LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành c
ảm ơn PGS.TS: Trần Chủng đã tận tình hướng dẫn và
quý th
ầy cô Khoa sau đại học Trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội đã truyền
d
ạy những kiến thức quý báu trong chương trình cao học và giúp đỡ kinh
nghi
ệm cho luận văn hoàn thành được
thu
ận lợi.
C
ảm ơn các bạn đồng nghiệp đã nhiệt tình trao đổi, góp ý và cung cấp
thông tin tư li
ệu.
Tác giả luận văn
Nguy
ễn Văn Quang
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không
sao chép của ai. Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu,
thông tin đư
ợ
c đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh
mục tài liệu của luận văn.
Tác giả luận văn
Nguy
ễn Văn Quang
1
I. M
Ở ĐẦU
ốc) cao 492m,
Tháp Al Burj Dubai cao 828m;
Ở
Vi
ệt Nam
hi
ện có các nhà như Trung tâm Tài chính Tp Hồ Chí Minh cao
68
t
ầng; T
òa nhà Keangnam t
ại Hà Nội cao 70
t
ầng.
Vật liệu th
ường dùng
cho k
ết cấu chính của nhà
siêu cao t
ầng
là k
ết cấu
thép, k
ết cấu bê tông cốt thép và hệ kết cấu hỗn hợp thép
– bê tông c
ốt thép.
So sánh gi
ữa kết cấu b
ê tông cốt thép và kết cấu thép thì kết cấu bêtông cốt
thép có s
ộ
c
ứng của kết cấu lớn, tính năng chịu lửa tốt, giá th
ành hạ so
v
ới kết cấu thép.
Nhược điểm của kết cấu bê tông cốt thép là trọng lượng bản thân của kết cấu
l
ớn, sử dụng nhân công tại hiện trường nhiều, thời
gian xây d
ựng
dài hơn k
ết
c
ấu thép
. Mu
ốn khắc phục, cần phải cải thiện tính năng của
v
ật liệu
, hoàn
thi
ện
phương pháp thi
ết kế
k
ết cấu, phát triển các loại phương pháp công
nghi
ệp quá trình
thi công. Bê tông mác cao cùng công ngh
ệ bơm bê tông
toán về vật liệu và công nghệ thi công, tác giả tìm hiểu điều kiện thực tế Việt
Nam đ
ể có thể đề xuất một số n
ội dung li
ên quan đến công nghệ và tổ chức
thi công nhà siêu cao t
ầng trong điều kiện Việt Nam.
PH
ẠM VI NGHIÊN CỨU.
Công ngh
ệ và tổ chức thi công
Nhà siêu cao t
ầng cao trên 20
0m (50
t
ầng trở lên)
t
ại Việt Nam
.
Đ
ỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
Mô hình tổ chức thi công nhà siêu cao tầng hệ kết cấu bê tông cốt thép.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN C
ỨU.
Nghiên c
ứu lý thuyết kết hợp với các mô hình thi công nhà siêu cao
t
ầng hiện nay ở nước ta,
Đề xuất mô hình t
ổ chức thi công nhà siêu cao tầng
ế
m; do đó bi
ện pháp giải quyết là ngoài việc mở rộng thích
đáng quy mô thành ph
ố ra, còn phải tập trung suy nghĩ vào vấn đề làm sao
trong m
ột diện tích hữu hạn có thể tạo nên được càng nhiều nơi cư trú và hoạt
đ
ộng tốt của con người. Kinh nghiệm của các nướ
c trên th
ế giới đều chỉ rõ,
trong các khu nhà ở nếu ta xây một tỷ lệ nhất định nhà cao tầng thì so với
phương án xây toàn b
ộ chỉ là nhà nhiều tầng thôi, có thể tăng thêm được từ 20
đ
ến 80% diện tích sử dụng. Còn trong những khu vực trung tâm phồn hoa của
đô th
ị, nếu ta xây dựng nhà cao tầng để làm thương nghiệp và dịch vụ thì so
v
ới phương án chỉ xây nhà nhiều tầng thôi, cũng có thể tăng diện tích sử dụng
lên nhi
ều lần, và rõ ràng là có thể tiết kiệm một cách có hiệu quả việc sử dụng
đ
ất.
1.1.2. Thu
ận lợi c
ho s
ản xuất, l
àm việc và sử dụng.
Nhà cao t
ạn. Đối với các ng
ành công nghi
ệp nhẹ v
à trung tâm k
ỹ thuật cao, nếu ta đem
các gian xưởng, các kho nguyên liệu và thành phẩm, các hệ thống sinh hoạt
và qu
ản lý đều bố trí ở trên mặt đất, thì thời gian trung chuyển phí sản xuất và
phí t
ổn quản lý chiếm tỷ trọng lớn. Còn khi tập trung cả
trong m
ột ngôi nhà
cao t
ầng thì có thể rút ngắn khoảng cách vận hành của các loại thiết bị đường
ống v
à quá trình sản xuất, để từ đó hạ thấp giá thành sản xuất.
1.1.3. T
ạo điều kiện để phát triển loại nhà đa năng.
Đ
ể giải quyết rất nhiều mâu thuẫn trong q
uá trình làm vi
ệc, cư trú và
sinh hoạt của con người trong không gian phát triển của đô thị, đòi hỏi phải
tho
ả mãn các nhu cầu sử dụng khác nhau trong một ngôi nhà. Ví dụ, đối với
cư dân, ngoài nhu c
ầu về ở ra, người ta còn phải mua bán hàng ngày những
đ
ồ
dùng sinh ho
ệc làm
d
ịu căng thẳng và mật độ giao thông đô thị, giảm bớt áp lực
c
ủa nhu cầu ở v
à giải quyết mâu thuẫn của việc thiếu đất đai xây dựng, có lợi
cho s
ản xuất v
à làm việc của người dân.
1.1.4. Làm phong phú di
ện mạo của đô thị.
Căn c
ứ v
ào đặc điểm khác n
hau c
ủa đô thị v
ùng đất xây dựng, tiến hành
thi
ết kế quy hoạch một cách tỷ mỷ khoa học, bố trí các ngôi nh
à cao tầng với
hình kh
ối, diện mạo khác nhau có thể h
ình thành đường siluoét hấp dẫn của
thành phố. Một số nhà cao tầng đột xuất vươn lên như điểm nhấ n, tạo nên
c
ảnh quan và dáu ấn đặc sắc của thành phố. Ví dụ: những ngôi nhà cao tầng
xu
ất hiện tại Hà Nội và TP. HCM trong hai thập kỷ lại đây đã trở thành bộ
ph
ận cấu thành quan trọng của hai thành phố lớn của đất nước trong thời hiện
, lo
ại h
ình kết cấu và phương pháp
thi công
đ
ể thực hiện kết cấu chủ thể của ngô
i nhà nh
ằm l
àm nó trở thành một sản
ph
ẩm xây dựng có công năng sử dụng nhất định, có chiều cao v
à hình khối
phù h
ợp v
à thoả mãn những điều kiện
công trình đư
ợc
thi
ết kế
ra là m
ột vấn
đ
ề rất quan trọng
nó ph
ụ thuộc v
ào các
y
ếu tố:
1.2.1. Công năng c
ủa nh
ột mức độ rất lớn
- quy
ết định sự lựa
ch
ọn hệ xây dựng nhà cao tầng.
1.2.2. Chi
ều cao của nhà
.
Chi
ều cao của nhà
cao t
ầng cũng có ảnh hưởng rất lớn tới việc lựa
ch
ọn hệ thống
xây d
ựng
. Do chuy
ển vị
n
ằm ngang của các tầng sàn sinh ra
dư
ới tác dụng của
t
ải trọng
n
ằm ngang của ngôi nhà tỷ lệ thuận với luỹ thừa
bậc 4 của chiều cao ngôi nhà, nên khi lựa chọn hệ thống xây dựng của những
ngôi nhà cao t
ầng, ta
ph
ự lựa chọn hệ thống xây dựng nhà cao
t
ầng.
1.2.4. V
ật liệu, hệ kết cấu.
7
1.2.4.1. K
ết cấu gạch đá
.
Nh
ững kiến trúc cao tầng thời cổ đại nh
ư những tháp hải đăng tại thành
ph
ố Alexandri của Ai Cập, các tháp ch
ùa cao tại Hà Nam, Vân Nam, Trung
Qu
ốc l
à những
công trình c
ổ tồn tại h
àng ngàn năm trước đây. Ở nước ta cũng
có nh
ững tháp cao đến 13 tầng, xây từ năm 1121 nh
ư tháp Sùng Thiện diên
linh là m
ột điển h
ình của
k
ết cấu
g
ạch đá và gạch cốt
thép, m
ột số ít nhà cao tầng từ 8 đến
11 t
ầng thì xây
b
ằng kết cấu hỗn hợp khung
bê tông c
ốt thép
và tư
ờng bằng
kh
ối
xây g
ạch và gạch đá cốt thép.
1.2.4.2. K
ết cấu thép
.
Nhà cao tầng của thời kỳ cận đại là sản phẩm của sự phát triển công
nghi
ệp gang
thép c
ủa thế kỷ thứ 19. Năm 1801, ngôi nhà đầu tiên c
ao 7 t
ầng
làm b
ằng
k
ết cấu
khung d
thi công g
ọn ghẽ văn minh, đặc biệt thích hợp với việc
xây d
ựng
nhà siêu cao và nhà ho
ặc
công trình có kh
ẩu độ lớn.
8
Theo s
ố liệu thống kê của nước ngoài, trên thế giới ngày nay cứ 100
ngôi nhà siêu cao quá 212 m thì s
ẽ có 65 ngôi nh
à làm bằng
k
ết cấu
h
ỗn hợp
thép, còn l
ại 12 ngôi nh
à nữa làm bằng kết cấu
bê tông c
ốt thép
; trong đó có
11 ngôi nhà cao nh
ất cao từ 296 đến 443 m đều l
àm bằng
k
ết cấu thép
và kết
tuy có nh
ững ưu điểm như đã nói ở trên, nhưng khi dùng
đ
ể làm
nhà cao t
ầng thì chi phí
v
ật liệu
thép khá l
ớn từ 110
– 300kg/m2 xây
dựng tương đương từ 2- 3 lần chi phí vật liệu thép của kết cấu bê tông cốt
thép, do đó giá thành cao so v
ới
k
ết cấu bê tông
c
ốt thép xấp xỉ gấp đôi. Bản
thân k
ết cấu thép không tự phòng cháy được, mà phải có một lớp bảo vệ
phòng cháy b
ọc ở ngoài bề mặt các kết cấu thép. Đây cũng là một nhân tố
quan tr
ọng trong làm giá thành cao.
Chính vì v
ậy mà ở Trung Quốc, một nước đã có nền công nghiệp gang
thép khá phát tri
ển
- ngư
ời ta vẫn cho rằng quy cách sản phẩm và sản lượng
hì nó
đ
ã có sự phát triển rộng
rãi. L
ịch sử công nghệ nh
à cao tầng đã trải qua nhiều giai đoạn. Trong thế kỷ
20, trư
ớc năm 1946, hầu hết các nh
à cao trên 20 tầng là kết cấu thép. Từ đầu
9
nh
ững năm 50 và đặc biệt 25 năm gần đây các
công trình b
ằng
BTCT đ
ã bắt
đ
ầu cạnh tranh chiều cao với các công tr
ình kết cấu thép.
Năm 1824, ngư
ời ta đ
ã phát minh ra
xi măng poóc lăng. Năm 1850
xu
ất hiện
k
ết cấu
bê tông c
ốt thép
. Năm 1903 b
ựng
b
ằng
k
ết cấu
bê tông c
ốt thép lần đầu tiên. Đến những năm 50 của thế kỷ trước, trong xây
d
ựng nhà ở cao tầng ở đây, người ta đã sử dụng kết cấu bê tông cốt thép khá
r
ộng rãi. Đặc biệt là từ 20 năm n
ay, s
ự phát triển của kết cấu bê tông cốt thép
r
ất mạnh mẽ. Theo thống kê của Bộ Xây dựng Trung Quốc thì kết cấu bê tông
cốt thép – trong toàn bộ các công trình xây dựng của Nhà nước - chiếm tỷ
tr
ọng 21,4% năm 1980, tăng lên đến 46,8% năm 1987. Những ngôi nhà cao
10 t
ầng trở lên sử dụng kết cấu bê tông cốt thép chiếm tỷ trọng từ 91,7% năm
1984 tăng lên đ
ến 97,3% năm 1987.
Trung tâm H
ợp hoà củ
a H
ồng Kông
xây d
ựng
xong vào năm 1980, 65
t
ằng
k
ết cấu
bê tông c
ốt thép
.
10
Nguyên nhân khi
ến
k
ết cấu
bê tông c
ốt thép
chi
ếm địa vị chủ đạo trong
xây d
ựng
nhà cao t
ầng l
à nguồn nguyên liệu làm
bê tông r
ất phong phú, l
ượng
thép s
ử dụng t
ương đối thấp so với
k
ết cấu thép
, đ
ộ cứng của kết cấu lớn, t
ph
ải nâng cao cường độ của
bê tông đ
ể từ đó giảm bớt tiết diện của
k
ết cấu.
Trong nh
ững ngôi nhà từ 20 tầng trở xuống, cường độ của
bê tông
thư
ờng từ mác 200 đến mác 300 có nghĩa là cường độ chịu nén từ 20 đến 30
MPa. Đ
ối với những ngôi nhà ca
o hơn n
ữa thì càn sử dụng mác từ 300 đến
450. Ví d
ụ cao ốc Mậu Dịch Thâm Quyến, bê tông của các cột tiết diện hình
chữ nhật ở 4 tầng bên dưới sử dụng mác 450 thì kích thước của tiết diện vẫn
c
ần đến 650 x 1000 mm, còn khoảng cách giữa các cột chỉ là 3750 m
m.
Trong khi dó,
ở Hoa Kỳ có 10 ngôi nhà siêu cao từ 50 đến 75 tầng bằng
k
ết cấu
bê tông c
ốt thép
, ngư
ời ta đã sử dụng ở đây, cường độ
thi
ần đây ở Bắc Kinh khi
thi công khách s
ạn Tân Thế Kỷ
31 t
ầng cao
111m đ
ã s
ử dụng bê tông mác 600 đối với 4 tầng dưới của hệ cột
bê tông c
ốt
thép, ti
ết diện lớn nhất của cột thu nhỏ c
òn là 900 x 900
mm.
Ở Li
êu Ninh,
11
ngư
ời ta cũng
xây d
ựng
ngôi nhà giao lưu k
ỹ thuật công nghiệp 18 tầng, cao
62m v
ới 12 tầng b
ên dưới của hệ thống cột bê tông cốt thép sử dụng bê tông
mác 600.
M
ột biện pháp nữa để giảm bớt trọng l
ượng bản thân của
phát huy đư
ợc tác dụng đó.
Nh
ững năm đầu của thế kỷ 20, Hoa Kỳ, Liên Xô, Nhật Bản, Đan Mạch,
Anh và m
ột số nước khác đã triển khai nghiên cứu để phát triển cốt liệu nhẹ
nhân t
ạo và hết sức tận dụng cốt liệu nhẹ thiên nhiên, cũng như áp dụng cốt
liệu phế thải công nghiệp.
Ở Australia, năm 1968 tại Sidney đ
ã hoàn thành một ngôi nhà 50 tầng
cao 183 m có dáng hình viên tr
ụ đường kính 41,15m. Toàn bộ
k
ết cấu
c
ủa 8
t
ầng bên tr
ên s
ử dụng loại cốt liệu nhẹ có tính trương nở để đúc
bê tông
cư
ờng độ bình quân đạt 32 MPa. Người ta đã dùng phương pháp
ván khuôn
trư
ợt để
thi công ngôi nhà đó; c
ứ 5 ngày lên được 1 tầng.
Ở Hoa Kỳ, tại Chicago đ
à cao tầng trên dưới 20 tầng.
12
Ở Trung Quốc, từ năm 1956, ng
ười ta đã nghiên cứu sử dụng nhiều loại
c
ốt liệu nhẹ nh
ư kêzamit đất sét, kê
zamit than b
ột, đá bọt, xỉ núi lửa, tahn xỉ
trương n
ở chủ yếu để l
àm tường ngoài và tường chịu lực.
T
ại Bắc Kinh năm 1983 xây xong 3 ngôi nh
à ở 20 tầng bước gian là 5,4
m và 5,7 m; chi
ều sâu l
òng nhà tính theo thông thuỷ là 9m, không có tường
d
ọc b
ên tron
g. Chi
ều dầy t
ường ngang bên trong là 24 cm, chiều dầy tường
ngoài là 35 cm. Toàn b
ộ đều sử dụng
bê tông nh
ẹ cốt liệu k
êzamit cường độ
200 và 250, trọng lượng thể tích của bê tông đều thấp hơn 1900 kg/m3. Người
ầng, các bộ phận khác nhau của nhà có thể sử dụng các loại
v
ật
li
ệu
khác nhau. Trong cùng m
ột bộ phận kết cấu cũng có thể sử dụng các loại
v
ật liệu khác nhau thành hình dạng kết cấu hỗn hợp phức tạp.
Ở Bắc Kinh v
à Thượng Hải có khách sạn như vậy, ở Thâm Quyến cũng
đ
ã phát triển những cao ố
c s
ử dụng loại
k
ết cấu
h
ỗn hợp Khung
thép k
ết hợp
v
ới ống lồng
bê tông c
ốt thép
. Trong cao
ốc Kinh thành ở Bắc Kinh, người ta
đ
ã s
ử dụng kết cấu khung thép kết hợp với tường chống trượt làm bằng tấm
13
c
ấu bên tr
ên kéo sâu xu
ống phần cột ở tầng hầm, vừa nâng cao năng lực chịu
t
ải của cột, vừa thoả m
ãn được yêu cầu phòng cháy đối với thép hình.
C
ột của nh
à cao tầng
k
ết cấu
bê tông c
ốt thép
,
ở phần tầng hầm v
à tầng
m
ột, để nâng cao khả năng chịu lực hoặc giảm bớt tiết diện của kết cấu, ta
c
ũng có thể sử dụng kết cấu hỗn hợp
b
ọc
bê tông c
ốt thép ở b
ên ngoài của
thép hình.
1.3. Tổ chức thi công nhà siêu cao tầng hệ kết cấu Bêtông cốt thép
trên th
ại kết cấu mới này được xây dựng dựa trên
h
ệ khung thép
ch
ịu lực
, khác v
ới
k
ết cấu tường chịu lực
truy
ền thống vốn đã đạt đến
t
ới hạn
chịu lực với công trình Monadnock ở Chicago.
Trong khi nhà ch
ọc
tr
ời đầu tiên trên thế giới là
Tòa nhà B
ảo hiểm
(Home Insurance Building) có chi
ều cao 1
0 t
ầng, ở
Chicago, M
ỹ
, đư
ợc xây
d
ựng từ năm
ầng hoặc hệ thống b
ơm nư
ớc
không có đ
ủ khả năng b
ơm nước cao hơn 15 m (50 ft) trở nên vô cùng bất tiện
cho các cư dân th
ời đó.
14
Các y
ếu tố chịu lực của nhà chọc trời cũng khác biệt về bản chất so với
nh
ững công tr
ình khác. Các công trình thấp tầng có thể sử
d
ụng hệ kết cấu
tư
ờng chịu lực
, trong khi
ở nh
à chọc trời, kết cấu duy nhất có thể áp dụ
ng
đư
ợc l
à hệ
k
ết cấu khung
và s
ử dụng
lõi c
, hi
ện nay là St Pancras
Chambers,
ở thủ đô
London. Công trình
được hoàn thành năm
1873 v
ới chiều
cao là 82 m (269 ft). Tòa nhà Shell Mez ở London có tổng số 12 tầng và chiều
cao là 58 m (190 ft) đư
ợc hoàn thành năm
1886 đ
ã đánh bại công trình "Tòa
nhà B
ảo hiểm" cả về số tầng lẫn chiề
u cao. Theo nh
ững tiêu chuẩn hiện đại
thì công trình
đầu tiên của thể loại nhà cao tầng là
Tòa nhà Woolworth
(Woolworth Building)
ở New York.
H
ầu hết những nhà chọc trời đầu tiên xuất hiện ở các đô thị lớn như
New York, London, Chicago vào cu
ối thế kỉ 19. Tuy nhiên các công trình ở
London s
ớm bị giới hạn chiều cao do than phiền của Nữ ho
àng
Victoria c
ều cao của nh
à chọc trời. Từ cuối
th
ập ni
ên 1930
, nhà ch
ọc t
r
ời cũng dần
15
d
ần xuất hiện ở
Nam M
ỹ
như São Paulo, Buenos Aires và
ở
châu Á như
Thư
ợng Hải
, H
ồng Kông
và Singapore.
Ngay sau Th
ế chiến thứ hai
, Liên Xô có k
ế hoạch xây dựng tám công
trình cao t
ầng khổng lồ hay c
òn gọi là
Các toà tháp c
tư
ờng
kính t
ừ 6 đến 12
mm thu và t
ỏa nhiệt gấp trên 10 lần so với tư
ờng g
ạch
có l
ớp cách nhiệt. Ở các xứ lạnh thì phải làm hệ thống sưởi
đi
ện
làm tan băng
bám t
ấm kính để băng khỏi rơi vào đầu người đi dưới đường. Dưới chân nhà
ch
ọc trời thường có gió xoáy, gọi là hội chứng
Mery Poppins r
ất nguy hiểm.
Ngoài ra, để chống giao động các nhà chọc trời cần có các thiết bị giảm dao
đ
ộng
r
ất đắt (3 triệu
đôla đ
ối với
Tòa nhà John Hancock).
Ngày nay, không thành ph
ố nào trên trên thế giới có nhiều công trình
cao trên 150 m hơn New York, quê hương c
Nhà băng Trung Qu
ốc
và Trung tâm Tài chính Qu
ốc tế
. B
ộ ba Chicago,
H
ồng Kông v
à New York được xem là ba ông lớn về
nhà cao t
ầng tr
ên thế
gi
ới.
16
Trư
ớc sự khan hiếm về đất đai xây dựng cũng như tỉ lệ hoàn vốn và lợi
nhu
ận tr
ên diện tích sàn cao, nhà chọc trời trở thành một xu hướng phát triển
chung c
ủa lo
ài người. Mặt khác, nhà cao tầng cũng được xem như biểu tượng
c
ủa s
ức mạnh kinh tế.
Hi
ện tại tháp
Burj Khalifa đ
ã hoàn thành
ều vào khoảng chục năm gần đây.
V
ề tổng quát, có t
h
ể phân quá trình phát triển nhà cao tầng ở Việt Nam theo 4
giai đo
ạn sau:
1.4.1 Giai đoạn xây dựng thời kỳ 1954 – 1976.
1.1 Nhà l
ắp ghép ở Giảng Võ
.[9]
Giai đo
ạn n
ày, các
công trình nhà thư
ờng l
à thấp tầng, từ 1
- 5 t
ầng.
K
ết
c
ấu
ch
ịu lực của nh
à thường là tường xây gạch hoặc khu
ng bê tông c
ốt thép
,
sàn panel hay đ
- 5 t
ầng); Y
ên
Lãng, Tr
ương Đ
ịnh (2 tầng); Trung
T
ự, Kh
ương Thượng, Giảng Võ, Vĩnh Hồ
(4 - 5 t
ầng). Giai đoạn n
ày, hầu hết các công trình nhà đều là thấp tầng.
1.4.2. Giai đoạn xây dựng thời kỳ 1976 – 1986.
T
ừ những năm 1976
- 1986,
ở Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, Phúc Yên,
Vi
ệt Trì và một số thành phố thị x
ã
ở miền Bắc
xây d
ựng
ph
ổ biến loại nhà
l
ắp ghép tấm lớn. Trong giai đoạn này là mẫu nhà lắp ghép tấm lớn IW của
Đ
ạo Tú do Đức
thi
ựng nhà cao tầng
18
phát tri
ển. Nhà cao tầng được xây dựng ngày một nhiều, nhất là ở TP Hồ Chí
Minh và Hà N
ội. Các nh
à cao tầng thời kỳ này chủ yếu sử dụng giải pháp
k
ết
c
ấu
ch
ịu lực l
à khung
- vách b
ằng
bê tông c
ốt thép
đ
ổ tại chỗ. Chiều ca
o công
trình ph
ần nhiều l
à dưới 20 tầng.
1.4.4. Giai đo
ạn xây dựng thời kỳ 1997 đến nay
.
Đây là giai đo
ạn nh
à cao tầng được phát triển mạnh. Nhiều giải pháp,
thành t
ựu mới của công nghệ
xây d
ựng
.
Theo đi
ều tra khảo sát, từ
năm 1990 đ
ến 1998, Hà Nội có khoảng 88 và
thành ph
ố Hồ Chí Minh có khoảng 113 công trình cao tầng đã được xây dựng.
T
ừ 1999 đến nay, tốc độ xây dựng nhà cao tầng đã gia tăng nhanh chóng
- ở
Hà N
ội và thành phố Hồ Chí Minh, hàng trăm dự án nhà cao tầng đã
và đang
đư
ợc triển khai
xây d
ựng
cùng v
ới hàng chục dự án khu đô thị mới. Giai đoạn
đ
ầu của thời kỳ đổi mới, đa phần các công tr
ình cao tầng do nước ngoài đầu
tư, xây d
ựng,
đư
ợc thiết kế bởi t
à cao tầng
t
ại Việt Nam
1.3 Thang Long ford project 21st.[9]
1.4 U-City Ha Dong, Ha Noi. [9]
20
1.5 .Tòa nhà T
ổ hợp Văn phòng
- Khách s
ạn Đại việt được xây dựng trên
đư
ờng Nguyễn Tuân
- Hà n
ội.
[9]
1.6 Viet Hung New Urban Area, Long Bien District. [9]
21
1.7 Viet Hung New Urban Area, Long Bien District. [9]
1.8 Trung tâm thương m
ại Hàng Không
.[9]
22
1.9 M
ột dự án trên đường Phạm Hùng
[9]
23
1.10 Keangnam Hanoi Landmark Tower. [tác gi
ả
sưu t
ầm]