Luận văn
PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ
RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ
PHẦN SÀI GÒN CÔNG
THƯƠNG
i
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
LỜI MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4. Phương pháp nghiên cứu 3
5. Kết cấu luận văn 3
Chương 1 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG 4
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 4
1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng 4
1.1.2 Hậu quả rủi ro tín dụng 5
NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG 38
2.2.1 Xây dựng chính sách tín dụng và quy trình cấp tín dụng 38
2 .2. 2 T u â n th ủ c á c qu y đ ị n h về t í n dụn g 44
2 .2. 3 P h ân tá n r ủ i r o 48
2.2.4 Thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm đúng qu y định 49
2.2.5 Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi r o 52
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN
DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG 58
2.3.1 Nhữn g kết quả đạt được 58
2.3.2 Nhữn g tồn tạ i trong việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
TMCP Sài Gòn Công Thương 61
2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66
Chương 3 67
GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG 67
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN
CÔNG THƯƠNG ĐẾN NĂM 2015 67
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO
TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG 70
3.2.1 Đối với Ngân hàn g TM CP Sài Gòn Công Thương 70
3.2.2 Đối với cán bộ tín dụn g 71
3.3 GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NÓI CHUNG 74
3.3.1 Về phía các Ngân hàng thương mại 74
3.3.2 Về phía nh à nước 79
3.4 ỨNG DỤNG NGUYÊN TẮC BASEL VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU VÀ
NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG TRONG XÂY DỰNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỦI
RO TÍN DỤNG HIỆN ĐẠI 80
cho sự hoàn trả nợ vay. Mặc dù trước khi ký hợp đồng vay Ngân hàng là người có
quyền đáng kể khi thương lượng, nhưng người vay ở thế có lợi hơn một khi tiền đã
được giải ngân. Khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi ngân hàng cấp tín dụng
cho khách hàng. Khi đó, NH sẽ phải gánh chịu những thiệt hại, mất mát mà do
người vay vốn hay người sử dụng vốn không trả đúng hạn, không thực hiện đúng
nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng tín dụng vì bất kể lý do gì.
Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tùy thuộc vào năng lực
quản trị rủi ro, đặc biệt là quản trị rủi ro tín dụng vì thực tế cho thấy hoạt động tín
dụng hiện đang chiếm tỷ trọng lớn nhất: từ 60- 70% trong danh mục tài sản có tại
hầu hết các NHTM ở Việt Nam, đem lại nguồn thu nhập chính cho các NH. Đặc
biệt, nguồn tín dụng này đang đóng vai trò kênh dẫn vốn chủ đạo cho các doanh nghiệp. 2
Phát sinh nợ xấu là tất yếu trong hoạt động của ngành ngân hàng. Các ngân
hàng thương mại luôn phải đối phó với các khoản nợ khó đòi. Chính vì vậy mà TS
Vũ Viết Ngoạn - Tổng Giám đốc Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (VCB) đã có
một nhận định có giá trị cảnh báo: “Nợ xấu đang là vấn đề đau đầu với hầu hết các
ngân hàng Châu Á, và các ngân hàng Việt Nam không phải là ngoại lệ”. Còn T ổn g
Giám đốc ANZ, ngân hàng lớn thứ tư của Australia, ông Mike Smith so sánh nợ
khó đòi như những dư chấn có sức tàn phá lớn sau một trận động đất mạnh.
N h ư v ậ y , mỗi ngân hàng cần phải làm gì để có thể hạn chế thấp nhất những
hậu quả do rủi ro tín dụng đem lại? Xuất phát từ yêu cầu cần thiết này tác giả chọn
đề tài: PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG, là m mụ c tiêu
nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng như sự cần
thiết phải quan tâm đến rủi ro tín dụng, hậu quả của rủi ro tín dụng để từ đó xây
Chương 2: Thực trạng về phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
TMCP Sài Gòn Công Thương.
Chương 3: Giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
TMCP Sài Gòn Công Thương. 4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Với vai trò trung gian trên thị trường tài chính, ngân hàng thực hiện chức
năng “đi vay để cho vay”. Vì thế, ngân hàng gánh chịu rủi ro từ cả 2 phía: Người đi
vay và người cho vay. Đứng trên giác độ là người đi vay, rủi ro tín dụng xảy ra khi
người gửi tiền rút trước hạn. Đứng trên giác độ là người cho vay, rủi ro tín dụng
xảy ra khi người vay tiền hoàn trả tiền vay không đúng với hợp đồng tín dụng đã
ký kết với ngân hàng.
Rủi ro tín dụng, theo khái niệm cơ bản nhất, là khả năng khách hàng nhận
vòng quay vốn tín dụng không được thực hiện, NH không có khả năng bảo đảm
vốn lưu động, hạn chế chức năng kinh doanh tín dụng của NH.
Chất lượng tín dụng yếu kém không chỉ là thất thoát vốn. Sẵn có ngân hàng
tài trợ, nhiều dự án kém chất lượng được đưa vào thực hiện, gây tổn thất lớn về
nguồn lực ở nhiều địa phương đã rất nghèo. Nhiều cán bộ lợi dụng làm giàu nhanh
chóng. Tình trạng khó khăn về tài chính của các ngân hàng thường phát sinh từ
những khoản vay khó đòi. Cũng chính vì nguyên nhân này mà hàng loạt quỹ tín
dụng, NHCP bị đổ vỡ, số khác phải nằm trong diện giám sát đặc biệt.
Nếu những tổn thất do rủi ro trong hoạt động tín dụng gây ra ở mức kiểm
soát được thì việc xử lý tương đối dễ dàng trong giới hạn cho phép của qu ỹ d ự
phòng bù đắp rủi ro của TCTD. Nhưng tổn thất lớn, vượt qua khả năng xử lý của
TCTD thì vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng, gây hậu quả khó lường không những cho
chính TCTD đó, mà còn cho cả những TCTD và doanh nghiệp khác có liên quan,
ảnh hưởng tới quyền lợi người gửi tiền và cuối cùng, ảnh hưởng tới toàn bộ nền
kinh tế, và là nguy cơ tiềm ẩn cho khủng hoảng tài chính.
Về mặt xã hội
Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh chữ tín. Để thực hiện được điều này
đòi hỏi NH phải phấn đấu rất nhiều năm, nhưng khi rủi ro xảy ra, đặc biệt là mức 6
độ cao thì việc khôi phục lại lợi thế trên thị trường là hết sức khó khăn. Bởi vì, rủi
ro cao có thể làm giảm uy tín của NH (chỉ cần một NH bị sụp đổ thì sẽ ảnh hưởng
đến toàn hệ thống các NH vì lúc đó lòng tin trong dân chúng vào NH đã không còn
nữa), làm cho khả năng thanh toán của NH giảm sút. Điều này đưa đến kết quả làm
cho lợi nhuận suy giảm, thậm chí có thể dẫn đến sự phá sản của các NHTM. Cùng
với điều này là sự rò rỉ chất xám (ngân hàng bị mất đi nhân viên do trả lương quá
thấp), mối liên kết trong kinh doanh với các NH trong nước và quốc tế bị thu hẹp.
1.1.2.2 Đối với nền kinh tế quốc dân
nghiệp nói riêng và của các ngân hàng cho vay nói chung. Không chỉ xuất khẩu,
những mặt hàng nhập khẩu cũng dễ bị tổn thương không kém.
Qua quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế cũng dẫn đến những hệ
quả tất yếu làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt,
khiến hầu hết các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng
phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường.
Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại trong nước và
quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng trong
nước gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên do các khách hàng tiềm lực tài chính
lớn đã bị các ngân hàng nước ngoài thu hút bằng các sản phẩm, dịch vụ mới với
nhiều tiện ích.
Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi
Những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành nhiều luật và các văn bản
hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng. Song, việc
triển khai vào hoạt động NH vẫn còn chậm và gặp nhiều vướng mắc. Như việc
cưỡng chế tài sản thu hồi nợ, mặc dù các văn bản luật đều có quy định: “trong
trường hợp khách hàng không trả được nợ, ngân hàng thương mại có quyền xử lý
tài sản bảo đảm nợ vay”, nhưng trên thực tế các NHTM không làm được điều này
vì NH là tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, không có chức
năng cưỡng chế bu ộc khách hàng bàn giao tài sản bảo đảm ch o n gân h àn g để xử lý
Hoạt động thanh tra ngân hàng và đảm bảo an toàn hệ thống từ ngân hàng
nhà nước cũng cần phải cải thiện, nâng cao chất lượng và nhất là nắm bắt kịp tốc
độ cải tiến công nghệ mới của các NHTM. Nếu thanh tra ngân hàng chỉ hoạt động
một cách thụ động, không cảnh báo và có biện pháp ngăn chặn ngay từ đầu, để khi 8
hậu quả nặng nề xảy ra rồi mới can thiệp thì rủi ro và nguy cơ đe dọa sự an toàn
trong hệ thống là rất lớn.
9
Nếu nhận thức đầy đủ, thực hiện nghiêm túc các quy định trên, nhất là thẩm
tra chặt chẽ khả năng tài chính, hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh, các
điều kiện về bảo đảm tiền vay của khách hàng rồi mới quyết định đầu tư thì khả
năng thu hồi vốn là rất lớn. Ngược lại, nếu dễ dãi, buông lõng quản lý hoặc thẩm
tra chưa đến nơi đến chốn đã quyết định đầu tư thì mức độ rủi ro sẽ gia tăng, thậm
chí có khi mất vốn. Thực tế cho thấy, có khách hàng sản xuất kinh doanh thua lỗ,
năng lực tài chính yếu kém, vốn nhỏ. Trong khi đó, nhà cửa, đất đai lại chưa có
giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng nhưng để có vốn hoạt động họ đã
nâng khống vốn tự có rồi lập nhiều dự án, có dự án thuộc lĩnh vực mà họ chưa từng
có kinh nghiệm để đi vay. Vậy mà, có NH không những đã quyết định cho vay mà
còn nhận bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Hậu quả là dự án
kém hiệu quả, nợ tồn đọng khó có khả năng thu hồi, vì thế không những nguy cơ
tổn thất cho NH là khá lớn mà uy tín của NH cũng giảm sút nghiêm trọng.
Một số trường hợp do tranh chấp dẫn đến không bán được tài sản. Lợi dụng
sơ hở của NH, họ đã dùng giấy tờ có liên quan đến tài sản đó làm bảo đảm tiền vay
để đi vay. Mục đích của họ là thông qua việc vay vốn của Ngân hàng để chuyển đổi
từ tài sản bằng hiện vật sang tài sản bằng tiền mà không phải tốn kém thời gian
công sức cho việc tranh chấp do bán tài sản. Do chủ quan, chỉ căn cứ vào giấy tờ có
liên quan rồi quyết định cho vay nên hậu quả là vốn vay bị sử dụng sai mục đích,
muốn thu nợ NH chỉ còn cách phải xử lý tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, do không bán
được, nên tài sản bị xuống cấp, mất giá gây thiệt hại cho Ngân hàng.
Hai là, sự sa sút về phẩm chất, đạo đức, thiếu trách nhiệm của một số cán
bộ cho vay.
Đành rằng rủi ro, thiệt hại trong cho vay là không thể tránh khỏi, thậm chí
có trường hợp phải chấp nhận như rủi ro, tổn thất do thiên tai, dịch bệnh gây ra.
Nhưng, nếu cán bộ, đặc biệt là cán bộ có liên quan đến công tác cho vay nêu cao
phẩm chất, đạo đức, tinh thần trách nhiệm sẽ góp phần quan trọng hạn chế được rủi
ro. Nhờ chú trọng đến công tác cán bộ, nhất là luôn bồi dưỡng cho họ về phẩm
do họ gây ra được thì khoản vay khác cũng sai phạm tương tự lại tiếp tục phát sinh
làm cho tỷ lệ nợ xấu thực chất chiếm trong tổng dư nợ của một số NH luôn ở mức
cao hơn rất nhiều so với mức cho phép.
Tình trạng một số cán bộ tín dụng tiếp tay với khách hàng làm giả hồ sơ
vay, nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố quá cao so với thực tế đã để lại những hậu 11
quả nghiêm trọng, gây ảnh hưởng rất lớn đến uy tín ngân hàng. Vì vậy, vấn đề
con người phải cần được chú trọng hơn nữa nhằm nâng cao tinh thần đạo đức
cũng như trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mỗi cán bộ nhân viên.
Ba là, Chưa phát huy hết vai trò công tác kiểm tra nội bộ.
Kiểm tra nội bộ nên được phát huy về bản chất hơn tính hình thức và phải
được xem như là một hệ thống “giảm phanh” của cỗ xe tín dụng. Tín dụng càng
tăng trưởng với tốc độ lớn thì hệ thống này càng phải an toàn, hiệu quả mới có thể
tránh cho cỗ xe lao đi trước những rủi ro vốn luôn tồn tại trên con đường đi tới.
Thực tế cho thấy, tại một số NH đội ngũ nhân viên kiểm toán nội bộ đa số
tuổi đời còn non trẻ, chưa có kinh nghiệm thực tế trong cho vay nên dẫn đến tình
trạng nhân viên kiểm toán ấy chỉ biết dựa vào quy trình do NH ban hành mà kiểm
tra hồ sơ của cán bộ tín dụng, chủ yếu chỉ kiểm tra xem hồ sơ có được giải quyết
theo đúng quy trình hay không, hồ sơ vay vốn, hồ sơ pháp lý chứng từ sử dụng vốn
vay của khách hàng có được đầy đủ và lưu hồ sơ có khoa học hay không Bên
cạnh đó, do chưa được tiếp xúc với báo cáo tài chính của các công ty trên thực tế
mà chỉ dựa trên những gì đã được học nên khả năng phân tích báo cáo tài chính còn
kém, không đề xuất đ ược ý kiến của bản thân tr ong những đợt kiểm tra hồ sơ nội bộ.
Bốn là, Công tác giám sát và quản lý nợ sau khi cho vay còn yếu.
Việc giám sát và quản lý nợ sau khi cho vay cũng là một trong những công
cụ hữu ích góp phần giảm thiểu rủi ro tín dụng. Khi NH cho vay thì khoản cho vay
phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo được hoàn trả. Đây cũng là một
kinh doanh cụ thể, khả thi, mang lại hiệu quả không những cho doanh nghiệp mà
còn cho cả ngân hàng. Tuy vậy, mặc dù không được mong đợi, nhưng rủi ro vẫn
luôn hiện diện trong mọi quyết định đầu tư của DN và có thể biến những “giấc mơ
ngọt ngào với những con đường trải đầy hoa” của DN trở thành “quả đắng”. Tùy
theo mức độ nặng hay nhẹ mà rủi ro có thể gây ra những thiệt hại về tài chính nhất
định, hay thậm chí có th ể đ ẩy doanh nghiệp vào tình trạng khánh kiệt, dẫn đến phá sản.
Tuy nhiên, các khách hàng của NH không phải bao giờ cũng là những
khách hàng tốt, có thiện chí và khả năng trả nợ. Bên cạnh đó, Ngân hàng không
thể tránh khỏi những khách hàng có ý định xấu, các KH này sử dụng vốn sai
mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản, để lại những hậu quả
hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của cán bộ và ảnh hưởng đến doanh nghiệp
khác. Một số khách hàng do chậm trả lãi một vài tháng nên họ có suy nghĩ nếu 13
trả hết nợ cho ngân hàng, nếu NH không cho vay nữa họ sẽ không có vốn để tiếp
tục làm ăn nên mặc dù có tiền nhưng họ nhất định không trả, cố tình để cho
khoản nợ bị quá hạn luôn. Trong trường hợp này ý chí trả nợ của khách hàng là
rất kém, không có thiện chí trả nợ cho Ngân hàng.
Ngoài ra, một thực tế hiện nay đã cho thấy phần lớn các doanh nghiệp khi
vay vốn ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, chủ yếu tập trung vốn đầu tư
vào tài sản vật chất chứ ít có doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản
lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực.
Một quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý thì những rủi ro dẫn
đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi là rất lớn, mà lẽ ra nó
phải thành công trên thực tế.
Bên cạnh đó, sự minh bạch về sổ sách kế toán của doanh nghiệp vẫn còn là
một khó khăn rất lớn đối với cán bộ ngân hàng trong công tác thẩm định năng lực
tài chính của khách hàng vay vốn. Độ tin cậy về năng lực tài chính, tính đúng đắn
WTO, khu vực dịch vụ tài chính - ngân hàng là khu vực được mở cửa rất đáng kể
cho các đối tác nước ngoài vào đầu tư kinh doanh. Ngân hàng nước ngoài được huy
động Việt Nam đồng với mức độ lớn hơn và đặc biệt là các ngân hàng này sẽ có
nhiều cơ hội tiếp cận các doanh nghiệp trong nước để cho vay. Với chiến lược kinh
doanh chắc chắn, rất có thể các ngân hàng nước ngoài chỉ chọn khách hàng tốt để
cho vay và qua đó “đẩy” khách hàng rủi ro tới các ngân hàng trong nước.
Tình trạng này thường phổ biến ở các nước kém phát triển khi đó ngân hàng
nước ngoài chỉ chọn những khách hàng làm ăn có lãi, rủi ro thấp nhất và đẩy các
doanh nghiệp còn lại (rủi ro cao hơn) cho ngân hàng trong nước. Lựa chọn khách
hàng tốt là phản ứng thường thấy của các ngân hàng nước ngoài khi mới thâm nhập
vào nền kinh tế mà thị trường tài chính còn kém phát triển, môi trường kinh doanh
thiếu minh bạch, hệ thống thông tin không đầy đủ. Để khuyến khích các ngân hàng
nước ngoài cho vay những doanh nghiệp nhỏ, những khu vực có mức rủi ro cao thì
nhà nước cần có giải pháp cải thiện về môi trường kinh doanh theo hướng minh
bạch, ổn định, bản thân các doanh nghiệp có mức tín nhiệm thấp, khó tiếp cận vốn
ngân hàng cũng cần có chính sách cải thiện uy tín của chính mình, các ngân hàng
trong nước cũng cần cải thiện năng lực thẩm định cho v a y v à c ố g ắ n g p h á t h u y
những lợi thế củ a mình đ ố i v ớ i c á c d o a n h n g h i ệ p t r on g n ư ớ c . 15
1.2 PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm về phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng
Trên quan điểm quản lý, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, có thể đề
phòng, hạn chế, chứ không thể loại trừ. Do vậy, ngày nay việc tìm ra các giải pháp
nhằm hạn chế rủi ro tín dụng luôn trở thành vấn đề mang tính sống còn, là mối
quan tâm hàng đầu của bất kỳ ngân hàng nào.
Vậy thế nào là phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng?
càng tăng, dẫn đến mức độ tăng trưởng tín dụng cũng tăng lên tương ứng. Sự tăng
trưởng tín dụng của các NHTM phù hợp với sự tăng trưởng của nền kinh tế cả
nước nói chung và của kinh tế thành phố nói riêng. Tuy nhiên sự tăng trưởng tín
dụng cũng kéo theo sự gia tăng rủi ro tín dụng, điều này làm ảnh hưởng rất nhiều
đến hiệu quả sử dụng vốn và làm hạn chế việc mở rộng tín dụng của các NHTM.
Do đó việc phát triển tín dụng phải đi đôi với chất lượng tín dụng.
Vì vậy các giải pháp tốt trong quản lý rủi ro tín dụng là vấn đề quan tâm
hàng đầu của các ngân hàng nhằm tạo ra sự tăng trưởng tín dụng một cách ổn định,
bền vững.
1.2.2 Xây dựng chương trình quản trị rủi ro nh ằ m p h òn g ng ừ a và h ạ n c h ế r ủ i r o
tạ i ng â n h à ng th ư ơ ng mạ i
Hoạt động kinh doanh của các NHTM rủi ro là như thế và ta nhận thấy
một điều rằng ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh
chịu là hợp lý và kiểm soát được chứ không thể chối bỏ rủi ro. Như vậy, quản trị
rủi ro tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh
của NHTM. Những nhà quản trị NHTM cần được trang bị các kiến thức về quản
trị rủi ro, cung cấp những thông tin kinh tế cập nhật, có đội ngũ tham mưu
chuyên nghiệp và bộ máy kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội bộ hiệu quả là
điều cần thiết để phòng ngừa, hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Chính vì vậy mà đã có nhiều ý kiến khẳng định: “quản trị rủi ro là nghiệp vụ
chủ đạo và là thước đo năng lực “sống” hay là “chết” của một NHTM.
Một chương trình quản trị rủi ro toàn diện bao gồm 4 yếu tố: Xác định hạn mức
rủi ro (đưa ra mức rủi ro chấp nhận được), đánh giá rủi ro, theo dõi tổng thể rủi ro
và quá trình quản trị rủi ro.
17
Xác định hạn mức rủi ro
18
Thuyên chuyển nhân viên quá thường xuyên.
Tranh chấp trong quá trình quản lý.
Chi phí quản lý bất hợp pháp.
Quản lý có tính gia đình.
Dấu hiệu vấn đề kỹ thuật và thương mại:
Khó kh ăn tr on g phát triển sản phẩm mới, hoặc không có sản phẩm thay thế.
Những thay đổi chính sách của nhà nước.
Sản phẩm có tính thời vụ cao.
Có biểu hiện cắt giảm chi phí.
Thay đổi trên thị trường về lãi suất, tỷ giá, mất KH lớn, vấn đề thị hiếu.
Dấu hiệu về xử lý thông tin tài chính:
Sự gia tăng tỷ lệ không cân đối nợ.
Chuẩn bị số liệu tài chính không đủ, trì hoãn nộp báo cáo.
Khả năng tiền mặt giảm.
Phải thu tăng nhanh và thời hạn thanh toán nợ kéo dài.
Kết quả kinh doanh lỗ.
Cố tình làm đẹp Bảng cân đối tài sản bằng tài sản vô hình.
Dấu hiệu phi tài chính khác:
Có sự xuống cấp của cơ sở kinh doanh.
Hàng tồn kho tăng do không bán được, hư hỏng, lạc hậu.
Có sự kỷ luật với cán bộ chủ chốt.
Đo lường rủi ro: là điều mà tất cả những nhà quản lý ngân hàng rất quan tâm, vì
nếu đo lường được thì việc phòng ngừa trở nên dễ dàng hơn. Đo lường rủi ro trong
hoạt động ngân hàng được thể hiện trên 2 phương diện:
Một là, đo lường hay xác định số thiệt hại do rủi ro gây ra, phản ánh hậu quả rủi
ro được xác định khi rủi ro đã xảy ra. Số này có thể là số tuyệt đối, hoặc số tương
đối theo các tiêu thức khác nhau như giá trị thiệt hại, số lần bị rủi ro, tỷ lệ tài sản bị
kiến EL (Expected Loss) theo khả năng vỡ nợ PD (Probability of Default) với mức
độ tổn thất khi vỡ nợ LGD (Loss Given Default) theo công thức sau:
EL = Giá trị các khoản vay x PD x LGD
Theo dõi rủi ro: Là việc thực hiện đầy đủ các hệ thống, các thủ tục kiểm soát, nhờ
đó ban điều hành có thể theo dõi được mức rủi ro của từng lĩnh vực kinh doanh.
Kiểm soát rủi ro: Rủi ro được kiểm soát bằng việc thực hiện các thủ tục nằm trong
hệ thống KSNB trong các quy trình kinh doanh và hoạt động nhằm giảm thiểu rủi
ro. Chi phí cho các thủ tục kiểm soát cao có thể giảm thiểu rủi ro tối đa nhưng hiệu
quả lại thấp, ngược lại chi phí cho các thủ tục kiểm soát thấp có thể đem lại lợi
nhuận cao nhưng rủi ro cũng có thể cao. Ban điều hành phải tìm sự cân bằng tối ưu
giữa chi phí cho thủ tục kiểm soát và lợi ích đem lại từ các thủ tục đó, từ đó lựa
chọn các thủ tục kiểm soát rủi ro phù hợp.
20
1.2.3 Đánh giá việc tuân thủ các nguyên tắc giám sát ngân hàng theo tiêu
chuẩn Basel 2 của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Trong 25 nguyên tắc giám sát ngân hàng theo Basel 2 tác giả chỉ đề cập ở đây
những nguyên tắc trọng yếu nhất liên quan đến hoạt động tín dụng tại các ngân
hàng thươn g m ạ i . Mức độ đánh giá là tuân thủ, tuân thủ một phần hoặc chưa tuân thủ.
Nguyên tắc: An toàn vốn tối thiểu: tuân thủ một phần
Về phía các NHTM, việc công bố tỷ lệ an toàn vốn không bắt buộc, do vậy,
không có đầy đủ dữ liệu về tỷ lệ này. Trong số 24 báo cáo của các ngân hàng, chỉ
có Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (NHNo&PTNT) là
chưa đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn theo Quyết định 457. Năm ngân hàng đã đảm bảo
tỷ lệ an toàn vốn theo Quyết định 457 cần phải điều chỉnh để đảm bảo tỷ lệ này
theo Thông tư 13/TT-NHNN là NH TMCP Công thương Việt Nam (8,06%), NH
TMCP Ngoại thương Việt Nam (8,11%), NH TMCP Quốc tế (8,67%), NH TMCP
như mức độ cải thiện để có hướng quản trị cho phù hợp.
Nguyên tắc: Tài sản có rủi ro, dự phòng và dự trữ: tuân thủ một phần
Ngân hàng đã có Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng
để xử lý rủi ro trong Quyết định 493.
Trên báo cáo kết quả kinh doanh đều cho thấy các khoản mục dự phòng, tuy
nhiên, chỉ có các dự phòng chính. Việc các ngân hàng thực hiện đánh giá rủi ro và
xác định đầy đủ mức dự phòng như yêu cầu cần phải có thêm thời gian để các ngân
hàng nhận thức tầm quan trọng của quản trị rủi ro, bổ sung nhân sự, công nghệ cho
công tác này.
Nguyên tắc: Giới hạn mức cho vay: tuân thủ một phần
Điều 8, Thông tư 13/2010/TT-NHNN quy định về giới hạn cho vay, trong
đó có một số nội dung đáng lưu ý như: TCTD không được cấp tín dụng cho công ty
trực thuộc là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán; TCTD không được
cho vay không có bảo đảm để đầu tư, kinh doanh chứng khoán; tổng dư nợ cho vay
và chiết khấu giấy tờ có giá đối với tất cả khách hàng nhằm đầu tư, kinh doanh
chứng khoán không vượt quá 20% vốn điều lệ của TCTD. Các Quyết định
1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001, Quyết định 127/2005/QĐ-NHNN ngày
03/2/2005 về quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng, Quyết định
783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/5/2005 cũng đã quy định đầy đủ những giới hạn vay.
Thực tế triển khai các văn bản trên còn không ít lỗ hổng, ảnh hưởng trực
tiếp đến rủi ro tín dụng của hệ thống NHTM: Chính sách cho vay hiện nay chưa