z
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
H
Ồ NGUYỄN THỦY TI
ÊNGIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG
ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. H
ồ Chí Minh
-
Năm 2011
HỒ NGUYỄN THỦY TIÊN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, dưới
sự hướng dẫn khoa học của T.S. Trần Hoàng Ngân. Các số liệu và kết quả nêu trong
luận văn là hoàn toàn trung thực. Tác giả luận văn Hồ Nguyễn Thủy Tiên
1.1.5.3.Các tổ chức kinh doanh trên TTCK: 6
1.1.5.4.Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán 6
1.2.Các loại rủi ro trong đầu tư chứng khoán. 7
1.2.1.Khái niệm 7
1.2.2.Sự cần thiết hạn chế rủi ro trong đầu tư chứng khoán 7
1.2.3.Các loại rủi ro trong đầu tư chứng khoán 7
1.2.3.1.Rủi ro hệ thống 7
1.2.3.2.Rủi ro không hệ thống 9
1.3.Bài học kinh nghiệm. 10
CHƯƠNG 2 12
THỰC TRẠNG VÀ CÁC RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ TRÊN TTCKVN 12
2.1.Tổng quan về TTCK Việt Nam 12
2.1.1.Khái quát chung về TTCK Việt Nam 12
2.1.2. Thực trạng hoạt động của SGDCK TPHCM thời gian qua 27
2.1.2.1. Quy mô niêm yết 27
2.1.2.2.Giá trị vốn hóa thị trường 28
2.1.2.3.Quy mô giao dịch 30
2.1.2.4.Chỉ số giá chứng khoán 31
2.1.3. Thực trạng hoạt động của SGDCK Hà Nội thời gian qua 34
2.1.3.1.Quy mô niêm yết 35
2.1.3.2. Giá trị vốn hóa thị trường 36
2.1.3.3.Quy mô giao dịch 37
2.1.3.4. Chỉ số giá chứng khoán 38
2.1.4. Đánh giá TTCKVN sau 10 năm hoạt động 40
2.1.4.1. Những thành tựu 40
2.1.4.2. Những vấn đề còn tồn tại 42
2.2.Rủi ro trong đầu tư trên TTCKVN 44
2.2.1. Nguyên nhân rủi ro trong đầu tư trên TTCKVN 44
2.2.2. Các rủi ro trong đầu tư trên TTCKVN 45
2.2.2.1. Rủi ro hệ thống 45
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
CPI: Chỉ số giá tiêu dùng
CSTK: Chính sách tài khóa
CSTT: Chính sách tiền tệ
CTCK: Công ty chứng khoán
CTCP: Công ty cổ phần
DN: Doanh nghiệp
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
EPS: Thu nhập trên cổ phần
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
HĐQT: Hội đồng quản trị
HN-Index: Chỉ số giá cổ phiếu tại SGDCK Hà Nội
LSCK: Lãi suất chiết khấu
P/E: Chỉ số giá trên thu nhập
OTC: Thị trường chứng khoán phi tập trung
NĐT: Nhà đầu tư
NHNN: Ngân hàng nhà nước
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần
QLNN: Quản lý nhà nước
QTDN: Quản trị doanh nghiệp
SCIC: Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước
SGDCK: Sở giao dịch chứng khoán
SGDCKHN- HNX: Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
BIểU Đồ 2.1: SỐ LƯỢNG CỔ PHIẾU NIÊM YẾT TẠI SGDCK TPHCM QUA CÁC NĂM 28
BIểU Đồ 2.2: VN-INDEX QUA CÁC NĂM ( 2002-2011) 31
BIểU Đồ 2.3:DIỄN BIẾN CỦA VN-INDEX TRONG NĂM 2011 34
BIểU Đồ 2.4: SỐ LƯỢNG CỔ PHIẾU NIÊM YẾT TẠI SGDCKHN QUA CÁC NĂM 35
BIểU Đồ 2.5: HNX-INDEX QUA CÁC NĂM 2007-2011 38
BIểU Đồ 2.6: DIỄN BIẾN CỦA HNX-INDEX TRONG NĂM 2011 39
BIểU Đồ 2.7: CÁC LÃI SUẤT CỦA NHNN 52
BIểU Đồ 2.8: CÁC LÃI SUẤT CỦA NHNN 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2011 53
BIểU Đồ 2.9: LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM TỪ 2001 ĐẾN 2010 54
BIểU Đồ 2.10: DIỄN BIẾN CỦA VN-INDEX QUA 4 GIAI ĐOẠN LẠM PHÁT 54
BIểU Đồ 2.11: TỶ SỐ P/E,P/B CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI 58
5.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận văn nêu ra các nội dung về:
-Lý luận cơ bản và rủi ro trong đầu tư trên TTCK.
Giải pháp hạn chế rủi ro trong đầu tư trên TTCKVN hiện nay
Hồ Nguyễn Thủy Tiên Lớp Ngân Hàng Đêm 2-K17
2
-Tổng quan về tình hình TTCKVN, các rủi ro mà các nhà đầu tư gặp phải
trên TTCKVN.
-Một số giải pháp hạn chế rủi ro trong đầu tư chứng khoán trên TTCKVN.
6.Kết cấu luận văn :
Lời mở đầu
Chương 1: Cơ sở lí luận về TTCK và rủi ro trong đầu tư chứng khoán
Chương 2: Thực trạng và các rủi ro trong đầu tư trên TTCK Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp hạn chế rủi ro trong đầu tư trên TTCK Việt
Nam.
Kết luận
hình thức thương lượng với NĐT trực tiếp, qua hệ thống điện thoại,
hoặc qua hệ thống máy tính và chịu sự quản lý của UBCKNN và hiệp
hội chứng khoán.
Giải pháp hạn chế rủi ro trong đầu tư trên TTCKVN hiện nay
Hồ Nguyễn Thủy Tiên Lớp Ngân Hàng Đêm 2-K17
4
Căn cứ vào quá trình luân chuyển chứng khoán: TTCK bao gồm:
-Thị trường sơ cấp ( Primary markets): là thị trường mua bán
lần đầu những chứng khoán mới phát hành, kéo theo sự tăng thêm
quy mô vốn đầu tư, là thị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành.
-Thị trường thứ cấp ( secondary markets):là thị trường mua đi
bán lại các chứng khoán đã được phát hành qua thị trường sơ cấp.
Căn cứ theo đối tượng giao dịch: TTCK bao gồm:
-Thị trường cổ phiếu (Stock market): là thị trường mà đối
tượng giao dịch là các loại cổ phiếu của các CTCP và là bộ phận cơ
bản, giữ vị trí quan trọng nhất của hệ thống TTCK.
-Thị trường trái phiếu (Bond Market): còn gọi là thị trường nợ,
là nơi giao dịch các loại trái phiếu.
-Thị trường chứng chỉ quỹ đầu tư (Fund Certificate Market/
Fund Stock Market): là nơi giao dịch các loại chứng chỉ quỹ.
-Thị trường chứng khoán phái sinh (Derivatives Market): là
nơi giao dịch các loại chứng khoán phái sinh như quyền mua cổ phần,
chứng quyền, quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai,….
1.1.3.Vai trò của TTCK:
Được bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin, trong việc gánh chịu các hình
thức xử phạt nếu vi phạm quy định, nhằm đảm bảo lợi ích cho những ai tham gia thị
trường này.
1.1.4.3.Nguyên tắc công khai:
Công khai hoạt động của công ty niêm yết chứng khoán, tình hình giao dịch
trên thị trường, thông tin phải đủ, chính xác, kịp thời và bình đẳng.
1.1.4.4.Nguyên tắc trung gian:
Thông qua người môi giới và nhà buôn chứng khoán.
1.1.4.5.Nguyên tắc tập trung:
Các giao dịch chứng khoán chỉ diễn ra trên SGDCK và thị trường OTC, có
sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tự quản.
Giải pháp hạn chế rủi ro trong đầu tư trên TTCKVN hiện nay
Hồ Nguyễn Thủy Tiên Lớp Ngân Hàng Đêm 2-K17
6
1.1.5. Các chủ thể tham gia TTCK.
1.1.5.1.Nhà phát hành:
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK,là
người cung cấp các chứng khoán, bao gồm: Chính phủ và chính quyền địa phương,
các công ty, các tổ chức tài chính.
1.1.5.2.Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK, bao
gồm: các nhà đầu tư cá nhân và các nhà đầu tư tổ chức
1.1.5.3.Các tổ chức kinh doanh trên TTCK:
Bao gồm:
Công ty chứng khoán: là tổ chức với tư cách pháp nhân kinh doanh chứng
khoán, thực hiện một hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát
về tình hình hiện tại và triển vọng hoạt động của các doanh nghiệp dưới dạng hệ số
tín nhiệm.
1.2.Các loại rủi ro trong đầu tư chứng khoán.
1.2.1.Khái niệm
Rủi ro trong đầu tư chứng khoán được định nghĩa là sự dao động của lợi
nhuận. Dao động càng cao thì rủi ro càng cao và ngược lại.
1.2.2.Sự cần thiết hạn chế rủi ro trong đầu tư chứng khoán
Đầu tư chứng khoán là lĩnh vực kinh doanh với lợi nhuận cao đồng thời rủi
ro cũng rất lớn. Vì vậy, thật quan trọng khi phân tích, tìm hiểu rủi ro để hạn chế khả
năng thua lỗ và xây dựng chiến lược đầu tư an toàn.
1.2.3.Các loại rủi ro trong đầu tư chứng khoán
1.2.3.1.Rủi ro hệ thống.
Rủi ro hệ thống là những rủi ro do các yếu tố nằm ngoài công ty, không kiểm
soát được và có ảnh hưởng rộng rãi đến cả thị trường và tất cả mọi loại chứng
khoán.
Rủi ro hệ thống có thể chia nhỏ thành những loại rủi ro như sau:
1.2.3.1.1. Rủi ro thị trường
Những thay đổi trong mức sinh lời đối với phần lớn các loại cổ phiếu thường
chủ yếu là do sự hy vọng của các nhà đầu tư gọi là rủi ro thị trường.
Giải pháp hạn chế rủi ro trong đầu tư trên TTCKVN hiện nay
Hồ Nguyễn Thủy Tiên Lớp Ngân Hàng Đêm 2-K17
8
Rủi ro thị trường xuất hiện do có những phản ứng của các nhà đầu tư đối với
những sự kiện hữu hình về kinh tế, chính trị, xã hội hay các sự kiện vô hình do yếu
tố tâm lý của thị trường.
1.2.3.1.2. Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là khả năng biến động của lợi nhuận do những thay đổi của lãi
suất trên thị trường. Rủi ro lãi suất nói đến sự không ổn định trong giá trị thị trường
và số tiền thu nhập trong tương lai. Nguyên nhân cốt lõi của rủi ro lãi suất là sự lên
1.2.3.2.Rủi ro không hệ thống
Rủi ro không hệ thống là những rủi ro do các yếu tố nội tại gây ra như thị
hiếu tiêu dùng, đình công, năng lực quản trị, biến động về lực lượng lao động,…, có
thể kiểm soát được và chỉ tác động đến một ngành hay tới một công ty hoặc một số
chứng khoán. Rủi ro hệ không hệ thống bao gồm: rủi ro kinh doanh và rủi ro tài
chính.
1.2.3.2.1.Rủi ro kinh doanh
Rủi ro kinh doanh là do tình trạng hoạt động của công ty, khi có những thay
đổi trong tình trạng này công ty có thể sẽ bị sút giảm lợi nhuận và cổ tức. Mức độ
thay đổi so với xu hướng dự kiến được coi là rủi ro kinh doanh.
Rủi ro kinh doanh có thể được chia làm hai loại cơ bản: Bên ngoài và nội tại.
Rủi ro kinh doanh nội tại phát sinh trong quá trình vận hành hoạt động của công ty.
Trong phạm vi rộng hơn, rủi ro kinh doanh bên ngoài là những trường hợp xảy ra
nằm ngoài sự kiểm soát của công ty và làm ảnh hưởng đến tình trạng hoạt động của
công ty.
1.2.3.2.2.Rủi ro tài chính
Rủi ro tài chính liên quan đến việc công ty tài trợ cho hoạt động của mình.
Người ta thường tính toán rủi ro tài chính bằng việc xem xét cấu trúc vốn của một
công ty. Sự xuất hiện của các khoản nợ trong cấu trúc vốn sẽ tạo ra cho công ty
những nghĩa vụ trả lãi. Rủi ro tài chính là rủi ro có thể tránh được trong phạm vi mà
các nhà quản lý có toàn quyền quyết định vay hay không vay. Một công ty không
vay nợ chút nào sẽ không có rủi ro tài chính.
Bằng việc đi vay, công ty đã thay đổi dòng thu nhập đối với cổ phiếu
thường. Cụ thể là, việc sử dụng hệ số đòn bẩy tỷ lệ vay nợ có 3 hệ quả quan trọng
đối với những người nắm giữ cổ phiếu thường, đó là làm tăng mức biến động trong
Giải pháp hạn chế rủi ro trong đầu tư trên TTCKVN hiện nay
Hồ Nguyễn Thủy Tiên Lớp Ngân Hàng Đêm 2-K17
10
thu nhập của họ, ảnh hưởng đến dự kiến của họ về thu nhập, và làm tăng rủi ro của
Kết luận chương 1:
Chương 1 đã trình bày những kiến thức cơ bản về TTCK và các rủi ro trong
đầu tư trên TTCK; trình bày các khái niệm về TTCK, rủi ro chứng khoán, các phân
loại rủi ro trong đầu tư chứng khoán. Từ đó, để cho thấy việc hạn chế những rủi ro
trong đầu tư chứng khoán thực sự có một ý nghĩa rất quan trọng. Bên cạnh đó,
chương 1 cũng đã đưa ra những bài học kinh nghiệm thực tiễn đối với các NĐT,
giúp nhà đầu tư có thêm kinh nghiệm hạn chế rủi ro.
Tóm lại, trên đây là cơ sở lý luận về TTCK và rủi ro trong đầu tư chứng
khoán. Chương 2 sẽ trình bày về thực trạng và các rủi ro trong đầu tư trên
TTCKVN.
Giải pháp hạn chế rủi ro trong đầu tư trên TTCKVN hiện nay
Hồ Nguyễn Thủy Tiên Lớp Ngân Hàng Đêm 2-K17
12
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VÀ CÁC RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ TRÊN TTCKVN
2.1.Tổng quan về TTCK Việt Nam
2.1.1.Khái quát chung về TTCK Việt Nam
Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, năm 1992 các tổ nghiên cứu thuộc bộ tài
chính và NHNN Việt Nam đã triển khai nghiên cứu đề án hình thành và phát triển
thị trường vốn ở Việt Nam. Ngày 28/11/1996, Chính phủ ban hành Nghị định số
75/CP thành lập UBCKNN, là cơ quan thuộc Chính phủ quản lý các hoạt động về
chứng khoán và TTCK ở Việt Nam; chính thức đi vào hoạt động vào tháng 4/1997.
Ngày 11/7/1998, Nghị định số 48/1998/NĐ-CP của Chính phủ về chứng khoán và
TTCK và quyết định số 127/1998/QĐ-TTG của thủ tướng chính phủ về việc thành
lập hai TTGDCK ở Hà Nội và TPHCM được ban hành.
của TTCK Việt Nam đã tăng đột biến, tháng 12/2006 đạt 18,8 tỷ USD, chiếm
22,7% GDP. Đặc biệt, số lượng các NĐT mới tham gia thị trường ngày càng đông,
tính đến cuối tháng 12/2006, có trên 120.000 tài khoản giao dịch chứng khoán được
mở, trong đó gần 2.000 tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài. Giá trị cố phiếu do các
nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ đạt khoảng 4 tỉ USD, chiếm 16,4% mức vốn
hóa của toàn thị trường. Kỷ lục mới của chỉ số VN- Index được xác lập ở mốc
809,86 điểm, tăng 146% và HNX- Index là 260 điểm, tương ứng tăng 170% so với
đầu năm.
Năm 2007, TTCK Việt Nam thực sự bùng nổ. Luật chứng khoán có hiệu lực
từ ngày 01/01/2007 đã góp phần thúc đẩy thị trường phát triển và tăng cường khả
năng hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế. Tính công khai, minh bạch của các
tổ chức niêm yết được tăng cường. Nhìn chung diễn biến thị trường và giá cả chứng
khoán trong các phiên giao dịch có nhiều biến động, chỉ số của cả 3 sàn giao dịch
đều có biên độ dao động mạnh.
Trong 3 tháng đầu năm 2007, thị trường có những đợt sóng cao, trong đó chỉ
số VN–Index đã đạt mức đỉnh là 1.170,67 điểm và HNX- Index là 459,36 điểm. Thị
trường đã đạt mức tăng trưởng với tốc độ lớn nhất, tăng 126% chỉ trong vòng 3
Giải pháp hạn chế rủi ro trong đầu tư trên TTCKVN hiện nay
Hồ Nguyễn Thủy Tiên Lớp Ngân Hàng Đêm 2-K17
14
tháng. Nhờ sự tăng trưởng về giá của các cổ phiếu, tổng giá trị vốn hóa của thị
trường trong giai đoạn này lên đến con số 398.000 tỷ đồng, chiếm 4/5 tỷ trọng so
với tổng giá trị vốn hóa 492.900 tỷ đồng của cả năm 2007. Nhưng điều quan trọng
góp phần gia tăng giá trị vốn hóa của thị trường không phải do số lượng chứng
khoán niêm yết gia tăng mà do yếu tố giá cả cổ phiếu tăng mạnh.
Trong thời điểm này, giá đồng loạt các cổ phiếu blue-chip, penny, mới niêm
yết,… tăng trưởng mạnh mẽ và đạt mức tăng trưởng trên 50% giá trị so với mức giá
giao dịch đầu năm. Yếu tố quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng nóng trong thời
gian này đó là sức cầu trên thị trường tăng đột biến khiến giá trị giao dịch trung
đầu năm.
Thị trường bắt đầu phục hồi mạnh mẽ trong khoảng thời gian đầu tháng 9
đến cuối 10/2007. Giá các cổ phiếu trên sàn có xu hướng phục hồi nhanh chóng,
đặc biệt là các mã cổ phiếu blue-chip, tuy nhiên sức bật của các cổ phiếu không đủ
mạnh để đưa các cổ phiếu trở về mức giá đỉnh thiết lập vào tháng 3/2007. Trong
giai đoạn này, VN-Index đã có những phiên giao dịch vượt lên ngưỡng 1.100 điểm ,
đó là 1.106,6 điểm vào ngày 31/10/2007, còn HNX-Index cũng gần chạm trở lại
ngưỡng 400 điểm , đó là 393,59 điểm vào ngày 01/10/2007.
Đà tăng giá của các cổ phiếu trong giai đoạn này thể hiện rõ nét nhất ở nhóm
các cổ phiếu blue-chip tại SGDCK TPHCM và nhóm cổ phiếu Sông Đà tại
SGDCKHN. Lượng giao dịch bình quân phiên tại SGDCK TPHCM luôn ở trên
mức 10 triệu cổ phiếu và đạt kỷ lục 19,047 triệu cổ phiếu vào ngày 01/10/2008.
Còn SGDCKHN cũng đạt lượng giao dịch bằng ½ SGDCK TPHCM với trung bình
phiên có 5 triệu cổ phiếu được chuyển nhượng. Tuy nhiên sự phục hồi này không
duy trì lâu, và đã có dấu hiệu suy giảm chỉ sau 1 phiên tăng điểm. Chính điều này
đã dẫn tới việc các nhà đầu tư bị đọng vốn, trong khi nguồn cầu có xu hướng cạn
kiệt, thì nguồn cung vẫn tiếp tục gia tăng. Tương quan cung cầu mất cân bằng khiến
thị trường ngày càng xuống thấp cả về giá lẫn khối lượng giao dịch và giá trị giao
Giải pháp hạn chế rủi ro trong đầu tư trên TTCKVN hiện nay
Hồ Nguyễn Thủy Tiên Lớp Ngân Hàng Đêm 2-K17
16
dịch. VN-Index giảm xuống dưới ngưỡng 1000 điểm và xoay quanh mốc 900 điểm,
với lượng chứng khoán chuyển nhượng rất hạn chế.
Tính từ đầu năm 2007 đến ngày 28/12/2007 , SGDCK TPHCM đã thực hiện
được 248 phiên giao dịch với tổng khối lượng giao dịch đạt hơn 2,3 tỷ chứng khoán
tương đương với tổng giá trị giao dịch toàn thị trường đạt 224.000 tỷ đồng, gấp 2
lần khối lượng và 2,8 lần giá trị giao dịch so với năm 2006. Bình quân mỗi phiên
giao dịch có 9,2 triệu chứng khoán được chuyển nhượng tương đương với 980 tỷ
đồng. SGDCKHN đã thực hiện thành công 248 phiên giao dịch, với tổng khối
giữa tháng 4 đến đầu tháng 6/2008. Sau 103 phiên giao dịch, VN-Index giảm mất
550,52 điểm, tương đương 59,77%. Bình quân trong mỗi phiên, toàn thị trường có
8,02 triệu cổ phiếu và chứng chỉ quỹ được chuyển nhượng, tương đương khoảng
482 tỷ đồng. Trong đợt suy giảm này, nhóm cổ phiếu chịu tác động nhiều nhất là
nhóm cổ phiếu tài chính ngân hàng, công nghệ và công nghiệp, chủ yếu là các công
ty bất động sản. Như vậy, năm 2008, UBCKNN phải can thiệp vào thị trường bằng
các biện pháp mạnh tay nhất, đã 4 lần thay đổi biên độ dao động giá trên cả 2 sàn
chứng khoán. Nhằm hỗ trợ thêm cho sức cầu trên thị trường, ngăn đà suy giảm
mạnh của các chỉ số chứng khoán.
Từ 6/2008 đến 9/2008, thị trường đã phục hồi trong ngắn hạn. Nhờ vai trò
dẫn dắt của một số cổ phiếu blue-chip như STB, FPT, DPM… và đặc biệt là SSI
với sức cầu hỗ trợ từ đối tác nước ngoài, cả hai sàn chứng khoán đã có được những
phiên tăng điểm mạnh trong giai đoạn này. VN-Index và HNX-Index liên tiếp vượt
qua các ngưỡng cản tâm lý quan trọng và thường xuyên có được những chuỗi tăng
điểm kéo dài. Giai đoạn này, thị trường hoạt động sôi động. Sức cầu mạnh, kéo theo
khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch thường xuyên ở mức cao. VN-Index tăng
được 168,55 điểm, tương đương 45,52%, khối lượng giao dịch bình quân đạt 16,9
triệu cổ phiếu và chứng chỉ quỹ, tương đương 599,18 tỷ đồng/phiên.
Từ 9/2008 đến 12/2008, do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, VN-
Index trở lại xu hướng giảm, mất 223,48 điểm, tương đương 41,45%. Khối lượng