Bài Tiểu Luận " công tác quản trị và lãnh đạo tại tập đoàn kinh tế Vinashin " - Pdf 15

Bài Tiểu Luận Môn Quản Trị Học
ĐỀ TÀI
Công tác quản trị và lãnh đạo tại tập
đoàn kinh tế Vinashin

Giảng viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện : Trần Thị Ngát

SVTH: Trần Thị Ngát Trang 1
Bài Tiểu Luận Môn Quản Trị Học
Sinh viên thực hiện : Trần Thị Ngát 1
1
SVTH: Trần Thị Ngát Trang 2
Bài Tiểu Luận Môn Quản Trị Học
LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời đại hiện nay, hoạt động kinh doanh luôn gặp phải nhiều khó khăn
và đối mặt với sự lạc hậu, các doanh nghiệp luôn phải đổi mới, cải tiến và đẩy
mạnh truyền thông mới có thể theo kịp tốc độ phát triển. Những thay đổi nhanh về
thị hiếu, công nghệ, tình hình cạnh tranh, do đó dù doanh nghiệp đưa ra sản phẩm,
dịch vụ tốt đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. “Một con tàu muốn chạy được thì
cần có đầu tàu tốt”.
Hiện nay, ở Việt Nam vai trò người lãnh đạo trong doanh nghiệp ngày càng
được xem trọng và đánh giá cao. Thực tế thì một số ít công ty nước ngoài hoạt
động tại Việt Nam đã rất thành công trong hoạt động quản trị và lãnh đạo doanh
nghiệp đồng thời tạo ra lợi thế cạnh tranh từ sự khác biệt so với doanh nghiệp Việt
Nam. Tuy nhiên, đa số các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa nắm bắt
được tầm quan trọng của khái niệm này.
Nội dung tiểu luận gồm hai phần:
Phần I: cơ sở lý luận chung về lãnh đạo.
Phần II: thực trạng công tác quản trị và lãnh đạo tại tập đoàn kinh tế Vinashin
Hy vọng bài tiểu luận này mang đến cho thầy, cô cùng với các bạn một lượng

trừng phạt. Khả năng của họ dựa trên quyền hành chính thức vốn cố hữu ở vị trí họ
SVTH: Trần Thị Ngát Trang 4
Bài Tiểu Luận Môn Quản Trị Học
đảm nhiệm. Ngược lại, người lãnh đạo có thể được bổ nhiệm hoặc hiện ra trong
nhóm. Người lãnh đạo có thể ảnh hưởng lên người khác nhằm thực hiện ý tưởng
ngoài quyền hành chính thức.
Tất cả nhà quản trị có nên là người lãnh đạo ? Ngược lại, tất cả người lãnh
đạo nên là nhà quản trị ? Từ những kết quả nghiên cứu, chúng ta có thể phát biểu
rằng tất cả nhà quản trị về mặt lý tưởng nên là người lãnh đạo vì lãnh đạo là chức
năng của quản trị. Tuy nhiên, không phải tất cả những nhà lãnh đạo đều cần có các
khả năng trong các chức năng quản trị khác, vì vậy không phải tất cả nhà lãnh đạo
đều có một chức vụ quản trị. Đứng dưới góc độ quản trị, thuật ngữ nhà lãnh đạo là
người có thể ảnh hưởng đến người khác và có quyền lực.
1.2. Lý thuyết lãnh đạo
1.2.1. Tâm lý lãnh đạo
Người lãnh đạo hữu hiệu thường có các đặc điểm tâm lý sau:
- Cá tính:
+ Luôn điềm tĩnh làm chủ mọi tình huống. Cá tính này đòi hỏi ở người lãnh
đạo không bi quan, dao động trước những khó khăn, thử thách, không bị cuốn hút
bởi những tình huống mà phải điềm tĩnh, chủ động đối phó một cách tốt nhất. Sự
điềm tĩnh là điều kiện cần thiết giúp cho người lãnh đạo có đủ sáng suốt để ra các
quyết định chính xác giải quyết các tình huống khó khăn, phức tạp và nguy cấp
nhất, tránh được những hiện tượng nóng vội gây nguy hiểm cho tổ chức.
+ Trung thực với cộng sự. Là một đức tính hết sức cần thiết đối với tất cả quản
trị viên ở mọi cấp mà trước hết là người lãnh đạo, vì tính trung thực của người lãnh
đạo sẽ chiếm được sự kính trọng và quí mến của những thuộc cấp, là nguồn động
viên thúc đẩy họ ra sức hoàn thành tất cả những mệnh lệnh do anh ta đòi hỏi.
SVTH: Trần Thị Ngát Trang 5
Bài Tiểu Luận Môn Quản Trị Học
+ Cởi mở song kiên quyết khi cần thiết. Đức tính này thể hiện bản lĩnh của

1.2.2. Hành vi lãnh đạo
1.2.2.1. Biểu tượng
Người lãnh đạo là người đứng đầu tổ chức hay một nhóm, mọi hành vi của anh
ta có ảnh hưởng to lớn đến tập thể. Anh ta là biểu tượng, là tấm gương sáng cho các
thành viên trong tập thể noi theo.
Trong công việc nếu anh ta là người tận tụy thì nhân viên sẽ chăm chỉ làm
việc; anh ta giữ nghiêm kỷ luật lao động thì nhân viên không dám đi trễ về sớm.
Trong đời sống anh ta liêm chính, giản dị thì nhân viên không dám tham ô, lợi
dụng. Trong sinh hoạt anh ta luôn mẫu mực thì nhân viên sẽ bắt chước theo,…
1.2.2.2. Phong cách lãnh đạo
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều tên gọi phong cách khác nhau:
- Phong cách tiếp cận theo hệ thống: Do giáo sư Likert cùng đồng nghiệp ở
trường đại học Michigan (Mỹ) đã nghiên cứu các kiểu mẫu phong cách của các nhà
quản trị bằng 4 hệ thống như sau:
+ Hệ thống 1: Kiểu lãnh đạo “Quyết đoán – áp chế”, thể hiện sự chuyên
quyền cao, thúc đẩy đối tượng bằng sự đe dọa trừng phạt, phần thưởng hiếm hoi;
thông tin từ trên xuống ; ra quyết định tập trung ở người quản trị cấp cao.
+ Hệ thống 2: Kiểu lãnh đạo “Quyết đoán – nhân từ”. Kiểu lãnh đạo này thể
hiện lòng tin cấp dưới; thúc đẩy đối tượng chủ yếu là kích thích, khen thưởng; chấp
nhận một số thông tin cấp dưới; cho phép một phần ra quyết định của cấp dưới.
SVTH: Trần Thị Ngát Trang 7
Bài Tiểu Luận Môn Quản Trị Học
+ Hệ thống 3: Kiểu lãnh đạo “Tham vấn”. Thể hiện sự tin tưởng và hy vọng
cấp dưới; trước khi quyết định về một vấn đề nào đó thường có tham khảo cấp
dưới.
+ Hệ thống 4: Kiểu lãnh đạo “Tham gia theo nhóm”. Thể hiện tin tưởng, hy
vọng cấp dưới; tổ chức cho đối tượng tham gia ý kiến theo nhóm.
Tiếp cận dựa theo quyền lực quản trị, ta có các phong cách lãnh đạo như sau:
- Phong cách lãnh đạo độc đoán. Là phong cách trong đó nhà quản trị sẽ trực
tiếp ra các quyết định mà không cần tham khảo ý kiến của người dưới quyền.

thực hiện không cao.
-Nhà quản trị quan tâm cả con người và cả công việc. Đây là loại người lý
tưởng nhất, nhưng thực tế không phải tất cả việc gì cũng phù hợp cả lợi ích của cá
nhân và tập thể. Do đó, hoặc hy sinh một phần công việc (lợi ích của tập thể) để
tăng thêm sự thỏa mãn lợi ích của cá nhân và ngược lại sẽ hy sinh một phần lợi ích
của cá nhân để tăng thêm lợi ích của tập thể.
- Góc quản trị suy kém nhất, họ không quan tâm đến con người lẫn công việc,
chỉ duy trì các hoạt động của tổ chức ở mức tối thiểu nhất. Họ bỏ mặc tất cả, họ chỉ
còn giữ vai trò là người cung cấp thông tin từ trên xuống.
- Chọn phong cách lãnh đạo hiệu quả nhất. Cần phải dung hòa giữa yêu cầu
công việc chung và nguyện vọng chính đáng của cá nhân. Tuy nhiên, cũng cần
phân biệt phong cách lãnh đạo và cách xử lý chúng trong từng tình huống cụ thể,
người quản trị có thể áp dụng nặng về tính chuyên quyền đối với người này hay
nặng về tính dân chủ đối với người khác trên cơ sở vì lợi ích chung của tổ chức và
có quan tâm đến lợi ích cá nhân.
SVTH: Trần Thị Ngát Trang 9
Bài Tiểu Luận Môn Quản Trị Học
1.2.3. Phương pháp lãnh đạo
1.2.3.1. Phương pháp hành chính
- Là phương pháp sử dụng quyền lực mang tính chất bắt buộc đối tượng phải
thực hiện nhiệm vụ của mình.
- Các công cụ để thực hiện quyền lực: các quyết định quản trị; các công cụ kế
hoạch; tổ chức; các công cụ chính sách, chế độ và các công cụ kỹ thuật quản trị
khác.
- Sử dụng phương pháp hành chính trong quá trình lãnh đạo tập thể người là
điều rất cần thiết, bởi vì ở đó nó thể hiện cái quyền lãnh đạo của người lãnh đạo,
buộc đối tượng phải phục tùng vô điều kiện, làm cho công việc được tiến hành một
cách nhanh chóng và tương đối dễ thực hiện. Tuy nhiên, không nên quá lạm dụng
phương pháp này vì sẽ dẫn đến sự nhàm chán nếu không muốn nói là sự sợ hãi của
cấp dưới khi họ nhận quán nhiều mệnh lệnh hành chính, và đây cũng là cơ hội phát

Mỗi phương pháp trên đều có những ưu, nhược điểm riêng. Vì vậy, trong quản
trị cần kết hợp đồng thời các phương pháp để lãnh đạo một cách hiệu quả.
1.2.3.4. Sự kết hợp của các phương pháp:
Trong lãnh đạo cần sử dụng kết hợp các loại phương pháp nhằm tạo ra một
động lực mạnh mẽ hơn, phương pháp hành chính tạo ra động lực quản trị, phương
pháp kinh tế tạo ra động lực vật chất, phương pháp giáo dục tạo ra động lực tinh
thần. Đồng thời sử dụng kết hợp các phương pháp sẽ khắc phục cho nhau những
nhược điểm trong mỗi loại phương pháp. Nếu chỉ phương pháp hành chính không
thôi sẽ dễ gây sự ức chế, căng thẳng; hoặc quá nhấn mạnh khuyến khích bằng lợi
SVTH: Trần Thị Ngát Trang 11
Bài Tiểu Luận Môn Quản Trị Học
ích vật chất thì dễ sinh ra tư tưởng thực dụng; hay chỉ coi trọng giáo dục thì cũng
dễ gây nhàm chán.
1.3. Xây dựng sự tin cậy: cốt lõi của lãnh đạo:
Sự tin cậy được xem là yếu tố then chốt cho lãnh đạo. Sự tin cậy hoặc thiếu
vắng sự tin cậy ngày càng là một vấn đề quan trọng trong tổ chức hiện nay. Các
hành động của các nhà lãnh đạo năm 2001 và 2002 đã làm sụt giảm niềm tin của
công chúng vào các nhà lãnh đạo công ty. Nhiều người đơn thuần nhìn các nhà lãnh
đạo công ty như thể họ là những người tham gia vào cơ hội. Sự tin cậy hàm ý sự
hiểu biết, sự thân quen và rủi ro. Hầu hết chúng ta đều nhận thấy khó khăn, nếu
không muốn nói là không thể, để tin ngay vào một người nếu chúng ta không biết
mọi điều về họ. Trong một vài trường hợp chúng ta không biết gì, chúng ta có thể
đánh cược, mạo hiểm nhưng chúng ta không thể tin được. Sự tin cậy có thể làm tổn
hại chính người đó, ví dụ khi chúng ta phơi bày các thông tin riêng tư hoặc khi lệ
thuộc vào lời hứa của người khác. Về bản chất, sự tin cậy tạo cơ hội làm cho ai thất
vọng hoặc gây bất lợi. Khi chúng ta tin một người nào đó chúng ta kỳ vọng rằng
người đó không làm chúng ta bất lợi.
Niềm tin và tính đáng tin cậy tác động đến khả năng tận dụng kiến thức và sự
hợp tác của nhà lãnh đạo. Khi cấp dưới tin tưởng nhà lãnh đạo, họ sẵn sàng làm
theo những chỉ dẫn và hành động của người đó – tin chắc rằng quyền và sự quan

chế tạo kết cấu dàn khoan; thiết kế thi công công trình thủy, nhà máy đóng tàu, phá
dỡ tàu cũ.
SVTH: Trần Thị Ngát Trang 13
Bài Tiểu Luận Môn Quản Trị Học
+ Sản xuất các loại vật liệu, thiết bị cơ khí, điện, điện lạnh, điện tử phục vụ công
nghiệp tàu thủy; xuất nhập khẩu vật tư thiết bị cơ khí, phụ tùng, phụ kiện tàu thủy
và các loại hàng hóa liên quan đến ngành công nghiệp tàu thủy.
+ Lập dự án, chế thử, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Công nghiệp tàu thủy; tư vấn
đầu tư, chuyển giao công nghệ; đào tạo, cung ứng xuất khẩu lao động trong ngành
công nghiệp tàu thủy.
+ Dịch vụ, khách sạn, hàng hải; dịch vụ Logistic, tàu mẫu, quảng cáo; tổ chức
khai thã thực nghiệm năng lực các phương tiện vận tải thủy mới sản xuất; vận tải
biển.
+ Sản xuất, mua bán thép đóng tàu, thép cường độ cao; sản xuất, lắp ráp động
cơ Diezel, động cơ lắp đặt cho tàu thủy; sản xuất, lắp ráp trang thiết bị nội thất tàu
thủy; mua bán, vận tải dầu thô, sản phẩm dầu khí.
+ Lắp ráp, phục hồi, sửa chữa, xuất nhập khẩu và mua bán vật tư, thiết bị giao
thông vận tải (trừ vật tư thiết bị, phương tiện giao thông vận tải cấm xuất nhập
khẩu do pháp luật quy định).
+ Khảo sát, thiết kế, cung cấp lắp đặt các hệ thống tự động, phòng cháy, chữa
cháy.
+ Dịch vụ hoa tiêu hàng hải; Dịch vụ hàng hải: Đại lý cung ứng, lai dắt, sửa
chữa, vệ sinh tàu biển, môi giới hàng hải, bốc dỡ hàng hoá; Đại lý hàng hoá và môi
giới mua bán tàu biển, đại lý vận tải; Dịch vụ cảng, bến cảng, bốc xếp hàng hoá,
hoạt động kho bãi và các hoạt động khác hỗ trợ vận tải.
+ Kinh doanh nạo vét luồng lạch và san lấp, tạo bãi, mặt bằng xây dựng; kinh
doanh vật liệu xây dựng; kinh doanh hạ tầng cơ sở khu công nghiệp.
2.1.2. Cơ cấu
2.1.2.1. Cơ cấu tổ chức
SVTH: Trần Thị Ngát Trang 14

- Chủ tịch tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam là đại diện theo pháp luật
của tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam.
- Cơ cấu quản lý của các công ty con là các tổng công ty (công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên) gồm: chủ tịch tổng công ty, tổng giám đốc, các phó tổng
giám đốc, giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng và bộ máy giúp việc.
- Công ty con là công ty cổ phần hoạt động theo mô hình đại hội đồng cổ
đông, hội đồng quản trị, giám đốc công ty.
2.1.3. Tình hình sản xuất kinh doanh
Sản xuất, kinh doanh hiện đang bị đình trệ; bị mất hoặc giảm nhiều đơn đặt
hàng; nhiều dự án đầu tư dở dang, không hiệu quả. Bên cạnh đó, cơn bão khủng
hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu ập đến từ giữa năm 2008 đã ảnh hưởng nặng nề
đến ngành công nghiệp đóng tàu, trong đó có Vinashin.
Tính đến tháng 6 năm 2010, tổng tài sản của Vinashin khoảng 104.000 tỷ
đồng, vốn chủ sở hữu đạt 8.000 tỷ đồng, nhưng tổng số nợ là 86.000 tỷ đồng. Vốn
điều lệ thấp lại sử dụng dàn trải nên tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu gần 11 lần.
Vinashin rơi vào tình trạng mất cân đối tài chính nghiệm trọng, sản xuất đình đốn,
công nhân chuyển, bỏ việc gần 17.000 người, mất việc gần 5.000 người, nợ lương
và nợ bảo hiểm xã hội hơn 230 tỷ đồng.
SVTH: Trần Thị Ngát Trang 16
Bài Tiểu Luận Môn Quản Trị Học
Chức năng chính của Vinashin là tập trung phát triển năng lực cốt lõi của
ngành công nghiệp, nhưng Vinashin đã dùng lượng vốn rất lớn để đầu tư tràn lan
và thua lỗ nghiêm trọng. Hầu hết các dự án đầu tư đều triển khai dở dang.
- Từ năm 2005 cho đến trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vào
đầu 2008, danh mục các dự án đầu tư của Vinashin đã lên đến con số 257, với tổng
kinh phí hơn 50.000 tỷ đồng. Số tiền trên là không nhỏ, nhưng do dàn trải, nên rất
nhiều trong số đó không được cấp đủ số vốn cần thiết. Tới nay, hơn ba phần tư số
dự án vẫn còn dở dang.
- Trong 2 năm 2006 và 2007, tổng số vốn dài hạn mà Vinashin huy động được
lên đến trên 43.700 tỷ đồng, tương đương gần 3 tỷ USD.

tổng giám đốc nhưng các tổng giám đốc vẫn ghi rõ là tổng giám đốc kinh doanh,
tổng giám đốc nội chính, tổng giám đốc đầu tư…
- Thực chất các tổng giám đốc trên vẫn giữ chức năng phó tổng giám đốc và
ông Bình trên thực tế vẫn năm quyền điều hành của tổng giám đốc.
- Khi đương chức, ông Phạm Thanh Bình là chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm
Bí thư Đảng ủy tập đoàn. Với cương vị “nhất thể hóa” độc tôn đó, ông Bình là
“Vua” của Vinashin, có quyền lực quyết định mọi mặt hoạt động và công tác của
tập đoàn.
- Ở Vinashin tập trung các chức danh Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng
Quản trị, Tổng giám đốc vào một người. Những năm gần đây, người nắm nhiều
quyền lực này đã “trở nên độc đoán, gia trưởng”. Lãnh đạo Vinashin có biểu hiện
SVTH: Trần Thị Ngát Trang 18
Bài Tiểu Luận Môn Quản Trị Học
vụ lợi cá nhân, độc đoán, chuyên quyền, gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế,
chính trị, xã hội.
- Trong khi đó, Đảng ủy, Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát, các phó tổng giám
đốc yếu kém, không thực hiện được chức năng, nhiệm vụ được giao về lãnh đạo,
quản lý, kiểm tra, giám sát, ngược lại còn đồng tình với những việc làm sai trái của
người đứng đầu tập đoàn.
2.2.1.2. Bổ nhiệm trái quy định
Theo đánh giá của chính nhân viên Vinashin, sự tập trung quyền lực quá lớn
đã khiến ông Phạm Thanh Bình dễ dàng ra quyết định.
- Bổ nhiệm con trai là Phạm Bình Minh (sinh năm 1980) khi chưa tới 27 tuổi
đã được làm Viện phó Viện khoa học công nghệ tàu thủy.
- Năm 2009, ông Phạm Bình Minh được bổ nhiệm tới ba lần:
- Ngày 27-3-2009, được bổ nhiệm làm chủ tịch Hội đồng quản trị công ty
trách nhiệm hữu hạn tư vấn thiết kế công nghiệp.
- Ngày 16-7-2009, được bổ nhiệm kiêm chức giám đốc phòng thí nghiệm
trọng điểm thuộc Viện khoa học công nghệ tàu thủy.
- Ngày 22-12-2009, được bổn nhiệm kiêm phó tổng giám đốc Tổng công ty

nước, cơ quan chủ sở hữu cấp trên nắm không đúng thực trang nên chỉ đạo không
kịp thời, đầy đủ.
SVTH: Trần Thị Ngát Trang 20
Bài Tiểu Luận Môn Quản Trị Học
- Lãnh đạo Vinashin chẳng những không nghiêm túc tiếp thu những ý kiến chỉ
ra sai phạm mà còn tìm cách báo cáo không đúng sự thật để lấp liếm việc làm của
mình.
2.2.3. Quản lý yếu kém, lỏng lẻo
Năng lực quản trị doanh nghiệp, trình độ cán bộ, lãnh đạo quản lý của
Vinashin yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu; xây dựng và thực hiện kế hoạch
sản xuất kinh doanh, kế hoạch đầu tư của doanh nghiệp quá nhanh, quá nóng,
không phù hợp với nguồn vốn và năng lực quản lý.
Lãnh đạo tập đoàn đã chậm xây dựng điều lệ hoạt động và các quy định quản
lý tài chính khác, như: quy chế quản lý tài chính, quy chế quản lý đầu tư xây dựng,
các định mức kinh tế kỹ thuật
Trong quản trị doanh nghiệp, quản lý tài chính, Vinashin thể hiện yếu kém,
lỏng lẻo, tập trung nhất trong các lĩnh vực hạch toán các khoản tài sản lớn và quản
lý nợ.
- Báo cáo hạch toán cho biết tổng số vốn mà công ty mẹ đầu tư vào các công
ty con đến hết năm 2007 là 4.946 tỷ đồng, nhưng công ty mẹ chỉ hạch toán có 990
tỷ đồng, số vốn “quên” không hạch toán lên tới 3.956 tỷ đồng.
- Về quản lý nợ: Vinashin hạch toán, xử lý công nợ chưa có căn cứ, không
đúng nguyên tắc với số tiền 33 tỷ đồng, nợ nội bộ quá hạn gần 1.300 tỷ đồng tính
đến ngày 31/12/2007.
- Vinashin đã quyết định thực hiện nhiều dự án đầu tư ngoài quy hoạch, không
đúng quy định của pháp luật hiện hành; quyết định sử dụng vốn kém hiệu quả, có
nhiều biểu hiện sai trái; sử dụng một số vốn lớn để mua tàu vận tải biển của nước
ngoài, trong đó có những tàu quá cũ.
SVTH: Trần Thị Ngát Trang 21
Bài Tiểu Luận Môn Quản Trị Học

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Báo điện tử: www.vnexpress.net
[2] Báo điện tử Dân trí: www.dantri.com.
[3] Trang chủ Tập đoàn Vinashin: www.vinashin.com.vn
[4] Thu thập trong quá trình làm việc.
SVTH: Trần Thị Ngát Trang 23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status