UNFPA, Population Reference Bureau and
U.S. Department of State).
Điều tra hoạ
t động chuỗi cung ứng xoài và bưởi ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
của Việt Nam được thực hiện để chứng minh hiệu quả của chuỗi cung ứng. Điều tra theo biểu
mẫu và quá trình phân tích được thực hiện và kiểm tra bởi cộng tác viên người Việt. Đây là
một phần trong việc hướng dẫn đào tạo do các cộng tác viên người Úc của dự án CARD
050/04VIE thực hiện. Mỗi chuỗi cung
ứng được cắt thành các khâu như gồm các nhóm, khách
hàng, nhà bán sỉ, nhà thu gom, nông dân. Việc điều tra toàn bộ được thực hiện thông qua
phỏng vấn và điều tra với các khách hàng, nhà bán sỉ, nhà thu gom, và những người nông dân
thuộc hoạt động của chuỗi cung ứng xoài và bưởi ỏ huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang, huyện
Bình Minh và tỉnh Vĩnh Long, tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Bến Tre và thành phố Hồ Chí Minh ở
Việt Nam vào tháng 7 năm 2005 đến tháng 5 năm 2006.
Mẫu đượ

liệu điều tra của bưởi. Phỏng vấn đượ
c thực hiện với:
• 20 hộ nông dân trồng bưởi Năm Roi ở huyện Bình Minh và tỉnh Vĩnh Long.
• 9 nhà kinh doanh bưởi Năm Roi ở huyện Bình Minh và tỉnh Vĩnh Long.
• 4 nhà bán sỉ bưởi Năm Roi ở huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang.
• 1 công ty chế biến và xuất khẩu bưởi Năm Roi ở huyện Bình Minh và tỉnh Vĩnh Long.
Hơn nữa, việc phỏng vấn và điều tra còn được thực hiệ
n trong các đợt đào tạo của dự án
CARD tại hợp tác xã bưởi Năm Roi Mỹ Hòa và hợp tác xã xoài Cát Hòa Lộc.
Các kết quả và báo cáo về các cuộc điều tra được trình bày ở:
• Báo cáo về điều tra chuỗi cung ứng xoài ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long của Việt
Nam.
• Điều tra chuỗi cung ứng ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, Việt Nam.
• Và báo cáo dưới đây.
Để chứng minh lợ
i ích của việc phát triển chuỗi cung ứng mới, các thí nghiệm được thực hiện
cho cả xoài và bưởi. Các kết quả của thí nghiệm này được công bố trong 2 báo cáo:
• So sánh chất lượng của 3 chuỗi cung ứng xoài Cát Hòa Lộc ở vùng Đồng bằng Sông
Cửu Long, miền nam Việt Nam.
• Duy trì chất lượng quả và tăng thời hạn bảo quản của chuỗi cung ứng bưởi Năm Roi ở
vùng Đồng bằ
ng Sông Cửu Long, miền nam Việt Nam.
Báo cáo này được chia thành 2 phần. Phần 1 đề cập đến các kết quả về tình hình kinh tế xã
hội Việt Nam và phần 2 đề cập đến các kết quả phân tích kinh tế của các chuỗi cung ứng xoài
Cát Hòa Lộc.

PHẦN 1: CÁC KẾT QUẢ VỀ KINH TẾ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM.

NHÂN KHẨU HỌC


Hình 1. Biểu đồ dân số Việt Nam ngày
1 tháng 4 năm 1999
Hình 2. Biểu đồ dân số Việt Nam ngày 1
tháng 4 năm 2007

NHÂN KHẨU HỌC Ở CÁC THÀNH PHỐ CHÍNH CỦA VIỆT NAM
Có 2 thành phố chính ở Việt Nam là thủ đô Hà Nội ở miền bắc và thành phố Hồ Chí
Minh ở miền nam Việt Nam. Hà Nội có khoảng 6,232 triệu dân sau khi đã được mở rộng gồm
cả tỉnh Hà Tây và một phần của tỉnh Hòa Bình. Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 6,629
triệu dân và Hải Phòng khoảng 1,711 triệu dân. Bốn thành phố lớn ở vùng Đồng bằng Sông
Cử
u Long là Cần Thơ, có dân số khoảng 1,154 triệu người (GSO 2008, pp 22-24; GSO (b)
2007; U.S Department of State 2009,p.1). Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất Việt Nam
với tổng diện tích khoảng 2095 km
2
. Trong những năm gần đây, quá trình đô thị hóa diễn ra
với tốc độ đáng kể. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh đạt khoảng 11%/
năm trong thập niên qua và tốc độ tăng dân số hàng năm là 3,5% (GSO (a) 2007).
Thực hiện chính sách “đổi mới” từ năm 1984 giúp giảm số hộ nghèo ở Việt Nam và
giúp Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị tr
ường (Nguyen, N.H., 2007).

NHÂN KHẨU HỌC Ở HAI VÙNG CHÍNH CỦA VIỆT NAM
Dân số Việt Nam tập trung ở 2 vùng chính là đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng
Sông Cửu Long. Khoảng 42,3% dân số Việt Nam sống ở các vùng đồng bằng này, với 21,6%
dân số sống ở đồng bằng sông Hồng và 20,7%, tương ứng với 17.3% triệu dân sống ở Đồng
bằng Sông Cửu Long. Mật độ dân số trung bình của Việt Nam khoảng 240 người/km
2
và mật
độ dân số ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long là 435 người/ km

NHÂN KHẨU HỌC VÀ PHỤ NỮ Ở NÔNG THÔN.
Trong sản xuất nông lâm ngư nghiệp, phụ nữ tham gia sản xuất ở các đơn vị gia đình
cùng với tất cả các thành viên trong gia đình, tham gia vào quản lý sau thu hoạch. Phụ nữ
tham gia vào các hoạt động trên đồng ruộng như việc thu hoạch. Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm
phần lớn dân số ở nông thôn (khoảng 52%) và là lực l
ượng lao động chính ở nông thôn (52-
54%). Do đó phụ nữ chi phối lớn cho sự tăng trưởng kinh tế ở nông thôn. Nhận thức được vai
trò của người phụ nữ, các chính sách kinh tế xã hội ở nông thôn của chính phủ đã đề cao vai
trò của người phụ nữ với tài năng và tiềm năng của họ.
Ngày nay, phụ nữ góp phần chi phối đáng kể trong việc phát triển kinh tế nông thôn
thông qua chính sách tăng việc làm, tạo niềm tin, giáo dục và khoa học và công nghệ sản xuất
tiên tiến. Thêm vào đó, mức lương của phụ nữ cũng được tăng lên ngang với nam giới, nhưng
họ cần phải làm nhiều hơn trong lĩnh vực này. Ngày càng nhiều phụ nữ chiếm giữ các vị trí
quan trọng trong hàng ngũ chính phủ Việt Nam và xu h
ướng này vẫn tiếp tục.

NHÂN KHẨU HỌC CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐÀO TẠO, NGƯỜI ĐƯỢC ĐÀO TẠO,
CÁC THÀNH VIÊN CỦA DỰ ÁN VÀ THÔNG TIN VỀ VAI TRÒ PHỤ NỮ Ở CÁC
NÔNG TRẠI CỦA VIỆT NAM
Dự án CARD nhận thấy được sự cần thiết của việc hợp tác, khuyến khích và hỗ trợ
phụ nữ tham gia vào chuỗi cung ứng trong việc thiết lập và thực hiện của dự
án. Ở cấp độ
nông dân, dự án gặp khó khăn trong việc khuyến khích phụ nữ tham gia như thành viên đại
diện và khó hơn để họ tham gia vào cấp quản lý.
Đây vẫn còn là khó khăn trong việc phát triển hợp tác xã nói chung, người trụ cột gia
đình sẽ tham gia như các thành viên của hợp tác xã và thành viên nữ trong gia đình sẽ chỉ
được tham dự hội thảo nếu người đàn ông trụ cột không tham dự được. Tuy nhiên, có thể
nhậ
n ra rằng phụ nữ đóng nhiều vai trò khác nhau ở tất cả các khâu của chuỗi cung ứng xoài
và bưởi. Việc khuyến khích phụ nữ tham gia vào dự án này được thực hiện bởi nhà quản lý

Nhân viên dự án CARD đến nhiều nông trại để thu thập thông tin cũng như phổ biến thông tin
huấn luyện cho nông dân ở địa phương. Trong suốt quá trình đến chủ hộ thường tiếp nhưng
thỉnh thoảng người phụ nữ của gia đình cũng tham gia thảo luận và cung cấp thông tin.
Dự án này nh
ận thấy rằng:
• Giữ tiền thường là phụ nữ ở mức độ gia đình và có nhiều sự dao động bất thường của
đầu vào, giá thị trường và tác động lên toàn bộ lợi ích của trang trại.
• Trong nhiều trường hợp, phụ nữ trong gia đình có trình độ học vấn cao hơn và họ
tham gia quyết định ngang bằng với chồng của họ.
• Phụ nữ thể hiện nhiều vai trò trong gia đình như nấu nướng, chăm sóc các thành viên
trong gia đình, làm các việc lặt vặt trong gia đình cũng như các việc nặng nhọc ngoài
đồng ruộng như hoạt động thu hoạch, sau thu hoạch và bán trái cây.
Thông tin này thu được từ những phụ nữ đặc biệt quan trọng khi thử phân tích chuỗi cung
ứng hiện tại về khía cạnh nguồn nhân lực.
Dự án này cho thấy phụ nữ
có vai trò rất lớn trong việc sau thu hoạch và tiếp thị, bán xoài và
bưởi với 6/7 phụ nữ tham gia. Nhiều người chồng, khi được phỏng vấn bởi thành viên dự án
CARD về các vấn đề của chuỗi cung ứng, họ phải hỏi ý kiến vợ để có được câu trả lời cho
người phỏng vấn. Phụ nữ chiếm 85 % nhà thu gom, nhà bán sỉ, nhà kinh doanh và nhà bán lẻ
ở các địa phương và thành phố Hồ Chí Minh. Thông tin thị trường có giá trị
và những hiểu
biết sâu sắc đạt được thông qua những nhà thu gom, nhà bán sỉ, bán lẻ và sự hợp tác để phân
tích chuỗi cung ứng hiện tại.

TỔ CHỨC HỘI THẢO DỰ ÁN CARD
Có 10 cuộc hội thảo chính được thực hiện bởi dự án CARD này. Mỗi hội thảo được
chia thành những cuộc hội thảo nhỏ hơn để các thành viên có thể hiểu các vấn đề và phương
pháp học tậ
p lẫn nhau. Các cuộc hội thảo được tổ chức khắp vùng Đồng bằng Sông Cửu
Long, ở các tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Mỹ Tho, Cái Bè, và tỉnh Khánh Hòa

Điều tra
năm 1989
Điều tra
năm
1999
Điều tra
năm
2007
Tỷ lệ trẻ em phụ thuộc (0-14 tuổi) 84 73 56 39
Tỷ lệ người già phụ thuộc (>60 tuổi 14 13 14 15
Tổng tỷ lệ phụ thuộc 98 86 70 54
(GSO, 2008) TỶ LỆ SINH SẢN
Việt Nam có tỷ lệ sinh sản (2.07 trẻ em/ phụ nữ) thấp hơn so với các nước Asean (2.3
trẻ/phụ nữ). tỷ lệ sinh sản của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (1.74 trẻ/phụ nữ) thấp hơn so
với tỷ lệ của sinh sản của Việt Nam. Tỷ lệ tử vong của trẻ em (IMR) ở Việt Nam là 16/1000
và tỷ lệ tử vong sơ sinh(CRD) là 5.3/1000, nhưng
ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long tử vong
của trẻ em là 11/1000. (GSO, 2008, p. 26-28).

TỶ LỆ TỬ VONG
Việt Nam khoảng 85.4% chết là do bệnh tật, 8% là do tai nạn và 6.6% do các nguyên
nhân khác. Chết do tai nạn giao thông cao gấp 5 lần so với chết do tai nạn nghề nghiệp (4.7%
so với 1%). Chết do tai nạn giao thông ở cả thành thị và nông thôn đối với nam cao gấp 2 lần
so với nữ, 10.5% so với 4.5% tương ứng (GSO, 2008, p. 35).
Bao nhiêu cái chết này và việc giảm tỷ lệ sinh sản do kế ho
ạch hóa gia đình và việc sử
dụng sản phẩm nông nghiệp, ví dụ các loại hóa chất?

HÚT THUỐC
Số người lớn hút thuốc (trên 15 năm) là 19.5%. hầu hết đàn ông hút thuốc và khoảng
1% phụ nữ hút thuốc. Đồng bằng Sông Cửu Long có tỷ lệ hút thuốc cao nhất so với vùng
đồng bằng sông Hồng, nơi có tỷ lệ hút thuốc thấp nhất. hầu hết mọi người bắt đầu hút thuố
c
từ độ tuổi 17-20 (GSO, 2006). Tổng chi phí chăm sóc sức khỏe do hút thuốc ở Việt Nam
trong năm 2005 đạt đến 1 161 829 triệu đồng (tương đương 77.5 triệu đô Úc). Nó chiếm
khoảng 0.22% thu nhập quốc nội (GDP) và 4.3% tổng chi phí cho chăm sóc sức khỏe.
Họ biết rõ rằng hút thuốc có thể gây nên các bệnh nghiêm trọng đối với sức khỏe,
nhưng hơn nữa các biến chứng phát sinh khi làm việc sản xuất nông nghiệ
p. các mối nguy khi
xử lý hoặc làm việc với hóa chất nông nghiệp gồm:
• Cháy và ngộ độc khi xử lý hoá chất.
• Tự gây tạp nhiễm
o Hít hơi hóa chất
o Nhiễm hóa chất do dùng tay xử lý hóa chất và sau đó cầm hút thuốc mà không có
phương pháp bảo vệ như rửa tay.
Hơn thế nữa, mối nguy để duy trì chương trình đảm bảo chất lượng rất nghiêm ngặt, vì sản
phẩm bị tạp nhiễm thông qua:
• Sự vứt bỏ các mẫu thuốc, cái có thể mang mầm bệnh và gây tạp nhiễm.
• Tro từ việc cháy của thuốc có thể tạ
p nhiễm vào sản phẩm
• Có thể quả chín trước khi trưởng thành do sự tăng hàm lượng khí etylen.
Do đó, việc hút thuốc nên cấm khi thu hoạch và đóng gói quả trên đồng ruộng, xử lý hóa
chất và từ nơi đóng gói, phòng dấm chín và phòng lạnh, phòng bảo quản. kiểm soát thói quen
hút thuốc của nông thôn nghèo, người được thuê trong nhà đóng gói và phát triển chương
trình đảm bảo chất lượng và phát triển đồng ruộng thực hiện chương trình canh tác tố
t GAP sẽ
cần đến chương trình giáo dục đáng kể ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long của Việt Nam.


Cấp 1 30.8% 63.7
Cấp 2 44.4% 51.5%
Cấp 3 87.2% 11.7%
Ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long, lực lượng cán bộ chính của các làng xã chỉ đạt
trình độ học vấn cấp 2 hoặc cao hơn nó chiếm là 87.6% so với các tỉnh thấp nhất ở Tây Bắc là
67.7%. Tuy nhiên vẫn còn khoảng cách rất lớn về trình độ học vấn và điều kiện làm việc của
cán bộ ở các tỉnh khác nhau ở Việt Nam. Các cán bộ liên lạc với nhau bằng điện thoại là
76.5% và bằ
ng internet là 1.3% (GSO (a), 2007).
Trong tạp chí luật giáo dục tháng 9 năm 1998, nữ giới sẽ có quyền bình đẳng trong
học tập. Số lượng nữ sinh tham gia học cấp 1 và 2 tương đương với nam sinh, nhưng vẫn còn
sự bất bình đẳng trong số lượng nữ sinh tham gia học ở các cấp cao hơn (Bourke-Martignoni,
2001, pp. 11-12).
Nông dân ngày nay cần được giáo dục tốt, vì họ phải thực hiện chương trình đảm bảo
chất lượng. Tất cả các chương trình đảm bảo chất lượng phải đáp ứng yêu cầu về truy nguyên
nguồn. Muốn truy nguyên nguồn gốc người nông dân phải lưu giữ hồ sơ về phân bón và hóa
chất sử dụng, đọc nhãn mác và tính toán lượng hóa chất theo tỷ lệ để đảm bảo rằng sả
n phẩm
của họ làm ra đáp ứng tiêu chuẩn an toàn, đó là vấn đề trọng tâm của các chương trình đảm
bảo chất lượng. Những người nông dân phải có khả năng đảm bảo sản phẩm an toàn cho
người tiêu dùng, đây là yêu cầu của người bán lẻ hiện nay.
Theo báo cáo của diễn đàn hợp tác kinh tế của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, Đồng
bằng Sông Cửu Long cung cấp 90% sản lượng gạ
o, 70% sản lượng trái cây và 60% sản phẩm
thủy sản nước ngọt cho xuất khẩu của Việt Nam. Do đó, khi nhắc đến Đồng bằng Sông Cửu
Long, người ta nghĩ ngay đến những điểm thuận lợi nổi bậc của nó. Tuy nhiên người ta cũng
nghĩ về Đồng bằng Sông Cửu Long như một vùng giàu thực phẩm nhưng nghèo về kiến thức.
Do trình độ dân trí của vùng này thấp hơn so v
ới cả nước. Ví dụ, số lượng học sinh của vùng
này học ở trường hướng nghiệp với tỷ lệ thấp nhất và nông nghiệp của vùng không bền vững

dạy ở mức độ cao hơn so với thông tin cung cấp cho nông dân. Do đó tham khảo kết quả hàng
năm cũng cung cấp cho người dạy. Phương pháp này có khả năng giáo dục theo cấp độ, cả
người dạy và nông dân sẽ được nâng cao, nó rất hiệu quả và thay đổi khả năng thực hành của
cả người dạy và nông dân.
Đào tạo theo chuỗi logic từ việ
c hiểu chuỗi cung ứng là gì, việc cung cấp công nghệ
đầu vào, điều này chi phối tác động lớn nhất đến chuỗi cung ứng:
Hiểu được chuỗi cung ứng cho người dạy và nông dân.
• Giới thiệu giá trị chuỗi cung ứng
• Phân tích giá trị chuỗi cung ứng
• Phát triển kế hoạch chiến lược và các kế hoạch hành động cho chuỗi cung ứng.
• Phát triển chuỗi cung ứng cả
i tiến mới.
Đào tạo kỹ thuật đầu vào cho những người dạy và nông dân
• Sinh lý và công nghệ sau thu hoạch, cách thu hoạch xoài và cách xử lý trên đồng
ruộng, phân tích kinh tế xã hội và phát triển.
• Quản lý chuỗi cung ứng của sản phẩm rau quả tươi đạt chất lượng và an toàn thực
phẩm
• Hệ thống quản lý dịch bệnh và côn trùng tổng hợp cho xoài và bưởi.
Đào tạo cho những người dạy:
• Việc tiếp thị và chú trọng vào đào tạo các nhóm.
• Tổ ch
ức các hội thảo huấn luyện cho người trồng xoài và bưởi ở Việt Nam.
• Phân tích kinh tế xã hội của chuỗi cung ứng xoài và bưởi ở Việt Nam.
Trong suốt quá trình thực hiện dự án CARD chúng tôi nhận thấy rằng nhiều nông dân Việt
Nam không đủ kiến thức và thông tin về loại hóa chất nào nên áp dụng để phòng trừ côn trùng
và bệnh và đâu là cách sử dụng hóa chất hiệu quả kinh tế nhất? Quan sát cũng cho thấy rằ
ng
nhiều nông dân và người lao động không áp dụng đầy đủ các phương pháp đảm bảo an toàn
khi sử dụng thuốc trừ sâu.

NGÂN HÀNG
Hệ thống ngân hàng thương mại và thẻ tín dụng đã được xây dựng ở các khu vực nông
thôn giúp người dân có thể vay vốn để đầu tư cho ho
ạt động sản xuất và kinh doanh của họ.
Năm 2006, khoảng 12,1% các địa phương ở Việt Nam có chi nhánh ngân hàng và 10.1% thẻ
cho vay tín dụng được đưa ra. Chương trình 135, chương trình mục tiêu của quốc gia về giảm
nghèo và tạo ra công ăn việc làm phát triển giúp một số địa phương có chi nhánh ngân hàng
hoặc thẻ cho vay nhưng điều này vẫn còn ở tỷ lệ rất thấp 4,3% và 2.4% tương ứng (GSO (a)
2007).
Cuối năm 2007, việc dư
thừa của tiền tệ tạo ra áp lực lớn cho việc tăng giá trị của
đồng tiền Việt Nam, ảnh hưởng đến cạnh tranh xuất khẩu. Để chống lại áp lực đó một lượng
lớn tiền mặt được đưa vào thị trường. Kết quả là khủng hoảng tiền tệ, tăng lạm phát, vật giá bị
thổi phồng. Cuối năm 2008 đến
đầu năm 2009, tăng trưởng xuất khẩu bị giảm, dòng chảy tiền
tệ giảm và tốc độ đầu tư cũng giảm. Do hoạt động kinh tế bị chậm chạp và công việc bị cắt
giảm, lợi nhuận thực cũng bị giảm đi và tất yếu nghèo đói sẽ xẩy ra.

CHÍNH SÁCH XÃ HỘI Ở KHU VỰC NÔNG THÔN
Thông qua nghị định 135 của Việt Nam, một số dự án đã được thực hiện gồm:
• Cho các hộ nghèo vay vố
n để họ phát triển hoạt động sản xuất và kinh doanh.
• Hướng dẫn cho người nghèo hoạt động kinh doanh, cung cấp hỗ trợ các vật tư, dịch vụ
nông lâm ngư nghiệp.
• Phát triển mô hình xóa đói giảm nghèo ở các vùng đặc biệt.
• Xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã nghèo.
• Hỗ trợ sản xuất và cải thiện đời sống cho các xã nghèo.
• Đào tạo và củ
ng cố năng lực cho đội ngũ nhân viên tham gia hoạt động xóa đói nghèo
và đội ngũ nhân viên ở các xã nghèo.

ở nông thôn và các khu vực nghèo có đông con hơn nh
ưng số người tham gia lao động ít hơn
so với các gia đình ở thành phố và các khu vực giàu.
Quá trình công nghiệp ở Việt Nam thể hiện ở việc tăng số lượng các công ty xung
quanh các thành phố và việc tạo ra các vùng kinh tế trọng điểm ở các phần khác của nông
thôn. Trái lại, vùng nông thôn có ít động lực và hiện tại đang đối mặt với khó khăn trong việc
mất cân bằng giữa nguồn lực và diện tích đất
đai vì hậu quả sự tăng dân số cao của thập niên
vừa qua. Những người nông dân ở nông thôn hiện nay bị thất nghiệp hoặc bán thất nghiệp và
tiêu chuẩn đời sống của họ khá thấp.
Ở Việt Nam các gia đình chủ yếu tham gia sản xuất nông lâm ngư nghiệp. So với các
nước đang phát triển khác trên thế giới thì diện tích đất và số người tham gia sản xuất ở mỗi
gia đ
ình ở Việt Nam không lớn. Trung bình mỗi gia đình làm nông lâm ngư nghiệp cần
khoảng 2.3 lao động và họ có 2.3 lao động để tham gia vào sản xuất. Số lượng lao động trung
bình được sử dụng bởi các doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc bởi các nông trại tương ứng là 122,
17.4 và 3.4 người. Đất sử dụng cho nông lâm ngư nghiệp năm 2006 là 1.5ha, tăng 1.4% so với
năm 2001, năm có diện tích đất sử dụng bởi doanh nghiệp là 1.727 ha, hợp tác xã là 6.2ha,
nông trại là 4.5ha và các gia đình là 0.9 ha (GSO(a), 2007, pp.71-72).

NGUỒN LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN.
Tổng số gia đình ở nông thôn năm 2006 là 13.77 triệu hộ, tăng 0.7 triệu từ năm 2001.
Năm 2006, có 9.78 triệu hộ làm các việc liên quan đến nông lâm ngư nghiệp giảm từ 81%
xuống 71,1% và số hộ tham gia kinh doanh và dị
ch vụ tăng từ 5.8% lên 10.2% và các hộ tham
gia lĩnh vực xây dựng tăng từ 10.6 lên 14.9%, xem hình 3 và 4 (GSO (a), 2007).
Sự thay đổi nhanh chóng về cấu trúc, dịch vụ của các gia đình ở nông thôn hiện nay là
25% tổng số gia đình ở nông thôn Việt Nam. Chỉ 4 vùng ở Việt Nam chiếm hơn 25% đó là
vùng Đông Nam 42.9%, vùng đồng bằng Bắc Bộ 33.4%, ven biển miền trung 26.1% và vùng
Đồng bằng Sông Cửu Long là 25.1% (GSO (a), 2007). Với sự khủng hoảng kinh tế thế giới

6%
11%
3%
Agricultural, forestry, fishery households
Industal, and construction households
Service households
Other households

Hình 4. Các loại gia đình ở nông thôn Việt Nam năm 2001.
(Source GSO (a), 2007)

Trong khi thất nghiệp đang tăng ở Việt Nam thì phụ nữ vẫn phải làm một khối lượng
lớn công việc gồm việc nhà và việc đồng án. Phụ nữ ở nông thôn Việt Nam làm trung bình
12.5 giờ/ngày và phụ nữ độc thân làm trung bình 16giờ/ngày. Hậu quả trực tiếp do lao động
trong thời gian dài, phụ nữ Việt Nam phải gồng gánh và phải thực hiện 2 hoặc 3 vai trò cùng
lúc (làm việc trong gia đình, chăm sóc con cái và làm việc bên ngoài). H
ọ có rất ít thời gian
để nghỉ ngơi và dành cho các hoạt động khác như học tập, rèn luỵện, các hoạt động văn hóa
và xã hội. (Bourke-Martignoni, 2001, p.12).

HỆ THỐNG KINH TẾ
Hợp tác toàn cầu giúp Việt Nam có cơ hội phát triển. Sự liên kết giá cả với thị trường
quốc tế cho phép nông dân Việt Nam nhận được lợi nhuận cao hơn cho sản phẩm của họ và
thoát khỏi đói nghèo. Ở Việt Nam mứ
c nghèo khổ giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 18%
năm 2006 với 43 triệu người thoát khỏi đói nghèo (World Bank, 2008, p.42). Việt Nam mở
cửa để thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) kết quả tạo ra công ăn việc làm và thu hút hàng triệu
lao động mới vào thị trường lao động. FDI tăng đáng kể từ năm 1988.
Xuất khẩu là phương thức chính để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vì kinh doanh trong
nước gắn liền với sự

Nhật 2.1 1.3 -1.7 1.6 -2.0
Các nước kinh tế đang phát triển 7.9 6.7 6.6
Vùng Đông Á 8.7 7.3 7.4
Mậu dịch thế giới (% biến đổi) 7.5 4.0 -5.0 5.0 -6.0
Giá dầu (US$/thùng) 71.1 108.1 105.5
Giá các vật dụng khác (% biến đổi) 15.8 10.0 – 12.0 -10.0 – 0

Khoảng 73% dân số Việt Nam sống ở nông thôn và nông thôn chiếm 94% tổng số
người nghèo. Trung bình các gia đình làm ra thực phẩm trị giá 15 400.000 đồng và họ chi
10.200.000 đồng mỗi năm. Gần 27% người nghèo và 18% hộ không nghèo ở Đồng bằng Sông
Cửu Long tham gia bán gạo mặc dù Đồng bằng Sông Cửu Long là bát gạo của Việt Nam. Ở
vùng Đồng bằng Sông Cửu Long 38% hộ nghèo và 50% hộ không nghèo tham gia bán thực
phẩm. Phân tích của ngân hàng thế giới năm 2007 cho thấy nội dung khái quát hóa
ở trên
không luôn đúng. Các hộ ở thành thị mua thực phẩm, họ chi 3.300.000 đồng để mua thực
phẩm, nhưng 12% và 27% hộ nghèo ở thành thị bán thực phẩm so với các hộ ở nông thôn, nơi
46% hộ nông thôn mua thực phẩm. Mặc dù chính sách phát triển phúc lợi xã hội toàn diện ở
Việt Nam là 51% tổng số các hộ nghèo.

ẢNH HƯỞNG CỦA NỀN KINH TẾ ĐẾN DỰ ÁN CARD
Trong suốt quá trình thực hiện dự án CARD này chúng tối nhậ
n thấy sự cần thiết
đáng kể để phát triển các xí nghiệp kinh doanh nông nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, nhiều
nhóm nông dân đang cố gắng thực hiện việc này nhưng họ gặp phải nhiều khó khăn. Một khó
khăn chính là việc vay mượn tiền từ ngân hàng để mở rộng và duy trì hoạt động kinh doanh
của họ. Các ngân hang thực hiện việc ưu tiên cho các doanh nghiệp nhà nước. Ở Việt Nam đ
a
số người dân sống ở nông thôn, họ có nhu cầu cấp thiết để phát triển được thuận lợi thông qua
các chính sách kinh tế xã hội.
Các vùng cần thiết cho sự phát triển các doanh nghiệp nông nghiệp vừa và nhỏ là:

kỳ diện tích đất vượt quá một hạn ngạch và đất của nhà nước cho thuê. Ngoài ra người chủ sở
hữu nông trại được miễn phí sử dụng đất, phí cho thuê đất, và thuế sử dụng nông nghiệp.
Theo điều này, người dân sử dụng các sườn đồi trọc, đất hoang, đất nằm trong khu vực trước
đó không có đầu tư cho mục đích sản xuất nông lâm ngư nghi
ệp (Nghị quyết số .3CP 2000,
thông tư số.82/BTC, 2000). Nông trại và nông dân cũng được nhà nước quan tâm xem xét để
được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trong những trường hợp nào mà họ phải đối mặt rủi
ro từ thị trường và giá cả.

Ở Việt Nam, nhà nước miễn thu thuế thu nhập cho các nông trại với thời gian cho phép tối đa
được quy định hợp lệ. Điều này làm giảm thuế thu nh
ập đến mức tối thiểu cho các nông trại
với việc sản xuất và kinh doanh ổn định, hoặc cho giá trị hàng hoá nhằm thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế nông trại. Ngoài ra cũng được cung cấp để:
• miễn thuế thương mại cho các sản phẩm nông nghiệp
• không có loại thuế nguồn nước cho các công trình thủy lợi, hoặc cho việc sử dụng
nước mặt và nước ng
ầm trong giới hạn nông trại (Quyết định số .3/CP, 2000)
• và không có loại thuế cho việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên đối với một số
cây công nghiệp, chẳng hạn như cây trồng được sử dụng trong các ngành công nghiệp
giấy, gỗ, và một số cây trồng đặc biệt (Nghị quyết số.9/CP, 2000) (Man, PS 2006,
p.87) .

THU NHẬP
Trong năm 2006, ở Việt Nam thu nhập bình quân hàng tháng tính trên đầu người là 363 nghìn
đồng tăng 31,4% so với năm 2004. Nhưng gia t
ăng thực sự thu nhập trong giai đoạn 2004
đến 2006 là 6,2%, thấp hơn thực tế thu nhập của giai đoạn 2002 -2004 của 10,7% (GSO,
2006. Pp 29-30). Trong năm 2006, đã có tăng mức lương tối thiểu (lương xã hội). Trong thời
gian 2006 đã có một gia tăng:

thôn

Thành thị 8.6 7.7
Nông thôn 21.2 17
Vùng

Đồng bằng sông Hồng 12.9 10.1
Đông Bắc 23.2 22.2
Tây Bắc 46.1 39.4
Bờ biển Bắc trung bộ 29.4 26.6
Bờ biển Nam trung bộ 21.3 17.2
Tây nguyên trung bộ 29.2 24.0
Đông nam bộ 6.1 4.6
Đồng bằng sông Cửu
longg
15.3 13.0
(Source GSO, 2006. pp. 31)

Trên cơ sở mức sống tối thiểu mới của Chính phủ Việt Nam, khoảng 13 triệu người trong
tổng dân số là dưới mức sống tối thiểu với hơn 28 triệu người có đời sống cao hơn mức sống
tối thiểu chính thức (GSO, 2006; Oxfam, 2008)

Nhiều hộ nghèo đã mượn nợ, và một sự tác động của thiên tai sẽ khiến cho rất nhiều hộ gia
đình v
ướng vào nợ nần sâu hơn. Bình quân Việt Nam có khoảng 6 đến 8 trận thiên tai trong
một năm, và các hộ nghèo dễ bị tổn thương nhất trong cộng đồng. Trong những trường hợp
như vậy, chiến lược đối phó của các hộ gia đình thường bao gồm:
• vay mượn từ gia đình và bạn bè;
• vay mượn từ tư nhân với lãi suất cao;
• vay gạo tại set interest rent, cho mỗi mùa, để có thể được trả sau khi thu ho

thôn

Thành thị 51.6 48.9 48.2
Nông thôn 60.0 56.7 56.2
Vùng

Đồng bằng sông Hồng 53.8 51.1 51.5
Đông Bắc 61.2 58.2 57
Tây Bắc 64.2 60.0 60.2
Bờ biển Bắc trung bộ 58.3 56.3 55.1
Bờ biển Nam trung bộ 56.4 53.1 54.4
Tây nguyên trung bộ 58.6 51.3 52.2
Đông nam bộ 52.7 50.4 48
Đồng bằng sông Cửu
longg
60.5 56.7 56.2
Mức độ thu nhập

20% hộ nghèo nhất 70.1 66.5 65.2
20% hộ giàu nhất 49.6 46.9 45.8
(Nguồn GSO, 2006. pp. 31)

CƠ SỞ HẠ TẦNG Ở NÔNG THÔN

ĐIỆN
Trong năm 2006, chỉ còn 5,8% hộ nông thôn chưa có điện, tăng 41% kể từ năm 1994. Năm
2006, 98.9% xã và 92.4% xã có điện mà trong đó có đến 87% làng có mạng lưới điện quốc
gia. Hiện có 6 tỉnh và thành phố (Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng, Ninh Thuận,
Tây Ninh, Bình Dương và tỉnh Tiền Giang) có đến 100% xã có điện. Tuy nhiên, ở vài khu
vực tỉnh thành s

ĐBSCL có khí hậu nhiệt đới trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa có một mùa mưa với
hàm lượng ẩm trung bình là 75%. Có 2 mùa trong 1 năm. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết
thúc vào cuối tháng 11, lượng mưa trung bình là 1,800mm hằng năm. Mùa khô bắt đầu từ
tháng 12 đến thành 4. Những vùng đất thấp thường bị ngập trong nước trong từ 2 đến 6 tháng,
mực nước trong khoảng 0.3 đến 3 mét tùy vào t
ừng khu vực và lượng mưa hàng năm
(Nguyen, N. H., 2007)
Nhiệt độ trung bình 28
o
C (82
o
F), có khi cao nhất lên đến 39
o
C (102
o
F) các buổi trưa cuối
tháng 4, trong khi nhiệt độ có khi xuống thấp nhất dưới 16
o
C (61
o
F) các buổi sáng sớm cuối
tháng 12.
Việt Nam đứng hàng thứ 8 trong 10 có thời tiết khắc nghiệt ở Đông Á (World Bank, 2008).
Theo Nguyen, N. H., 2007, 70% người Việt sống ở khu vực nông thôn với thu hoạch chính là
lúa gạo. Vấn đề chính ở vùng đồng bằng song Cửu Long là phải đối mặt với tần số và lượng
nước lụt, nước biển xâm thực với thủy triều cao, đất xâm thực và mực nước biển tăng cao và
các c
ơn bão nhiệt đới.

THỔ NHƯỠNG


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status