Luận văn " Tội giết người trong Luật hình Sự Việt Nam " pot - Pdf 15

Tội giết người trong Luật hình Sự Việt Nam
ĐỀ TÀI
“ Tội giết người trong luật hình
sự Việt Nam”

Giáo viên hướng dẫn : Ts Phạm Văn Beo
Sinh viên thực hiện : Phạm Văn Đạt
GVHD: Tiến sỹ Phạm Văn Beo - 1 - SVTH: Phạm Văn Đạt
Tội giết người trong Luật hình Sự Việt Nam

2
L I NÓI UỜ ĐẦ 6
1. Tính c p thi t c a đ tàiấ ế ủ ề 6
2. N i dung và ph m vi nghiên c uộ ạ ứ 7
3. M c đích nghiên c uụ ứ 7
4. Ph ng pháp nghiên c uươ ứ 7
5. C c u đ tàiơ ấ ề 7
CH NG 1ƯƠ 9
NH NG V N CHUNG V T I GI T NG IỮ Ấ ĐỀ Ề Ộ Ế ƯỜ 9
1.Vài nét v các t i xâm ph m tính m ng trong Lu t hình s Vi t Namề ộ ạ ạ ậ ự ệ 9
1.1. Khái ni mệ 9
1.2. c đi mĐặ ể 9
2. Khái ni m chung v t i gi t ng iệ ề ộ ế ườ 9
2.1. Khái ni m theo t đi n Ti ng Vi tệ ừ ể ế ệ 9
2.2. Khái ni m theo quan đi m Lu t Hình Sệ ể ậ ự 10
2.3. c đi m c a t i gi t ng iĐặ ể ủ ộ ế ườ 10
T i gi t ng i là m t trong nh ng t i ph m đ c bi t nguy hi m, nó ộ ế ườ ộ ữ ộ ạ ặ ệ ể
không nh ng t c đi tính m ng c a con ng i mà còn nh h ng n ng ữ ướ ạ ủ ườ ả ưở ặ
n đ i v i d lu n xã h i, t i gi t ng i có m t s đ c đi m sauề ố ớ ư ậ ộ ộ ế ườ ộ ố ặ ể 12
2.3.1. c đi m v đ ng c c a t i ph m gi t ng iĐặ ể ề ộ ơ ủ ộ ạ ế ườ 12
2.3.2. c đi m v thân nhânĐặ ể ề 12

3.3. Gi t tr emế ẻ 26
3.4. Gi t ng i đang thi hành công v ho c lý do công v c a n n nhânế ườ ụ ặ ụ ủ ạ 28
3.5. Gi t ông, bà, cha, m , ng i nuôi d ng, th y giáo ho c cô giáo c a ế ẹ ườ ưỡ ầ ặ ủ
mình 29
3.6. Gi t ng i mà li n tr c đó ho c ngay sau đó l i ph m t i r t nghiêm ế ườ ề ướ ặ ạ ạ ộ ấ
tr ng ho c t i đ c bi t nghiêm tr ngọ ặ ộ ặ ệ ọ 29
3.7. Gi t ng i đ th c hi n ho c che gi u t i ph m khác:ế ườ ể ự ệ ặ ấ ộ ạ 29
3.8. Gi t ng i đ l y b ph n c th n n nhânế ườ ể ấ ộ ậ ơ ể ạ 30
3.9. Th c hi n t i ph m m t cách man rự ệ ộ ạ ộ ợ 30
3.10. Gi t ng i b ng cách l i d ng ngh nghi pế ườ ằ ợ ụ ề ệ 31
3.11. Gi t ng i b ng ph ng pháp có kh n ng làm ch t nhi u ng iế ườ ằ ươ ả ă ế ề ườ . 31
3.12. Thuê gi t ng i ho c gi t ng i thuêế ườ ặ ế ườ 32
3.13. Gi t ng i có tính ch t côn đế ườ ấ ồ 33
3.14. Gi t ng i có t ch cế ườ ổ ứ 34
3.15. Gi t ng i thu c tr ng h p tái ph m nguy hi mế ườ ộ ườ ợ ạ ể 34
3.16. Gi t ng i vì đ ng c đê hènế ườ ộ ơ 35
4. Khung hình ph t đ i v i t i gi t ng iạ ố ớ ộ ế ườ 35
5. So sánh t i gi t ng i v i m t s t i xâm ph m tính m ng khácộ ế ườ ớ ộ ố ộ ạ ạ 37
5.1. i m gi ng nhauĐ ể ố 37
5.1.1. M t khách thặ ể 37
5.1.2. M t khách quan c a t i ph mặ ủ ộ ạ 37
5.1.3. M t ch th c a t i ph mặ ủ ể ủ ộ ạ 38
5.1.4. M t ch quan c a t i ph mặ ủ ủ ộ ạ 38
5.2. Hình ph tạ 38
5.3. T i gi t con m i đ (đi u 94 BLHS)ộ ế ớ ẻ ề 38
5.4. T i gi t ng i trong tình tr ng b kích đ ng.(đi u 95 BLHS)ộ ế ườ ạ ị ộ ề 38
GVHD: Tiến sỹ Phạm Văn Beo - 3 - SVTH: Phạm Văn Đạt
Tội giết người trong Luật hình Sự Việt Nam
5.5. T i vô ý làm ch t ng i. (đi u 98 BLHS)ộ ế ườ ề 39
5.6. Phân bi t t i gi t ng i v i m t s t i xâm ph m s c kho khácệ ộ ế ườ ớ ộ ố ộ ạ ứ ẻ 39

ch ng t i ph m gi t ng i trong cán b và nhân dânố ộ ạ ế ườ ộ 63
4.6. Thu h i và qu n lý ch t ch v khí, không đ v khí, v t li u n vào ồ ả ặ ẽ ũ ể ũ ậ ệ ổ
tay t i ph mộ ạ 63
4.7. T ng c ng công tác đ u tranh phòng ch ng t i ph m gi t ng i c aă ườ ấ ố ộ ạ ế ườ ủ
các c quan b o v pháp lu tơ ả ệ ậ 63
5. M t s ý ki n đ xu t hoàn thi n B lu t hình s v t i gi t ng iộ ố ế ề ấ ệ ộ ậ ự ề ộ ế ườ 64
GVHD: Tiến sỹ Phạm Văn Beo - 4 - SVTH: Phạm Văn Đạt
Tội giết người trong Luật hình Sự Việt Nam
5.1. T i đi m i kho n 1 đi u 93 BLHS quy đ nh “Th c hi n t i ph m ạ ể ả ề ị ự ệ ộ ạ
m t cách man r ”ộ ợ 64
5.2. T i đi m c kho n 1 đi u 93 BLHS quy đ nh v hành vi gi t tr em ạ ể ả ề ị ề ế ẻ
nh ng l i không gi i thích rõ nh th nào thì đ c xem là tr emư ạ ả ư ế ượ ẻ 64
5.3. Các c quan có th m quy n c n s m ban hành v n b n h ng d n ơ ẩ ề ầ ớ ă ả ướ ẫ
đ nh t i danh v i ng i m c dây đi n tr n đ b o v tài s n nh ng đã gây ra ị ộ ớ ườ ắ ệ ầ ể ả ệ ả ư
h u qu ch t ng iậ ả ế ườ 64
5.4. Các c quan có th m quy n c n s m ban hành v n b n h ng d n (cóơ ẩ ề ầ ớ ă ả ướ ẫ
tính khái quát) phân bi t t i gi t ng i v i tôi c ý gây th ng tíchệ ộ ế ườ ớ ố ươ 65
K T LU NẾ Ậ 69
TÀI LI U THAM KH OỆ Ả 70
GVHD: Tiến sỹ Phạm Văn Beo - 5 - SVTH: Phạm Văn Đạt
Tội giết người trong Luật hình Sự Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng từ năm 1986 đến nay, qua hơn 20 năm
thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và
quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. cùng với sự phát triển không
ngừng về kinh tế, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đời sống nhân dân
không những ổn định mà ngày một nâng cao do có sự tác động tích cực của công cuộc
đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và chính sách mở cửa hội nhập quốc tế trong xu thế
toàn cầu hoá. Bên cạnh những thành tựu đạt được, nền kinh tế thị trường cũng có mặt

2. Nội dung và phạm vi nghiên cứu
Trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người
thì tội xâm phạm tính mạng là hành vi nguy hiểm nhất trong xã hội vì hành vi này đã
cướp đi mạng sống của người khác – một quyền thiêng liêng và cao quý nhất của con
người. Tuy nhiên, trong nội dung nghiên cứu của đề tài này sẽ tập trung phân tích sâu
các vấn đề liên quan đến tội giết người như các yếu tố cấu thành; phân tích dấu hiệu
pháp lý, trách nhiệm hình sự; từng hành vi xâm hại đến từng đối tượng cụ thể; khung
hình phạt cho mỗi loại tội, so sánh tội này với một số loại tội phạm khác trong cùng
một chương để thấy được tính nguy hiểm đến xã hội của tội giết người và thực tiễn
đấu tranh phòng chống tội giết người của nước ta hiện nay, đồng thời người viết cũng
đưa ra một số giải pháp chủ quan của cá nhân nhằm góp phần chung trong đấu tranh
phòng ngừa tội phạm nguy hiểm này.
3. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ tình hình tội giết người, tìm ra nguyên nhân và điều kiện, phân tích, đánh
giá những yếu tố cấu thành nên tội giết người để từ đó tìm ra những biện pháp cụ thể
nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm góp phần ổn định
tình hình an ninh trật tự xã hội.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được xây dựng trên cơ sở vận dụng những kiến thức đã được tiếp thu
và sưu tầm, tổng hợp tài liệu có liên quan đến tội giết người, kết hợp với xem xét vụ án
trên thực tế tại địa phương để chứng minh và làm rõ vấn đề nghiên cứu. Mặt khác,
người viết cũng đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
5. Cơ cấu đề tài
Luận văn được trình bày gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tội giết người.
Chương 2: Tội giết người trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành.
Chương 3: Thực trạng tội giết người ở Việt Nam và giải pháp phòng chống tội
giết người.

thế hệ sau nhiều di sản vô cùng quý báu. Trong đó thành tựu về pháp luật hình sự là
một trong những di sản quý báu nhất. Sự phát triển của pháp luật hình sự gắn liền với
sự phát triển của xã hội Việt Nam qua từng thời đại.
Trong thời kỳ phong kiến và pháp thuộc, tuy pháp luật hình sự rất hà khắc, nhằm
bảo vệ nhà vua, chế độ phong kiến. Là công cụ của thực dân pháp và tay sai, đàn áp dã
man nhân dân ta, nhằm duy trì chế độ thực dân xâm lược, pháp luật rất dã man, tàn
bạo nhưng trong thời kỳ phong kiến thực dân vẫn chưa ghi nhận khái niệm tội phạm
nói chung, tội giết người nói riêng.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, hàng loạt văn
bản pháp luật hình sự được ban hành để trừng trị các tội phạm phản cách mạng, tội
xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và trừng trị các tội phạm tài sản của công dân
2. Khái niệm chung về tội giết người
2.1. Khái niệm theo từ điển Tiếng Việt
- Tội: Là hành vi trái với qui định của pháp luật, vi phạm về những điều cấm của
đạo đức xã hội, tôn giáo.
- Giết: Làm cho người chết hay gây ra cái chết một cách đột ngột.
- Chết: Là khả năng sống không còn.
- Người: là loài động vật có tổ chức cao nhất, có khả năng tư duy, có tư thế đứng
thẳng, có đầu óc sáng tạo và sử dụng công cụ trong quá trình lao động.
GVHD: Tiến sỹ Phạm Văn Beo - 9 - SVTH: Phạm Văn Đạt
Tội giết người trong Luật hình Sự Việt Nam
2.2. Khái niệm theo quan điểm Luật Hình Sự
Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định tội giết người nhưng không mô tả cụ
thể những dấu hiệu của tội này mà chỉ nêu tội danh. Từ thực tiễn xét xử, có thể định
nghĩa:
- Giết người: là hành vi trái pháp luật cố ý làm chết người ngoài ý muốn của nạn
nhân. Hành vi làm chết người được hiểu là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con
người, chấm dứt sự sống của họ.
- Tội giết người: là hành vi cố ý tước đoạt sinh mạng của người khác một cách
trái pháp luật.

tính mạng cho người khác nhưng họ đã không hành động, không thực hiện những việc
làm đó. Không hành động của họ trong trường hợp này có khả năng gây ra cái chết
cho người khác. Chẳng hạn, để trả thù người mổ, bác sĩ phụ sản trực tiếp xử lý ca mổ
đã cố trì hoãn không cho mổ với mục đích giết hại người đó và dẫn đến người đó chết.
+ Hành vi tước đoạt tính mạng được coi là hành vi khách quan của tội giết người
phải là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật. Hành vi
tước đoạt tính mạng của chính mình không phải là hành vi khách quan của tội giết
người. Hành vi gây ra cái chết cho người khác được pháp luật cho phép cũng không
phải là hành vi khách quan của tội giết người, như hành vi tước đoạt tính mạng của
người khác trong phòng vệ chính đáng, trong tình thế cấp thiết hoặc thi hành hình phạt
tử hình…
Hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của tội này.
Nếu hậu quả chết người chưa xảy ra thì tội phạm có thể đang ở giai đoạn chuẩn bị
hoặc chưa đạt.
Quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan – hành vi tước đoạt sinh mạng của
người khác – đã thực hiện và hậu quả chết người đã xảy ra cũng là một dấu hiệu bắt
buộc trong cấu thành tội phạm giết người.
Việc xác định mối quan hệ nhân quả là điều kiện cần thiết để có thể buộc người
có hành vi tước đoạt tính mạng người khác phải chịu trách nhiệm về hậu quả chết
người đã xảy ra. Người có hành vi tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp
luật chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những hậu quả chết người đã xảy ra, nếu
hành vi họ đã thực hiện là nguyên nhân của hậu quả chết người đã xảy ra đó. Việc xác
định này trong nhiều trường hợp cũng hết sức phức tạp, đòi hỏi có sự hỗ trợ của giám
định pháp lý.
Lỗi của người phạm tôi giết người là lỗi cố ý. Lỗi cố ý ở đây có thể là lỗi cố ý
trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp:
+ Trong trường hợp lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội thấy trước được hậu quả
chết người có thể xảy ra (hoặc tất nhiên sẽ xảy ra), nhưng vì mong muốn hậu quả đó
xảy ra nên đã thực hiện hành vi phạm tội.
+ Trong trường hợp lỗi cố ý gián tiếp, người phạm tội nhận thức được hành vi

chức, học sinh sinh viên, nông dân, công nhân, các vụ án giết người thường xảy ra vào
ban đêm, nơi vắng ít người qua lại. Công cụ gây án chủ yếu như súng các loại, thuốc
nổ, dao hoặc các loại công cụ khác tương tự.
Nghiên cứu những đặc điểm tội phạm giết người như: giới tính và độ tuổi của
người phạm tội giết người, trình độ học vấn và hoàn cảnh, nghề nghiệp và địa vị xã
hội, mối quan hệ giữa người phạm tội với nạn nhân, động cơ và mục đích, công cụ,
phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian và địa điểm, nguyên nhân, đặc điểm
của người phạm tội sẽ góp phần trong đấu tranh phòng, chống tội giết người.
2.3.3. Nguyên nhân và điều kiện của tội giết người
Tội giết người bắt nguồn từ những thói quen, tàn dư, tư tưởng tư hữu, coi thường
tính mạng con người; do khó khăn về điều kiện kinh tế xã hội cũng như do hậu quả
nặng nề của chiến tranh để lại. Ngoài ra, tội giết người còn có những nguyên nhân đặc
thù riêng mà khi nghiên cứu những đặc thù này giúp chúng ta nhận thức đầy đủ và
hiểu rõ những tác động trực tiếp làm phát sinh các điều kiện phạm tội như:
GVHD: Tiến sỹ Phạm Văn Beo - 12 - SVTH: Phạm Văn Đạt
Tội giết người trong Luật hình Sự Việt Nam
- Sự du nhập lối sống bạo lực, ích kỷ dẫn đến hình thành ý thức coi thường tính
mạng người khác trong một bộ phận dân cư, lối sống đó dường như người phạm tội
chỉ tìm cách để bảo vệ quyền lợi của bản thân là yếu tố tìm thấy hầu hết trong các vụ
án giết người.
- Công tác giáo dục tư tưởng, giáo dục ý thức lao động ý thức tôn trọng tài sản
của người khác còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn. Yếu tố này thường
được xem xét trong những trường hợp giết người gắn với động cơ chiếm đoạt tài sản
hoặc chiếm quyền thừa kế
- Sự phát triển của tệ nạn ma tuý, cờ bạc đã len lỏi vào khu làng, ngõ phố. Khi
con người đã “nghiện” các tệ nạn; muốn có tiền để sử dụng thì không loại trừ hành vi
giết người, cướp của.
- Lối sống buông thả ích kỷ và tư tưởng “đèn nhà ai nấy sáng”, hoặc hiện tượng
thiếu tinh thần chủ quan cảnh giác của quần chúng nhân dân cũng là nguyên nhân
thuận lợi để bọn tội phạm có cơ hội gây án.

2.3.3.2 Sự phát triển của các tệ nạn xã hội đặc biệt là nghiện ma tuý, cờ bạc
Cũng trong những năm gần đây tệ nạn xã hội đã len lỏi vào từng ngôi làng, ngõ
phố, nó ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Thực tế cho thấy nhiều
vụ án mạng xảy ra lại gắn liền với những tệ nạn này. Tệ nạn này đã cướp đi cả nhân
cách của những con nghiện, đẩy họ đến chỗ làm bất cứ việc gì để có tiền hút hít kể cả
giết người thuê, giết người để cướp tài sản, thậm chí giết người thân khi họ ngăn cản
việc mang tài sản của gia đình đi bán. Bên cạnh đó các tệ nạn xã hội khác cũng ảnh
hưởng không nhỏ đến loại tội phạm này. Tệ nạn cờ bạc làm khuynh gia bại sản nhiều
gia đình thì cũng cùng lúc kéo theo những hành vi tội lỗi liên quan đến tính mạng con
người như giết người để quỵt tiền thua bạc, giết người để cướp tài sản lấy tiền đánh
bạc, …. Nghiện rượu lại có trường hợp đẩy con người vào hoàn cảnh không thể nhận
thức và điều khiển tốt hành vi của mình từ đó dẫn đến việc có thể giết người do bất cứ
sự kích động nhỏ nào.
2.3.3.3 Lối sống buông thả, ích kỷ và tư tưởng “đèn nhà ai nhà lấy sáng” tồn
tại trong một bộ phận dân cư
Trước hết phải nói rằng với sự du nhập lối sống của các nước phương Tây, cách
sống theo truyền thống đạo lý của Việt Nam đã phần nào bị mai một. Nhiều người đã
tìm cách chạy theo những nhu cầu ích kỷ của bản thân bất chấp cả dư luận xã hội cũng
như sự lên án của các giá trị đạo đức. Chính lối sống buông thả này đã tạo ra nguyên
cớ cho những vụ giết người vì động cơ ghen tuông, giết vợ, giết chồng để tự do lấy vợ,
lấy chồng khác. Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tiếp thu sớm nhất những
tiến bộ từ các nước phương Tây nhưng cũng là nơi chịu ảnh hưởng tiêu cực nhiều của
lối sống này.
Bên cạnh đó tư tưởng “Đèn nhà ai nấy sáng” trong một bộ phận dân cư thành thị
trở thành yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho bọn tội phạm gây án. Tư tưởng này cũng là
yếu tố bất lợi đối với hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm của các cơ quan bảo
vệ pháp luật.
Với lối sống buông thả, ích kỷ của một bộ phận dân cư thành thị như hiện nay có
thể tạo điều kiện cho môi trường thuận lợi để tội giết người còn tồn tại trên địa bàn
nước ta.

mới cho họ. Đối tượng những người thất nghiệp bị bế tắc trong cuộc sống do ảnh
hưởng của cách sống tiêu cực từ những người xung quanh do sự đe doạ, tác động trực
diện từ các tệ nạn xã hội nên họ đã trở thành một bộ phận đối tượng thực hiện tội giết
người.
2.3.3.7. Công tác thu hồi, quản lý và sử dụng vũ khí còn sơ hở
Hiện tượng tàng trữ, mua bán vũ khí trái phép còn tồn tại do đó chưa ngăn chặn
được việc luân chuyển vũ khí vào tay bọn tội phạm đặc biệt là những tên đã có tiền án,
tiền sự. Mặt khác, một số ít cán bộ nhân viên có trách nhiệm giữ gìn vũ khí đã vi phạm
các quy định về bảo quản và sử dụng. Những thiếu sót, sơ hở này thường bị bọn tội
GVHD: Tiến sỹ Phạm Văn Beo - 15 - SVTH: Phạm Văn Đạt
Tội giết người trong Luật hình Sự Việt Nam
phạm lợi dụng để tìm ra công cụ gây án. Kết quả điều tra, truy tố, xét xử đã chỉ rõ
trong những năm vừa qua số người phạm tội giết người có dùng súng cà các loại vũ
khí khác đều có chiều hướng gia tăng gắn theo nó là sự thiệt hại rất lớn cả về vật chất
và tinh thần mà loại tội phạm này gây ra cho nạn nhân và xã hội.
2.3.3.8. Những thiếu sót và hạn chế trong công tác của các cơ quan bảo vệ
pháp luật
Các cơ quan Công an, Kiểm sát, Toà án và cán bộ chuyên trách làm công tác bảo
vệ an ninh trật tự ở địa phương chưa giám sát việc quản lý, giáo dục tốt những người
có tiền án, tiền sự, những người mãn hạn tù trở về, chưa có kế hoạch giáo dục họ trở
thành người tốt cho xã hội, tạo điều kiện cho họ tái hoà nhập cộng đồng.
Công tác thu nhập và xử lý thông tin mà quần chúng cung cấp về tội phạm nói
chung và tội giết người nói riêng còn nhiều hạn chế, chưa có chế độ khen thưởng,
khích lệ quần chúng nhân dân tham gia phòng chống tội phạm và tố giác tội phạm.
Công tác truy tố nhiều vụ án còn chậm, chất lượng còn hạn chế. Viện kiểm sát,
Toà án và các cơ quan điều tra chưa phối hợp chặt chẽ nhịp nhàng nên thường có ý
kiến khác nhau trong quá trình xét xử vụ án dẫn đến kéo dài vụ án.
Công tác xét xử các vụ án giết người còn chưa thật kịp thời, điều đó làm hạn chế
vai trò giáo dục, phòng ngừa của công tác xét xử. Số vụ án giết người hàng năm còn
tồn đọng nhiều. Ngoài ra, một số vụ chưa được xử lý một cách nghiêm minh, tương

bộ trong việc xây dựng hệ thống pháp luật trong thời kỳ phong kiến ở Việt Nam lúc
bấy giờ nhằm nghiêm trị kẻ phạm tội.
3.2. Giai đoạn 1945 – 1985
Đây là giai đoạn đất nước ta trong giai đoạn chống thực dân Pháp, chống đế quốc
Mỹ và cả nước tiến lên xây dựng XHCN.
Đầu tiên là sắc lệnh số 47/ST ngày 10/10/1945 do Bác Hồ ký, cho phép áp dụng
số văn bản pháp luật của phong kiến, của đế quốc mà không trái với nguyên tắc độc
lập của nước Việt Nam dân chủ Cộng Hoà. Sắc lệnh số 27/ST ngày 28/02/1946 về việc
truy tố tội bắt cóc tống tiền và ám sát. Thông tư số 442/TTg ngày 19/01/1955 về việc
xử lý một số tội phạm như đánh bị thương, cố ý giết người được thể hiện trong điều 4
của thông tư này.
Năm 1955, do bối cảnh lịch sử và tình hình xã hội lúc bấy giờ nên Bộ Tư pháp đã
có thông tư số 19/VHH – HS ngày 30/06/1955 yêu cầu Toà án không áp dụng luật lệ
phong kiến vào việc định tội, từ đó đã cho ra đời hàng loạt văn bản mới như:
- Thông tư 24/TANDTC ngày 25/11/1974 về việc xét xử các tội cố ý giết người;
- Sắc lệnh số 03/ST – 76 ngày 15/03/1976 của Hội đồng Chính phủ cách mạng
lâm thời quy định các tội phạm và hình phạt, đồng thời ban hành thông tư hướng dẫn
các tội xâm phạm thân thể, nhân phẩm của công dân như: Cố ý giết người, cố ý gây
thương tích
3.3. Giai đoạn từ năm 1985 – 1999
Năm 1985 là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu sự ra đời của Bộ Luật Hình Sự
(BLHS) đầu tiên của nước CHXHCN Việt Nam, BLHS đầu tiên của Việt Nam có hiệu
lực từ ngày 01/01/1985, trong đó tội giết người được quy định tại chương II điều 101,
bao gồm 4 khoản quy định cụ thể cho từng hành vi của tội này. Đây cũng là giai đoạn
áp dụng pháp luật Hình sự thống nhất cả nước. Toà án nhân dân tối cao đã ra quyết
định số 04/HDTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp
dụng một số quy định trong phần các tội phạm của BLHS. Nghị quyết số 01/89 HĐTP
GVHD: Tiến sỹ Phạm Văn Beo - 17 - SVTH: Phạm Văn Đạt
Tội giết người trong Luật hình Sự Việt Nam
ngày 19/04/1986 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn bổ sung một số quy

định phải là tổ chức đánh bạc, gá bạc trái phép mới bị xử lý hình sự; đồng thời quy
định theo hướng nghiêm khắc hơn đối với các hành vi vi phạm quy định về đất đai:
Người nào lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn giao đất, thu hồi, cho thuê, cho
phép chuyển quyền sử dụng, mục đích sử dụng đất trái pháp luật, đã bị xử lý kỷ luật về
hành vi này mà còn vi phạm sẽ bị xử lý hình sự. Chỉ cần thuộc một trong các trường
hợp: Gây hậu quả nghiêm trọng; đất có diện tích lớn hoặc giá trị lớn; đã bị xử lý kỷ
GVHD: Tiến sỹ Phạm Văn Beo - 18 - SVTH: Phạm Văn Đạt
Tội giết người trong Luật hình Sự Việt Nam
luật mà còn vi phạm là có thể bị xử lý hình sự. Mức án cao nhất của tội này trong Bộ
luật Hình sự 1999 là 7 năm tù thì luật sửa đổi, bổ sung nâng lên 12 năm tù; nâng hình
phạt bổ sung cho loại tội này lên 100 triệu đồng (trước đây là 50 triệu đồng)… Lần sửa
đổi này, riêng tội giết người vẫn giữ nguyên quy định và chế tài.
GVHD: Tiến sỹ Phạm Văn Beo - 19 - SVTH: Phạm Văn Đạt
Tội giết người trong Luật hình Sự Việt Nam
CHƯƠNG 2
TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1. Tội giết người được quy định tại điều 93 Bộ luật Hình sự
Tội giết người được quy định tại điều 93 Bộ luật Hình sự như sau:
1. Người nào giết người thuộc một trong những trường hợp sau đây, tì bị phạt tù
mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết nhiều người;
b)Giết phụ nữ mà biết là có thai;
c) Giết trẻ em;
d)Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
đ)Giết ông bà, cho, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e)Giết người mà trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm hoặc
đặc biệt nghiêm trọng;
g)Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h)Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i)Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

làm đó. Không hành động của họ trong trường hợp này có khả năng gây ra cái chết
cho người khác. Chẳng hạn, để trả thù người mổ, bác sĩ phụ sản trực tiếp xử lý ca mổ
đã cố trì hoãn không cho mổ với mục đích giết hại người đó và dẫn đến người đó chết.
+ Hành vi tước đoạt tính mạng được coi là hành vi khách quan của tội giết người
phải là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật. Hành vi
tước đoạt tính mạng của chính mình không phải là hành vi khách quan của tội giết
người. Hành vi gây ra cái chết cho người khác được pháp luật cho phép cũng không
phải là hành vi khách quan của tội giết người, như hành vi tước đoạt tính mạng của
người khác trong phòng vệ chính đáng, trong tình thế cấp thiết hoặc thi hành hình phạt
tử hình…
+ Trong thực tiễn xét xử còn gặp những trường hợp tước đoạt tính mạng của
người khác do được sự đồng ý của nạn nhân. Động cơ của những hành vi này có thể
khác nhau, trong đó có những động cơ mang tính nhân đạo. Ví dụ, tước đoạt tính mạng
của người mắc bệnh hiểm nghèo nhằm tránh đau đớn kéo dài cho họ theo sự yêu cầu
của nạn nhân và gia đình nạn nhân. Dù với động cơ gì, những trường hợp này cũng bị
coi là trái pháp luật theo luật hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, thời gian gần đây pháp luật
của một số nước trên thế giới lại cho phép và công nhận việc tước đoạt tính mạng
người khác trong những trường đó là hợp pháp.
Hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của tội này.
Nếu hậu quả chết người chưa xảy ra thì tội phạm có thể đang ở giai đoạn chuẩn bị
hoặc chưa đạt.
Quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan – hành vi tước đoạt sinh mạng của
người khác – đã thực hiện và hậu quả chết người đã xảy ra cũng là một dấu hiệu bắt
buộc trong cấu thành tội phạm giết người.
Việc xác định mối quan hệ nhân quả là điều kiện cần thiết để có thể buộc người
có hành vi tước đoạt tính mạng người khác phải chịu trách nhiệm về hậu quả chết
người đã xảy ra. Người có hành vi tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp
GVHD: Tiến sỹ Phạm Văn Beo - 21 - SVTH: Phạm Văn Đạt
Tội giết người trong Luật hình Sự Việt Nam
luật chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những hậu quả chết người đã xảy ra, nếu

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự: Khoản 2, Điều 302, Chương 32 Bộ Luật Tố Tụng
Hình sự quy định rõ “Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử với người chưa thành niên
phải xác định rõ tuổi, trình độ phát triển và mức độ nhận thức của người chưa thành
niên”.
Về độ tuổi, Điều 12, Bộ Luật Hình sự năm 1999 đã nói rõ như sau:
1. Người từ đủ 16 trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm;
GVHD: Tiến sỹ Phạm Văn Beo - 22 - SVTH: Phạm Văn Đạt
Tội giết người trong Luật hình Sự Việt Nam
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.
Theo các quy định của pháp luật hiện hành, người phạm tội chỉ chịu trách nhiệm
hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý từ khi đủ 14 đến dưới 16 tuổi. Bọn tội phạm
thường lợi dụng quy định này để phạm tội không phải là tội rất nghiêm trọng do cố ý
hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” khiến các cơ quan tố tụng vướng mắc trong việc
xử lý.
2.4. Mặt chủ quan của tội phạm
Lỗi của người phạm tội giết người là lỗi cố ý. Lỗi cố ý ở đây có thể là lỗi cố ý
trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp:
+ Trong trường hợp lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội thấy trước được hậu quả
chết người có thể xảy ra (hoặc tất nhiên sẽ xảy ra), nhưng vì mong muốn hậu quả đó
xảy ra nên đã thực hiện hành vi phạm tội.
+ Trong trường hợp lỗi cố ý gián tiếp, người phạm tội nhận thức được hành vi
của mình có thể nguy hiểm đến tính mạng của người khác, thấy trước hậu quả chết
người có thể xảy ra, nhưng để đạt được mục đích của mình, người phạm tội có ý thức
để mặc cho hậu quả xảy ra, hay nói một cách khác, họ chấp nhận hậu quá đó. Ví dụ
trường hợp biết nạn nhân không biết bơi, người thực hiện hành vi phạm tội đã đẩy nạn
nhân ngã xuống hồ bơi, sông hồ để nạn nhân chết đuối.
Trong trường hợp hậu quả chết người đã xảy ra, việc xác định lỗi là cố ý trực tiếp
hay cố ý gián tiếp không có ý nghĩa trong việc định tội. Nhưng trong trường hợp hậu
quả chết người chưa xảy ra, việc xác định lỗi này có ý nghĩa rất quan trọng. Cụ thể là:

phân tích chính xác, chúng ta có thể khẳng định Sơn gây hậu quả chết người với lỗi vô
ý vì quá tự tin.
- Mục đích, động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm tội
giết người. Hành vi giết người nếu có mục đích chống chính quyền nhân dân sẽ cấu
thành tội theo điều 84 Bộ luật hình sự. Động cơ phạm tội tuy không có ý nghĩa về mặt
định tội nhưng có một số động cơ phạm tội được quy định là tình tiết định khung tăng
nặng hay giảm nhẹ.
3. Một số trường hợp cụ thể của tội giết người
Điều 93 quy định hai khung hình phạt:
- Khoản 1 quy định các tình tiết định khung nặng; khoản 2 là cấu thành cơ bản.
+ Khung nặng có mức hình phạt từ từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử
hình được áp dụng cho những trường hợp phạm tội giết người sau đây:
3.1. Giết nhiều người
* Giết nhiều người: là trường hợp giết (cố ý giết người hoặc có ý thức để mặc cho
hậu quả chết người xảy ra) từ hai người trở nên có thể cùng một lần hoặc nhiều lần
khác nhau. Nếu người phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp thì hậu quả chết người có thể chỉ
là chết nhiều người có thể chỉ là chết một người (chỉ cần người phạm tội mong muốn
giết nhiều người) cũng xem là “giết nhiều người”. Tuy nhiên, nếu là lỗi cố ý gián tiếp
thì hậu quả “Chết nhiều người” là dấu hiệu bắt buộc để áp dụng tình tiết này.
Từ trước đến nay, trong các tài liệu chuyên ngành vẫn coi “Giết nhiều người” là
trường hợp cố ý tước đoạt tính mạng từ hai người trở lên. Tuy nhiên, do quy định về
tình tiết “Giết nhiều người” chưa cụ thể (vì chưa làm rõ được lỗi của người phạm tội
GVHD: Tiến sỹ Phạm Văn Beo - 24 - SVTH: Phạm Văn Đạt
Tội giết người trong Luật hình Sự Việt Nam
đối với hậu quả chết nhiều người là lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cố ý gián tiếp và hậu quả
chết nhiều người có phải là dấu hiệu bắt buộc hay không?), lại chưa có văn bản giải
thích, hướng dẫn nên khi áp dụng tình tiết này còn có nhiều quan điểm trái ngược
Trong trường hợp người phạm tội chỉ giết một người do lỗi cố ý, nhưng người
khác là chết do vô ý thì người phạm tội sẽ bị xét xử theo khoản 2 Điều này, hậu quả
chết người do vô ý sẽ xét xử người phạm tội theo tội danh khác (vô ý làm chết người,

5, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai) xin vào học tại Trung tâm dạy
GVHD: Tiến sỹ Phạm Văn Beo - 25 - SVTH: Phạm Văn Đạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status