Định tội danh đối với các tội giết người trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh thanh hóa) - Pdf 44

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TIN DNG

ĐịNH TộI DANH ĐốI VớI CáC TộI GIếT NGƯờI
TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thanh Hóa)

LUN VN THC S LUT HOC

H NI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TIN DNG

ĐịNH TộI DANH ĐốI VớI CáC TộI GIếT NGƯờI
TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thanh Hóa)
Chuyờn nganh: Luõ t hin
h s va tụ tu ng hin
h s
Ma sụ: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HOC

Can bụ hng dõn khoa hoc: PGS.TS TRNH QUễC TON


Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc định tội danh đối với
các tội phạm giết người ............................................................................ 9

1.1.1.

Khái niệm định tội danh đối với các tội phạm giết ngƣời ........................ 9

1.1.2.

Các đặc điểm cơ bản của việc định tội danh đối với các tội phạm
giết ngƣời ................................................................................................... 14

1.1.3.

Ý nghĩa của việc định tội danh đối với các tội phạm giết ngƣời ........... 17

1.2.

Những căn cứ pháp lý và căn cứ khoa học của hoạt động định
tội danh đối với các tội phạm giết người ............................................. 20

1.2.1.

Những căn cứ pháp lý của hoạt động định tội danh đối với các tội
phạm giết ngƣời ........................................................................................ 20

1.2.2.

Những căn cứ khoa học của hoạt động định tội danh đối với các tội
phạm giết ngƣời ........................................................................................ 23


Định tội danh đối với hành vi giết người trong các trong các
trường hợp phạm tội đặc biệt ............................................................... 44

1.4.1.

Thời điểm hoàn thành và việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm
tội của hành vi giết ngƣời trong các tội phạm giết ngƣời từ Điều 93
đến Điều 96 Bộ luật hình sự năm 1999 ................................................... 44

1.4.2.

Vấn đồng phạm trong định tội danh đối với các tội giết ngƣời đƣợc
quy định từ Điều 93 tới Điều 96 Bộ luật hình sự năm 1999 .................. 48

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 50
Chương 2: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI
CÁC TỘI GIẾT NGƯỜI CỦA TÒA ÁN CÁC CẤP TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA ........................................................... 51
2.1.

Khái quát tình hình địa lý , kinh tế , chính trị - xã hội tỉnh
Thanh Hoá ............................................................................................... 51

2.2.

Tình hình thụ lý giải quyết vụ án hình sự về các tội giết người
của Tòa án các cấp tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn từ năm
2011 đến năm 2016 ................................................................................. 57


hoàn thiệ n ............................................................................................... 79
3.1.1.

Những nội dung mới của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về
các tô ̣i giết ngƣời (từ Điều 123 đến Điều 126) .................................. 79

3.1.2.

Kiến nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định về tội giết ngƣời trong
Bộ luật hình sự năm 2015 và ban hành văn bản hƣớng dẫn .................. 81

3.2.

Một số giải pháp nâng cao chất lượng định tội danh đối với
các tội giết người ................................................................................... 85

3.2.1.

Nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của
những chủ thể định tội danh đối với các tội giết ngƣời .......................... 85

3.2.2.

Tăng cƣờng kiểm tra, giám đốc xét xử, tổng kết thực tiễn và xây
dựng án lệ .................................................................................................. 91

3.2.3.

Một số giải pháp khác............................................................................... 97


trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” [10], và xác
định tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm trong chiến
lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020.
Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong những năm gần đây
cho thấy tình hình tội phạm diễn biến hết sức phức tạp, tinh vi, với nhiều thủ
đoạn khác nhau. Luật hình sự đi vào đời sống xã hội có vai trò quan trọng
trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Một trong những vấn đề
quan trọng của Luật hình sự là vấn đề định tội danh của Tòa án. Định tội danh
chính xác giúp cho Tòa án quyết định hình phạt chính xác, đúng pháp luật bảo
đảm tính nghiêm minh của pháp luật, có tác dụng cho ngƣời dân tin tƣởng vào
chính sách pháp luật của Nhà nƣớc.
Tính mạng con ngƣời là vô giá, bất khả xâm phạm, đƣợc pháp luật bảo
vệ. Quyền đƣợc sống, đƣợc tôn trọng và bảo vệ là quyền cơ bản hàng đầu của
con ngƣời. Điều 19 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Mọi ngƣời có quyền
sống. Tính mạng con ngƣời đƣợc pháp luật bảo hộ. Không ai bi ̣tƣớc đoa ̣t tính
mạng trái luật” [56]. Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy định: “Không
ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chƣa có bản án kết tội của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật” [54]. Điều đó có nghĩa chừng nào chƣa có bản án
kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì ngƣời bị buộc tội vẫn đƣợc coi
là ngƣời chƣa có tội. Nhƣ vậy, hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động

1


mang tính chất quyết định, xác định một ngƣời có tội hay không có tội. Đây là
nội dung cơ bản của việc áp dụng pháp luật hình sự trong quá trình xét xử và
là một trong những biện pháp đƣa các quy phạm pháp luật vào cuộc sống.
Trên cơ sở xác định ngƣời phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội gì, quy
định tại điều, khoản nào của Bộ luật hình sự, cơ quan có thẩm quyền (Tòa án)

và đang là vấn đề rất bức xúc ở Thanh Hoá. Tội phạm giết ngƣời xảy ra trên địa
bàn vẫn còn nhiều, tình hình tội phạm này rất đa dạng, phức tạp. Loại tội phạm
này đã và đang gây ra nhiều tác động tiêu cực, ảnh hƣởng lớn đến an ninh trật tự
trên địa bàn của tỉnh. Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự về tội giết ngƣời ở tỉnh
Thanh Hóa cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụng còn gặp nhiều khó khăn,
vƣớng mắc trong việc định tội danh đối với các hành vi giết ngƣời, đặc biệt là
định tội danh đối với hành vi giết ngƣời trong trại thái tinh thần bị kích động
mạnh, giết ngƣời trong do vƣợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và tội giết con
mới đẻ, dẫn đến những thiếu sót trong quyết định hình phạt của Tòa án.
Do đó, để tăng cƣờng chính sách pháp luật hình sự đối với tội phạm giết
ngƣời, nhằm cụ thể chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nƣớc đối với loại tội phạm này. Việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và
thực tiễn đối với loại tội phạm này là rất cần thiết. Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề
tài: “Định tội danh đối với các tội giết người trong Luật hình sự Việt Nam
(trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thanh Hóa)” làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề định tội danh đối với hành vi phạm tội nói chung, hành vi phạm
tội giết ngƣời nói riêng ảnh hƣởng rất lớn đến xã hội do đó đƣợc các chuyên
gia pháp luật hình sự, chuyên gia tội phạm học, xã hội học.. quan tâm nghiên
cứu; nhiều sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh lựa chọn làm đề tài khóa luận,
luận văn thạc sĩ cũng nhƣ luận án tiến sĩ. Có thể liệt kê một số công trình
nghiên cứu/đề cập đến tội phạm giết ngƣời, định tội danh nhƣ:

3


Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), GS.TSKH. Lê Cảm
(chủ biên), tái bản 2007;
Sách chuyên khảo Định tội danh và quyết định hình phạt trong luật
hình sự Việt Nam, TS. Lê Văn Đệ chủ biên, Nxb Công an nhân dân, 2004;

trang thông tin điện tử thể hiện quan điểm đa chiều của các tác giả về thực
trạng của tội giết ngƣời qua các vụ án cụ thể, điển hình, gây dƣ luận xã hội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu làm sâu sắc vấn đề lý luận về định tội danh và cơ
sở pháp lý của định tội danh đối với các tội giết ngƣời (từ Điều 93 đến Điều
96 Bộ luật hình sự năm 1999) và phân tích, đánh giá thực tiễn xét xử của các
Tòa án Thanh Hóa trong những năm gần đây, từ đó luận văn đƣa ra những
kiến nghị, giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định về các tội giết
ngƣời trong Bộ luật hình sự và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả
trong thực tiễn xét xử.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Để đạt đƣợc mục tiêu trên, luận văn tập trung thực hiện các nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
- Phân tích, làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về định tội danh nói chung
và đối với các tội giết ngƣời (từ Điều 93 đến Điều 96 Bộ luật hình sự năm
1999) nói riêng.
- Thực tiễn về định tội danh đối với các tội giết ngƣời (từ Điều 93 đến
Điều 96 Bộ luật hình sự năm 1999) trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Nêu và phân
tích những vƣớng mắc và nguyên nhân của nó khi áp dụng luật trong quá
trình tố tụng.
- Đƣa ra phƣơng hƣớng hoàn thiện quy định của pháp luật về định tội
danh đối với các tội giết (từ Điều 93 đến Điều 96 Bộ luật hình sự năm 1999)
ngƣời trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.

5


- Nêu một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác về định tội đối với
tội giết ngƣời nói chung; tội giết ngƣời, tội giết con mới đẻ, tội giết ngƣời

riêng trong luật hình sự Việt Nam từ trƣớc đến nay.
- Phương pháp trìu tượng: Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để trên cơ
sở các kết quả nghiên cứu về lí luận và thực tiễn của đề tài xây dựng nên hệ
thống luận điểm, luận cứ khoa học và đƣa ra phƣơng hƣớng và hệ thống các
quan điểm nhằm hoàn thiện pháp luật về định tội danh đối với tội giết ngƣời
trong pháp luật hình sự ở Việt Nam hiện nay.
Đối với mỗi chƣơng, mục học viên sử dụng một số phƣơng pháp
nghiên cứu chủ đạo để làm rõ mục đích nghiên cứu. Cụ thể là:
Ở Chƣơng 1, tác giả chủ yếu sử dụng phƣơng pháp phân tích, tổng hợp;
phƣơng pháp thống kê, phƣơng pháp trừu tƣợng để đƣa ra những vấn đề lý luận
cơ bản, khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và quá trình hình thành, phát triển các quy
định về định tội danh đối với tội giết ngƣời (các hành vi giết ngƣời đƣợc quy
định từ Điều 93 đến Điều 96 trong Bộ luật hình sự năm 1999).
Ở Chƣơng 2, tác giả chủ yếu sử dụng phƣơng pháp phân tích, tổng hợp;
phƣơng pháp thống kê để làm rõ thực tiễn định tội danh đối với tội giết ngƣời
(các hành vi giết ngƣời đƣợc quy định từ Điều 93 đến Điều 96 trong Bộ luật hình
sự năm 1999) trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thanh Hóa từ đó đƣa ra những
nhận xét ƣu, nhƣợc điểm và những vấn đề cần giải quyết trong chƣơng 3.
Ở Chƣơng 3, tác giả chủ yếu sử dụng phƣơng pháp phân tích, tổng hợp,
phƣơng pháp hệ thống, phƣơng pháp đối chiếu, phƣơng pháp trừu tƣợng để đề
ra phƣơng hƣớng và giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về định tội danh
đối với tội giết ngƣời ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phƣơng diện
lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu có hệ thống ở cấp độ một

7


luận văn thạc sĩ luật học về định tội danh đối với các tội giết ngƣời (đƣợc quy

Điều 31 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “1. Ngƣời bị buộc tội
đƣợc coi là không có tội cho đến khi đƣợc chứng minh theo trình tự luật định
và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật...” [56]. Những quy
định này của Hiến pháp mang tƣ tƣởng tiến bộ, nhân văn và bảo vệ quyền con
ngƣời, quyền công dân. Để có một bản án công minh, khách quan, toàn diện
và đúng pháp luật đòi hỏi việc định tội danh và quyết định hình phạt phải thực
sự đúng đắn, có nhƣ vậy mới bảo vệ các quyền và tự do của con ngƣời. Do
đó, hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt chính thức đối với một
ngƣời chỉ do duy nhất một cơ quan có thẩm quyền quyết định là Tòa án, trong
đó, bản án của Tòa án nhằm xác định một ngƣời có tội hay không có tội và
nếu có tội thì tên tội là tội gì và hình phạt tƣơng xứng.
Định tội danh là một vấn đề rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự, là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa
hình phạt một cách công minh, chính xác, đồng thời làm cơ sở cho việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn, xác định thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử
của các cơ quan tiến hành tố tụng… góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống
tội phạm, bảo vệ pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mọi công dân [37].
Định tội danh là một trong những biện pháp đƣa Bộ luật hình sự vào
đời sống xã hội, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng

9


ngừa và chống tội phạm. Định tội danh là sự xác nhận về mặt pháp lý sự
phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện trong thực tế
khách quan với các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm tƣơng ứng đƣợc quy
định trong Bộ luật hình sự.
Định tội danh là xác định tên của tội phạm theo quy định của pháp
luật hình sự qua việc xác định điều luật trực tiếp điều chỉnh tội phạm. Trong

̣ tô ̣i danh là một quá trình lôgic
nhất định, là hoạt động của ngƣời này hay ngƣời khác trong việc xác định phù
hợp (sự đồng nhất) của một trƣờng hợp đang đƣợc xem xét cụ thể với các dấu
hiệu của cấu thành tội phạm đƣợc chỉ ra trong qui phạm Phần riêng Bô ̣ luâ ̣t
Hình sự; b) Định tội danh là sự đánh giá về mặt pháp luật nhất định một hành
vi nguy hiểm cho xã hội [80].
Tại Việt Nam, nhiều nhà khoa học nghiên cứu vấn đề này và đƣa ra
những quan điểm đóng góp vào sự phát triển của ngành khoa học luật hình sự
Việt Nam. GS.TSKH. Lê Cảm trong “Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần
chung luật hình sự” đã đƣa ra định nghĩa có tình mô tả, chỉ dẫn hoạt động cũng
nhƣ yêu cầu và ý nghĩa của việc định tội danh nhƣ sau:
Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tình
logic, là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng
pháp luật hình sự cũng nhƣ pháp luật tố tụng hình sự, và đƣợc tiến
hành bằng cách trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập đƣợc và
các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa
các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc thực hiện với
các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tƣơng ứng do luật hình sự quy
định, nhằm đạt đƣợc sự thật khách quan, tức là đƣa ra sự đánh giá
chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá
thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách công minh, có
căn cứ và đúng pháp luật [4].
PGS.TS. Trịnh Quốc Toản trong cuốn: “Những vấn đề lý luận về định
tội danh và hƣớng dẫn giải bài tập định tội danh” cho rằng:

11


Định tội danh là việc xác nhận về mặt pháp lý sự phù hợp
(đồng nhất) giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ



thống nhất ở điểm: Định tội danh là hoạt động đối chiếu, so sánh về mặt pháp
luật nhằm xác định một tội phạm xảy ra trên thực tế có tên gọi là gì theo quy
định của pháp luật hình sự. Tại Việt Nam, Bộ luật hình sự là nguồn duy nhất để
xác định một hành vi là tội phạm cũng nhƣ các loại tội phạm theo ý chí của
Nhà nƣớc. Bộ luật hình sự đƣợc kết cấu thành hai phần, trong đó Phần các tội
phạm cụ thể đƣợc phân chia thành các chƣơng có nhiệm vụ bảo vệ các khách
thể thuộc cùng một nhóm. Mỗi chƣơng có các điều luật cụ thể với tên gọi riêng,
đƣợc ghi nhận ngay liền sau số thứ tự. Và đó chính là tội danh của tội phạm
thỏa mãn cấu thành mà điều luật mô tả. Luật hình sự Việt Nam đặt tên cho các
tội phạm thƣờng dựa vào các đặc trƣng, những điểm khác biệt của tội phạm đó
so với các tội phạm khác thuộc cùng nhóm khách thể.
Khái niệm định tội danh nêu trên là chỉ việc định tội danh trong hoạt
động tố tụng nói chung, mang ý nghĩa khoa học áp dụng cho toàn bộ các loại
tội phạm. Còn đối với việc định tội danh với các tội giết ngƣời là một hoạt
động tố tụng cụ thể của các cơ quan tiến hành tố tụng và những ngƣời tiến
hành tố tụng thực hiện, mang ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng. Trong đó, trên
cơ sở các dấu hiệu cơ bản của cấu thành tội giết ngƣời từ Điều 93 đến điều 96
Bộ luật hình sự năm 1999, các cơ quan tiến hành tố tụng (hoặc cơ quan có
thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự) phân tích, đánh giá
nhằm xác định hành vi phạm tội đó có phải là hành vi giết ngƣời hay không,
thuộc khoản (khung) cụ thể nào đó từ đó ban hành các quyết định tố tụng
tƣơng ứng theo quy định của pháp luật.
Các tội giết ngƣời đƣợc quy định từ Điều 93 đến Điều 96 của Bộ luật
hình sự Việt Nam năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Một ngƣời đƣợc coi là
chủ thể của tội phạm này khi đáp ứng các điều kiện là ngƣời có đủ năng lực
trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đồng thời là ngƣời đã
thực hiện hành vi tại Điều 93 đến Điều 96 Bộ luật này quy định với lỗi cố ý,
xâm phạm đến tính mạng của con ngƣời.

đƣợc quy định trong tổ chức điều tra hình sự) thực hiện.
- Trong giai đoạn này việc đinh
̣ tô ̣i danh đƣợc tiến hành từ khi phát sinh
các căn cứ để khởi tố vụ án. Các căn cứ để khởi tố vụ án gồm:

14


+Tố giác của công dân: Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan
Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án hoặc với cơ quan khác của nhà nƣớc hoặc với
tổ chức xã hội. Việc tố giác có thể bằng lời nói, nếu bằng lời nói thì cơ quan
tổ chức phải lập văn bản và lấy chữ ký ngƣời đó.
+ Tin báo của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội: Cơ quan tổ chức
khi phát hiện hoặc nhận đƣợc tố giác của công dân phải báo ngay tin về tội
phạm cho cơ quan điều tra bằng văn bản để cơ quan điều tra xem xét có dấu
hiệu của tội phạm hay không để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố.
+ Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng: Khi có tin báo trên
các phƣơng tiện thông tin đại chúng nhƣ báo đài… thì các cơ quan có thẩm
quyền phải tiến hành thu thập, xác minh xem xét.
+ Người phạm tội tự thú: Đây là trƣờng hợp chƣa bị phát hiện nhƣng
ngƣời phạm tội đã chủ động ra trình báo với cơ quan có thẩm quyền về hành
vi của mình. Trên cơ sở việc tự thú, cơ quan có thẩm quyền có căn cứ xác
định dấu hiệu về tội phạm tự thú đã thực hiện và tiến hành ra quyết định khởi
tố hình sự.
Việc đinh
̣ tô ̣i danh cũng đƣợc tiến hành trong các trƣờng hợp: Đình chỉ
điều tra, đình chỉ vụ án thay đổi tội danh trong quá trình điều tra, phục hồi
điều tra, khởi tố bị can, kết luận điều tra. Việc đinh
̣ tô ̣i danh ở giai đoạn này là
tiền đề cơ sở cho hoạt động đinh

thành tội phạm này (bao gồm bốn yếu tố - khách thể của tội phạm, mặt khách
quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm).
Thứ tư, định tội danh đối với các tội giết ngƣời đƣợc tiến hành trên cơ
sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập đƣợc và các tình tiết khách quan của vụ
án để đối chiếu, so sánh và kiểm tra để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu
của hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc thực hiện với các dấu hiệu của cấu
thành tội phạm quy định tại Điều 93, Điều 94, Điều 95 và Điều 96 Bộ luật
hình sự năm 1999.
Thứ năm, kết quả của quá trình định tội danh đối với các tội giết ngƣời
thể hiện thông qua một văn bản áp dụng pháp luật và bởi cơ quan, chủ thể có
thẩm quyền do pháp luật quy định. Từ văn bản áp dụng pháp luật đó, sẽ phát
sinh các hậu quả mà ngƣời phạm tội phải gánh chịu. Theo đó, các hình thức
văn bản áp dụng pháp luật trong hoạt động định tội danh đối với các tội giết
ngƣời theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự bao gồm:
- Quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự;
- Quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự;
- Quyết định khởi tố bị can; quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết
định khởi tố bị can;

16


- Quyết định đình chỉ vụ án; quyết định đình chỉ điều tra bị can;
- Quyết định điều tra bổ sung, điều tra lại;
- Quyết định phục hồi điều tra;
- Quyết định nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra;
- Kết luận điều tra;
- Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
- Bản cáo trạng;
- Bản án;

danh đối với các tội giết ngƣời có căn cứ và đúng sẽ góp phần thực hiện tốt
nguyên tắc xử lý về hình sự với sự thể hiện các tƣ tƣởng của hàng loạt nguyên
tắc tiến bộ nhƣ: pháp chế, dân chủ, bình đẳng, công minh, nhân đạo và trách
nhiệm hình sự trên cơ sở lỗi của ngƣời phạm tội;...
Ba là, việc định tội danh đối với các tội giết ngƣời có căn cứ và đúng sẽ
còn là một trong những cơ sở để áp dụng chính xác và đúng đắn các quy định
của Bộ luật tố tụng hình sự về tạm giam, thời hạn tạm giam, khởi tố vụ án hình
sự, thẩm quyền điều tra, truy tố và xét xử; qua đó, góp phần hữu hiệu cho việc
bảo vệ các quyền và tự do của công dân nói chung với một bên là quyền và tự
do của ngƣời phạm tội giết ngƣời trong lĩnh vực tƣ pháp hình sự.
Bốn là, việc định tội danh đối với các tội giết ngƣời có căn cứ và đúng
sẽ đem lại công lý và công bằng trong xã hội, pháp luật đƣợc thực thi nghiêm
chỉnh và quyền lợi của ngƣời bị hại đƣợc đền bù, cũng nhƣ ngƣời phạm tội
phải chịu trách nhiệm hình sự và hình phạt trƣớc pháp luật. Tội giết ngƣời là
một trong những tội đặc biệt nghiêm trọng trong pháp luật hình sự Việt Nam
với mức hình phạt cao nhất là tử hình. Do vậy, việc định tội danh đúng đối
với tội giết ngƣời có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giúp cho việc khởi tố, truy
tố, xét xử đƣợc đúng ngƣời, đúng tội và buộc ngƣời phạm tội phải trả giá cho
hành vi dã man của mình, từ đó thiết lập một trật tự xã hội ổn định hơn và văn

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status