BÀI TẬP NHÓM
“MỘT THẬP KỶ THAY ĐỔI TỔ CHỨC TẠI UNILEVER”
TÓM LƯỢC BÀI ĐỌC
- 3 ngành hàng: thực phẩm (60% doanh thu), giặt tẩy (25% doanh
thu) và chăm sóc cá nhân (15% doanh thu).
- Doanh thu: 50 tỷ USD/năm.
- Ban đầu (trước năm 1990), Unilever được tổ chức theo cấu trúc
phân quyền, tức là mỗi công ty con ở mỗi thị trường đảm nhiệm luôn
việc sản xuất, tiếp thị, kinh doanh và phân phối sản phẩm tại thị
trường đó, tự chịu trách nhiệm về thành tích hoạt động kinh doanh.
Cấu trúc này cho phép thực hiện quá trình địa phương hóa.
- Đến giữa thập niên 1990 Unilever bắt đầu thay đổi vì cấu trúc phân
quyền ngày càng không phù hợp với môi trường cạnh tranh đang
thay đổi nhanh chóng. Năm 1996, Công ty áp dụng cấu trúc khu vực
địa lý, trong đó mỗi khu vực bao gồm các nhóm sản phẩm riêng biệt.
Mỗi khu vực và nhóm sản phẩm phối hợp hoạt động của các công ty
con ở các quốc gia trong vùng để giảm chi phí kinh doanh và đẩy
nhanh tốc độ phát triển, tung ra sản phẩm mới.
- Đến năm 2000, Unilever vẫn thấy mình tăng trưởng chậm hơn các
đối thủ cạnh tranh, vì vậy công ty thực hiện tái cấu trúc, chuyển sang
cấu trúc nhóm sản phẩm toàn cầu (chỉ dựa trên 2 nhóm sản phẩm
toàn cầu là hàng thực phẩm, nhóm hàng chăm sóc cá nhân & gia
đình).
TRẢ LỜI CÂU HỎI
-
th
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đến đầu những năm
1950 là thời kỳ nền kinh tế thế giới khôi phục sau chiến tranh. Sau
từng cây đũa độc lập thì không thể cứng bằng 1 bó đũa), phát sinh chi
phí cao (vì các đơn vị cùng có các bộ phận sản xuất, bộ phận kinh
doanh, bộ phận nghiên cứu, … giống nhau -> lãng phí), do đó không
cạnh tranh nổi với các hãng khác, vì vậy cấu trúc này không còn phù
hợp.
Giai đoạn này cũng có thể thấy rằng Unilever “ngủ quên trên
chiến thắng”, không bắt kịp tình hình thay đổi của nền kinh tế thế
giới, không bắt kịp với đối thủ cạnh tranh về việc xây dựng những
thương hiệu toàn cầu hay khu vực.
Vào thập niên 90 thế giới chứng kiến sự ra đời của Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) – một khuôn khổ tự do hoá thương mại
đa phương trên quy mô toàn cầu và có tác động to lớn đến sự phát
triển của thương mại quốc tế.
Vào giữa thập niên 1990, khi Unilever nhận ra mình đang tụt
hậu. Thế là, Unilever bắt đầu thay đổi toàn bộ, công ty áp dụng cấu
trúc khu vực địa lý. Từ đó Unilever đã cố gắng thực hiện cắt giảm chi
phí kinh doanh, đẩy nhanh tốc độ phát triển, tung ra sản phẩm mới
theo vùng (khu vực địa lý).
Mặc dù công ty đã đạt được thành quả cắt giảm được 400 triệu
đô la chi phí, nhưng cấu trúc theo địa lý vẫn thất bại là vì sự đầu tư
vẫn còn dàn trải, không phát huy được thế mạnh của riêng mình
(kiểu như Vinashin), không biết tận dụng sự phá bỏ rào cản thương
mại khi có WTO (did not expoit falling trade barriers:). Chính sách
đẩy nhanh sự phát triển có thể làm cho bộ máy khổng lồ Unilever
chưa kịp thích nghi, bằng chứng là sự thay đổi vấp phải sự phản đối
mạnh mẽ từ các công ty con.
- Phân thành 2 nhóm sản phẩm toàn cầu là hàng thực phẩm và
nhóm hàng chăm sóc cá nhân & gia đình.
- Gom 300 công ty thành 10 nhóm.
- Danh mục hàng hóa giảm từ 1600 thành 400.
- Mua lại những thương hiệu nổi tiếng.
- Đóng cửa 100 nhà máy vào năm 2004 (từ 380 xuống 280).
- Áp dụng những lý thuyết quản trị mới.
Cấu trúc này không những phù hợp với ngành kinh doanh bột
giặt và thực phẩm mà còn phù hợp với những ngành có nhiều sự cạnh
tranh, khi có nhiều sự cạnh tranh thì chắc chắn giá sản phẩm có sự
cạnh tranh (ai cũng muốn dẫn đầu về chi phí), lúc đó thì các sản phẩm
cạnh tranh sẽ có giá tương đương, để có thể vượt trội thì chúng ta
phải tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm của chúng ta, lúc này chúng
ta như chỉ còn 1 mình trên thị trường, thoát ra khỏi sự cạnh tranh,
cách thức này theo Chiến lược đại dương xanh (The Blue Ocean
Strategy).
4/ Mô hình cu trúc ca Unilever khu vm
gì?
Mô hình cấu trúc phân quyền:
- Ưu điểm: phát huy được tính sáng tạo, tính chủ động, tính địa
phương hóa nên dễ xâm nhập thị trường địa phương.
- Nhược điểm: chi phí tập đoàn cao, không phát triển được
những sản phẩm toàn cầu hay khu vực.
Mô hình cấu trúc khu vực địa lý:
- Ưu điểm: cắt giảm được chi phí tập đoàn, đẩy nhanh được tốc
độ phát triển.
- Nhược điểm: mỗi khu vực phát triển những sản phẩm có thể
chỉ phù hợp với khu vực đó, mà không phù hợp với khu vực khác nên
khó xâm nhập vào khu vực khác này. Và cũng có thể phát sinh vấn đề
cồng kềnh và phức tạp. Theo xu thế hiện tại, càng ngày các MNC càng
cố gắng tinh giản bộ máy của mình, để nó trở nên linh hoạt hơn.
Unilever đã nảy ra ý tưởng, và họ đang thực hiện, để “co lại hơn
nữa” cấu trúc tổ chức của mình. Họ muốn chỉ còn 1 Unilever mà thôi.
Theo đó, Unilever của Hà Lan và của Anh sẽ hợp nhất lại các bộ phận
chức năng. Cấu trúc mới cho phép Unilever tiết kiệm được một chi
phí khổng lồ.
Tuy nhiên, việc hợp nhất nhóm kinh doanh lại với nhau chưa hẳn là
điều tốt. Vì khi đó sự thấu hiểu khách hàng địa phương sẽ bị giảm đi.
Cùng 1 thương hiệu Coca-cola, nhưng ở thị trường Mỹ lại không thích
ngọt, thị trường châu Á thích ngọt hơn… Liệu Unilever có làm được?
Tài liệu tham khảo thêm:
- “Bringing our European business back to growth”, Kees van
der Graaf -President, Unilever Europe, 2005.
- Harvard Business Review Article: “Inside Unilever: The
Evolving Transnational Connpany”, Floris A. Maljers
( />_-92506-PDF-ENG&referral=00103).
- Analysis of the Organisation and Leadership of Unilever
( />organisation-and-leadership-of-unilever-business-essay.php).