CẤU TRÚC BÀI TIỂU LUẬN
I. Mở đầu.
II. Tìm hiểu khái quát về bộ máy nhà nước.
1. Khái niệm.
2. Các thành phần của bộ máy nhà nước.
3. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
4. Vai trò của bộ máy nhà nước.
III. Sự phát triển của tổ chức bộ máy nhà nước qua các bản
Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 :
1. Tổ chức bộ máy nhà nước trong Hiến pháp 1946
2. Tổ chức bộ máy nhà nước trong Hiến pháp 1959
3. Tổ chức bộ máy nhà nước trong Hiến pháp 1980
4. Tổ chức bộ máy nhà nước trong Hiến pháp 1992
IV. Những điểm mới về tổ chức bộ máy nhà nước trong Hiến
pháp 2013.
V.Kết luận
I.MỞ ĐẦU
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của những cuộc đấu tranh. Từ năm 1930, dưới
sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn
luyện, nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, đầy gian khổ hy
sinh, làm Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch
Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời.
Tiếp đó, suốt mấy chục năm, nhân dân các dân tộc nước ta đã liên tục chiến đấu
lập nên những chiến công oanh liệt, đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến
dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đánh thắng hai cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân
và đế quốc, giải phóng đất nước, thống nhất Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân
tộc, dân chủ nhân dân. Ngày 2 tháng 7 năm 1976 Quốc hội nước Việt Nam thống
nhất đã quyết định đổi tên nước là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cả nước
bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ra sức xây dựng đất nước, kiên
cường bảo vệ Tổ quốc đồng thời làm nghĩa vụ quốc tế.
Do đó, nghiên cứu tổ chức bộ máy nhà nước qua các bản hiến pháp để thấy sự vận
định thành lập thêm các tòa án khác (như tòa kinh tế, tòa hành chính, tòa lao
động ). Hệ thống cơ quan xét xử vừa được hình thành bằng con đường bầu cử
( Chán án Tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu và bãi miễn ; hội thẩm nhân
dân ở tòa án nhân dân dịa phương do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu và bãi
miễn), vừa được hình thành bằng con đường bổ nhiệm ( Phó chánh án, thẩm
phán của Tòa án của nhân dân tối cao bổ nhiệm., miễn nhiệm, cách chức). Hệ
thống các cơ quan tòa án cũng nhận quyền lực nhà nước từ các cơ quan đại diện
của nhân dân và đặt dưới sự giám sát của các cơ quan đó. Xét xử là chức năng
duy nhất của các tòa án và chỉ có tòa án mới có quyền xét xử.
- Hệ thống cơ quan kiểm sát, gồm có : Viện kiểm sát nhân dân tối cao, viện kiểm
sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, viện kiểm sát nhân dân
huyện, quận và cấp tương đương cũng như viện kiểm sát quân sự các cấp (Viện
kiểm sát quân sự trung ương, viện kiểm sát quân sự khu và cấp tương đương,
viện kiểm sát quân sự khu vực). Hệ thống này được hình thành bằng con đường
bổ nhiệm. Riêng đối với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc
hội bầu và bãi miễn. Còn đối với các Phó viện trưởng và kiểm sát viên Viện
kiểm sát nhân dân tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.
Các cơ quan kiểm sát có chức năng công tố và giám sát hoạt động tư pháp.
b.Theo cấu trúc hành chính lãnh thổ và phạm vi thẩm quyền :
- Các cơ quan nhà nước trung ương, bao gồm : Quốc hội, Ủy ban thường vụ
Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ và các cơ
quan khác thuộc Chính phủ ; Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao. Đặc điểm của hệ thống này là hoạt động của chúng bao trùm lên toàn
bộ lãnh thổ. Văn bản pháp luật do các cơ quan này ban hành có hiệu lực trong
phạm vi cả nước, đối với tất cả các địa phương.
- Các cơ quan nhà nước ở địa phương, gồm có : Hội đồng nhân dân và ủy ban
nhân dân các cấp (tỉnh, huyện, xã và cấp tương đương) cùng các sở, phòng ban
thuộc ủy ban nhân dân ; tòa án nhân dân và biện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương, huyện, quận và tương đương. Đặc điểm của hệ
tiên 03/9/1945 chính phủ lâm thời đã xác nhận 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước
và nhân dân ta trong viêc bảo tồn nền độc lập dân tộc và xây dựng chính quyền dân
chủ nhân dân. Tháng 3/1946, Quốc hội họp kì đầu tiên và bầu ra ban thường vụ
Quốc hội, Chủ tịch nước, Phó chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ và các thành
viên của chính phủ. Tháng 11/1946, tại kì họp thứ hai, Quốc hội đã thảo luận và
thông qua bản hiến pháp đầu tiên của nhà nước ta-Hiến pháp năm 1946. b,Tổ chức
bộ máy nhà nước:
*Hệ thống cơ quan đại diện:
- Gồm: Nghị viện nhân dân, Hội đồng Nhân dân tỉnh, Hội đồng nhân dân xã. Cấp
bộ và huyện không có hội đồng nhân dân. Nghị viện nhân dân và Họi đồng nhân
dân do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Ban Thường vụ Nghị
viện nhân dân là cơ quan hoạt động thường xuyên của Nghị viện, có quyền quyết
định một số vấn đề quan trọng. Nhiệm kì của Nghị viện Nhân dân 3 năm. Thành
phần cảu Nghị viện gồm 1 Nghị trưởng, 2 Phó Nghị trưởng, 12 ủy viên chính
thức, 3 ủy viên dự khuyết để lập thành Ban Thường vụ.
*Hệ thống cơ quan hành chính:
- Hiến pháp năm 1946 quy định Cơ quan hành chính gồm có Chính phủ và Ủy ban
hành chính các cấp (bộ, tình, huyện, xã). Chính phủ do Nghị viện Nhân dân bầu ra
và chịu trách nhiệm trước Nghị viện. Cơ cấu Chính phủ gồm: Chủ tịch nước, Phó
Chủ tịch nước và Nội các (Thủ tướng, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và một số thành
viên khác). . Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước ta. Ủy
ban hành chính ở địa phương do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra. Ủy ban hành
chính bộ do hội đồng nhân dân các tỉnh trong bộ bầu ra. Còn đối với ủy ban hành
chính huyện do hội đồng nhân dân các xã trong huyện đó bầu ra. Ủy ban hành
chính phải chịu trách nhiệm trước hội đồng nhân dân cùng cấp và ủy ban hành
chính cấp trên. Ủy ban hành chính huyện chịu trách nhiệm trước ủy ban hành chính
tỉnh.
*Hệ thống cơ quan tư pháp:
Hệ thống các cơ quan tư pháp, bao gồm : Tòa án tối cao, các tòa án phúc thẩm, các
tòa đệ nhị cấp ( xét xử 2 cấp sơ thẩm và phúc thẩm) và tòa sơ cấp (chỉ xét xử sơ
quan hoạt động thường xuyên của Quốc hội. Nhiệm kì theo nhiệm kì của Quốc hội.
*Hệ thống cơ quan hành chính:
Đến Hiến pháp năm 1959, Chính phủ được đổi tên thành Hội đồng Bộ trưởng(đề
cao tính tập thể). Trong thành phần của Hội đồng Chính phủ chỉ có Thủ tướng, các
Phó thủ tướng, các bộ trưởng và tương đương. Như vây, trong thành phần của Hội
đồng Chính phủ không có Chủ tịch nước, Phó chủ tịch nước và các thứ trưởng như
trước đây. Vì vậy, Chủ tịch nước không đứng đầu và lãnh đạo Hội đồng Chính
phủ. Đứng đầu và lãnh đạo Hội đồng Chính phủ là Thủ tướng Chính phủ. Số lượng
các bộ, thành viên của Hội đồng Chính phủ cũng tăng lên đáng kể (18 bộ). Hoạt
động quản lí của Hội đồng Chính phủ bắt đầu theo xu hướng đi sâu vào chuyên
ngành. Các ủy ban hành chính vẫn thành ljâp ở cả ba cấp (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp
xã và tương đương). Số lượng các sở, phòng, ban cũng như thành viên của các Ủy
ban hành chính cũng tăng lên. Ủy ban hành chính cấp trên chỉ có quyền đình chỉ
đối với nghị quyết của hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp mà không có hủy bỏ
như trước đây.
*Hệ thống cơ quan xét xử:
Theo Hiến pháp năm 1959, hệ thống cơ quan xét xử có nhiều thay đổi. Theo đó,
Tòa án được thành lập theo nguyên tắc hành chính. Tòa án Nhân dân tối cao, Tòa
án nhân dân tỉnh, Toàn án nhân dan huyện và Tòa án quân sự các cấp. Các thẩm
phán do bầu chứ không phải do Chính phủ bổ nhiệm. Riêng Chánh án toàn án
Nhân dân tối cao do Quốc hội bầu ra, nhiệm kì theo nhiệm kì của Quốc hội và phải
báo cáo công tác trước Quốc hội. Thẩm phán toàn án các cấp do Hội đồng nhân
dân các cấp bầu ra. Tòa án phải báo casoc công tác cho Hội đồng nhân dân cũng
caaos và với Tóa án cấp trên. Phụ thẩm nhân dân đổi tên thành Hội thẩm nhân dân
và luôn tham gia vào các phiên tòa. Những thay đổi trên làm cho hoạt động xét xử
được minh bạch hơn, có hiệu quả tốt hơn.
*Hệ thống cơ quan kiểm sát
Hệ thống cơ quan kiểm sát là một hệ thống mới trong bộ máy nhà nước. Từ nhiệm
vụ công tố trước đây, các cơ quan này được giao thêm nhiều nhiệm vụ mới trong
hoạt động kiểm sát (kiểm sát việc tuân theo pháp luật, kiểm sát điều tra, kiểm sát
Thường vụ Quốc hội đổi tên thành Hội đồng nhà nước. Đây là điểm thay đổi lớn so
với Hiến pháp năm 1959, bỏi Hội đồng nhà nước không chỉ thực hiện chức năng
của Ủy ban Thường vụ quốc hội mà còn là Chủ tịch nước tập thể. Không chỉ thay
đổi về chức năng mà cơ cấu tổ chức và hoạt động cũng có sự thay đổi. Cơ quan đại
diện địa phương gồm Hội đồng nhân dân các cấp(tỉnh, huyện, xã và tương đương).
Hội đồng nhân dân do nhân dân địa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân
dân. So với Hiến pháp năm 1959 thì Hiến pháp năm 1980, Quốc hội và Hội đồng
nhân dân được tổ chức chặt chẽ hơn, cụ thể số lượng thành viên tăng lên, các cơ
quan thuộc Quốc hội được bổ sung để làm việc tốt hơn và nhanh hơn.
*Hệ thống cơ quan hành chính:
Hệ thống các cơ quan chấp hành, gồm có: Hội đồng bộ trưởng, các bộ, các ủy ban
nhà nước và các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng. Ở địa phương có ủy ban
nhân dân các cấp (tỉnh, huyện, xã và cấp tương đương). Như vậy, Hội đồng chính
phủ được đổi tên thành Hội đồng bộ trưởng; ủy ban hành chính được đổi tên thành
ủy ban nhân dân (nhấn mạnh tính dân chủ). Do chế độ làm việc tập trung và tập thể
chịu trách nhiệm nên vai trò và trách nhiệm cá nhân của Chủ tịch Hội đồng bộ
trưởng và chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp bị hạn chế, hoạt đông của Hội đồng bộ
trưởng và ủy ban nhan dân kiém hiệu quả.
*Hệ thống cơ quan xét xử:
Hệ thống các cơ quan tòa án về cơ bản giống như quy định của Hiến pháp năm
1959 nhưng bắt đầu có sự chuyển giao một số nhiệm vụ, quyền hạn từ các cơ quan
tòa án sang các cơ quan hành pháp. Việc đào tạo cán bộ cho ngành tòa án cũng như
việc quản lí các tòa án địa phương trong giai đonạ này được chuyển giao cho Hội
đồng bộ trưởng.
*Hệ thống cơ quan kiểm sát
Hệ thống cơ quan kiểm sát trong Hiến pháp năm 1980 được quy định giống với
trong Hiến pháp năm 1959.
*Nguyên thủ quốc gia:
Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Củ tịch nước được "sáp nhập" thành Hội đồng Nhà
nước. Chế định Nguyên thủ quốc gia từ cá nhân thay đổi thành tập thể.Việc thay
phương không có nhiều thay đổi.
*Hệ thống cơ quan xét xử:
Hệ thống các tòa án cũng được thành lập ở ba cấp như 1980 đã quy định. Tuy
nhiên, trong tổ chức và hoạt động của các tòa án cũng có sự thay đổi. Trong hệ
thống các cơ quan tòa án ngoài các tòa hình sự và dân sự còn có các tòa án khác.
Đó là các tòa án chuyên trách như Toàn án kinh tế, tòa hành hính, lao động… Chế
độ bầu thẩm phán được thay bằng chế độ bổ nhiệm thẩm phán nhằm đề cao tính
chất nghề nghiệp của thẩm phán. Ngoài ra, tiêu chuẩn của các thẩm phán cũng đòi
hỏi cao hơn. Công tác thi hành án dân sự được chuyển giao cho các cơ quan thuộc
Chính Phủ.
*Hệ thống cơ quan kiểm sát:
Hệ thống các cơ quan kiểm sát cũng được thành lập ở ba cấp. Chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn cũng như cơ cấu tổ chức của các viện kiểm sát về cơ bản không thay
đổi nhưng tập trung vào chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp(không kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính – kinh tế).
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa viện trưởng với tập thể ủy ban kiểm sát đực điều
chỉnh lại để kết hợp giữa tính sáng tạo của tập thể và vai trò của cá nhân viện
trưởng. Quan hệ giữa viện trưởng và hội đồng nhân dân cùng cấp cũng được điều
chỉnh lại: đặt viện trưởng dưới sự giám sát của hội đồng nhân dân cùng cấp.
*Nguyên thủ quốc gia:
Chủ tịch nước tách ra khỏi Hội đồng nhà nước thành một chế định riêng. Quyền
hạn không lớn như tron các bản Hiến pháp trước đây, nhưng quy định cụ thể, rõ
ràng hơn và tăng thêm một số quyền mới.Điểm khác biệt nhất đó là trong Hiến
hành chính – kinh tế đặc biệt, đơn vị hành chính tương đương với quận, huyện, thị
xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương; có quy định nhằm khắc phục những
hạn chế trong việc thành lập, nhập, chia, điều chỉnh đơn vị hành chính. Về tổ chức
chính quyền địa phương, quy định định khái quát theo hướng: “Chính quyền địa
phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của Nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có hội đồng nhân dân và ủy
ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị
-Vai trò thống lĩnh các lực lượng vũ trang được tăng cường. Có quyền yêu cầu
Chính phủ họp bàn vấn đề mà Chủ tịch nước xét thấy cần thiết.
*Hội đồng kiểm toán và bầu cử quốc gia:
Đây là một thiết chế và cơ quan mới. Đã quy định tổng quát về Hội đồng bầu cử
quốc gia, có nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, chỉ đạo và hướng dẫn bầu
cử đại biệu Hội Đồng Nhân Dân các cấp, còn những vẫn đề cụ thể về tổ chức và
hoạt động của Hội đồng bầu cử quốc gia sẽ do luật định. Còn kiểm toán nhà nước
là một thiết chế hiến định độc lập phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế. thực
hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công của đất nước.
NHẬN XÉT: Với sự hoàn thiện hơn của tổ chức bộ máy nhà nước cũng như sự
hoàn thiện của Hiến pháp năm 2013. Sự ra đời của Hiến pháp 2013 là một sự kiện
trọng đại trong đời sống chính trị đất nước. Với những nhiệm vụ, quyền hạn được
quy định, Hiến pháp mới tiếp tục là nền tảng pháp lý cơ bản giúp nhân dân ta thực
hiện công cuộc đổi mới toàn diện trong tình hình mới, đáp ứng kịp thời yêu cầu
của thực tiễn.