Luận Văn Tốt Nghiệp
Đề tài: " HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CÁC SIÊU THỊ TẠI TP.HCM
ĐẾN NĂM 2010"
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
I. Sự cần thiết của đề tài
II. Mục đích, đối tượng và nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu
III. Phương pháp nghiên cứu
IV. Bố cục luận văn
CHƯƠNG I: MỘT SỐ NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ PHÂN PHỐI VÀ TỔNG QUAN VỀ
SIÊU THỊ
1.1 Một số nhận thức cơ bản về phân phối sản phẩm 1
1.1.1 Khái niệm về Marketing 1
1.1.2 Thò trường và thò trường mục tiêu 2
1.1.2.1 Khái niệm về thò trường 2
1.1.2.2 Chức năng của thò trường 2
1.1.2.3 Phân khúc thò trường 2
1.1.2.4 Thò trường mục tiêu 3
1.1.3 Hệ thống phân phối hàng tiêu dùng 4
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 22
2.1.2 Giới thiệu về mô hình tổ chức các siêu thò tại Tp.HCM 24
2.2 Tình hình tổ chức hoạt động kinh doanh của các siêu thò tại Tp.HCM 24
2.2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy 24
2.2.2 Quy mô hoạt động 25
2.2.3 Hoạt động phân phối tại các siêu thò 26
2.2.3.1 Phương thức bán hàng 26
2.2.3.2 Khách hàng của siêu thò 27
2.2.3.3 Hàng hóa kinh doanh tại siêu thò 29
2.2.3.4 Hoạt động marketing của các siêu thò 30
2.2.3.5 Công tác tổ chức nguồn hàng 31
2.2.3.6 Nhân lực hoạt động tại các siêu thò 32
2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển và hoạt động kinh doanh của siêu thò
2.3.1 Các yếu tố môi trường vó mô 34
2.3.1.1 Môi trường chính trò và pháp luật 34
2.3.1.2 Môi trường kinh tế 34
2.3.1.3 Môi trường văn hóa – xã hội 36
2.3.1.4 Môi trường tự nhiên 38
a. Về dân số 38
b. Về cơ sở hạ tầng 38
2.3.1.5 Môi trường khoa học – kỹ thuật 39
2.3.2 Các yếu tố môi trường vi mô 39
2.3.2.1 Các đối thủ tiềm ẩn 40
2.3.2.2 Các nhà cung cấp 40
2.3.2.3 Khách hàng 40
2.3.2.4 Các sản phẩm dòch vụ thay thế 41
2.3.2.5 Cạnh tranh trong nội bộ ngành 43
2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của các siêu thò 43
Tóm tắt chương II 44
Trang 2
Tóm tắt chương III 62
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
CÁC PHỤ LỤC Trang 3
LỜI MỞ ĐẦU
I. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong suốt những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã dần khẳng đònh được khả
năng và tiềm lực lớn mạnh của mình bằng những thành tựu ấn tượng và tốc độ phát
triển vượt bậc thông qua các chỉ số kinh tế đã đạt được. Bên cạnh đó, xu hướng toàn
cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trở nên là xu hướng tất yếu trên thế giới và Việt
Nam cũng không thể nằm ngoài quy luật phát triển chung này. Sự hợp tác, hội nhập
đó được thể hiện qua việc Việt Nam đã ký kết Hiệp đònh thương mại Việt Mỹ, tham
gia vào tổ chức AFTA, ký kết Hiệp đònh thương mại Việt Nam – Châu u và nhất là
đã và đang từng bước đạt được những thỏa thuận trên đường tiến đến gia nhập tổ
chức WTO trong thời gian sắp tới.
Thể hiện rõ nhất của những thành tựu đã đạt được đó là cuộc sống của người
dân Việt Nam ngày càng được cải thiện về mọi mặt, nhu cầu tiêu dùng của người
dân cũng đã được nâng cao. Song song với sự thay đổi, phát triển đó, từ năm 1993
đến nay loại hình siêu thò đã ra đời ở Việt Nam và nhất là phát triển mạnh tại các
thành phố lớn như: Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng…
Sự phát triển của hệ thống siêu thò đã làm thay đổi phong cách mua sắm của
người dân, góp phần làm cho hoạt động thương mại thêm đa dạng, phong phú hơn và
nâng cao tính văn minh trong lónh vực thương mại.
Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu hoạt động kinh doanh của các
siêu thò tại Tp.HCM, nổi lên một số vấn đề còn tồn đọng như sau:
phát triển hoạt động kinh doanh của loại hình siêu thò tại Tp.HCM.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu, để đạt được những yêu cầu mà đề tài đặt ra, người
viết đã kết hợp các phương pháp thu thập, tổng hợp, thống kê, chọn lọc thông tin từ
các nguồn dữ liệu khác nhau như: báo, tạp chí, các tài liệu, phương tiện khác… đồng
thời cũng kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác như: nghiên cứu lòch sử, duy
vật biện chứng, tư duy logic… nhằm nghiên cứu, xem xét, đánh giá sự vật hiện tượng
trogn mối quan hệ tác động lẫn nhau một cách biện chứng và có hệ thống.
IV. BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài lời mở đầu, kết luận, luận văn có bố cục gồm 03 chương như sau:
- Chương I : Giới thiệu chung về siêu thò.
- Chương II : Tình hình hoạt động kinh doanh của các siêu thò
tại Tp.HCM trong thời gian qua.
- Chương III : Một số giải pháp đẩy mạnh phát triển hoạt động
kinh doanh của các siêu thò tại Tp.HCM đến năm 2010.
Mặc dù, người viết đã nỗ lực hoàn thành luận văn nhưng do thời gian và trình
độ còn hạn chế nên chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Kính
mong nhận được những góp ý chân thành của Quý Thầy Cô, các anh chò học viên để
người viết bổ sung, hoàn thiện luận văn được hoàn chỉnh hơn. Trang 5
CHƯƠNG I
MỘT SỐ NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ PHÂN PHỐI VÀ
TỔNG QUAN VỀ SIÊU THỊ
1.1 MỘT SỐ NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ PHÂN PHỐI SẢN PHẨM
1.1.1 Khái niệm về Marketing
Trang 6
1.1.2.2 Chức năng của thò trường
Thò trường có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế. Thò trường là tấm
gương soi giúp chúng ta nhận biết được quá trình phân phối hàng hóa. Các doanh
nghiệp không có khả năng làm thay đổi thò trường mà phải dựa trên việc nhận biết
nhu cầu xã hội và tận dụng các thế mạnh của doanh nghiệp để đề ra các chiến lược
phù hợp. Thò trường có các chức năng:
- Chức năng trung gian: thò trường là nơi gặp gỡ giữa nhà sản xuất và người
tiêu dùng. Nhà sản xuất thì muốn bán sản phẩm với giá cao nhất còn người tiêu dùng
thì muốn mua sản phẩm thỏa mãn nhu cầu và phù hợp với khả năng thanh toán.
- Chức năng thông tin: thò trường là nơi thể hiện đầy đủ các thông tin về
cung cầu của tất cả các loại hàng hóa, dòch vụ, giá cả, chất lượng, hệ thống phân
phối, các yếu tố mà cả nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng đều cần.
- Chức năng kích thích: nhờ vào hoạt động trao đổi hàng hóa, thò trường vừa
có khả năng kích thích sản xuất, vừa có khả năng kích thích tiêu dùng.
- Chức năng sàng lọc: thông qua cạnh tranh, thò trường sẽ loại bỏ những
hàng hóa, dòch vụ không đáp ứng được nhu cầu người tiêu dùng và cũng loại bỏ cả
những nhà sản xuất có năng lực kinh doanh kém, không theo kòp sự thay đổi của thò
trường.
1.1.2.3 Phân khúc thò trường
Người tiêu thụ trong thò trường đều mang tính không đồng nhất và có thể chia
thành nhiều nhóm khác nhau. Phân khúc thò trường sẽ giúp doanh nghiệp xác đònh rõ
được nhu cầu của khách hàng và khả năng đáp ứng của doanh nghiệp ở từng khu vực
thò trường nhất đònh.
Phân khúc thò trường là sự phân chia thò trường dựa vào sự phân loại nhu cầu
của từng nhóm khách hàng cụ thể. Chúng ta có các tiêu chuẩn phân khúc thò trường
như sau:
- Phân khúc theo khu vực đòa lý: là sự phân chia thò trường thành nhiều đơn
vò đòa lý như vùng, quốc gia, tỉnh… Sự phân chia này tạo sự thuận tiện cho việc khảo
không hấp dẫn thì những khúc thò trường khác vẫn có thể bù đắp được rủi ro cho
doanh nghiệp.
- Chuyên môn hóa sản phẩm: doanh nghiệp tập trung nguồn lực để sản xuất
ra một loại sản phẩm hay dòch vụ cung ứng cho khách hàng ở những phân khúc khác
nhau. Điều này đỏi hỏi sản phẩm phải phổ biến, đáp ứng được nhu cầu của nhiều
loại khách hàng và có sức cạnh tranh mạnh.
- Chuyên môn hóa thò trường: doanh nghiệp tập trung phục vụ nhiều nhu cầu
của một nhóm khách hàng cụ thể, với việc cung ứng nhiều loại sản phẩm khác nhau.
Điều này đỏi hỏi doanh nghiệp phải nắm vững các yếu tố ảnh hưởng đến quyết đònh
mua của nhóm khách hàng riêng biệt đó và doanh nghiệp có khả năng đa dạng hóa
sản phẩm.
- Phục vụ toàn bộ thò trường: phục vụ tất cả các nhóm khách hàng tất cả
những sản phẩm mà họ có thể cần đến. Điều này chỉ có thể thực hiện bởi những
công ty có quy mô lớn có khả năng bao quát toàn bộ thò trường.
Sau khi hoàn tất việc xác đònh thò trường mục tiêu thì vấn đề quan tâm tiếp
theo của doanh nghiệp đó là việc đònh vò sản phẩm của mình trên thò trường mục
tiêu, tức là xác đònh thái độ của khách hàng về sản phẩm của mình đối với các sản
phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh trên từng khúc thò trường. Nhiệm vụ của việc
đònh vò sản phẩm gồm ba bước:
- Xác đònh những điểm khác biệt về sản phẩm, dòch vụ, hình ảnh có thể tạo
ra được để phân biệt đối với đối thủ cạnh tranh.
Trang 8
- Doanh nghiệp phải có tiêu chuẩn của sản phẩm để lựa chọn những điểm
khác biệt quan trọng nhất đối với đối thủ cạnh tranh.
- Tạo ra được dấu hiệu mà khách hàng ở thò trường mục tiêu có thể nhận
dạng ra được, phân biệt được doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh
Thông qua việc phân khúc thò trường, xác đònh thò trường mục tiêu, đònh vò sản
phẩm doanh nghiệp sẽ có cơ sở để xây dựng mạng lưới phân phối cho phù hợp, lựa
chọn phương thức quản lý kênh có hiệu quả nhất. Thông qua đó xác đònh chiến lược
phân phối của doanh nghiệp.
- Kênh trực tiếp: sản phẩm và dòch vụ được chuyển trực tiếp từ nhà sản xuất
đến khách hàng cuối cùng mà không qua một trung gian nào cả.
- Kênh một cấp: là kênh có một người trung gian như một người bán lẻ làm
nhiệm vụ trung chuyển sản phẩm, dòch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng.
- Kênh hai cấp: theo cấu trúc này, nhà sản xuất bán hàng hóa cho nhà bán
sỉ, nhà bán sỉ bán lại cho nhà bán lẻ rồi người bán lẻ bán lại cho người tiêu dùng.
- Kênh ba cấp: có ba người trung gian, trong cấu trúc kênh này có thêm
người bán sỉ mua hàng từ nhà sản xuất rồi bán lại cho người bán sỉû nhỏ hơn, sau đó
người bán sỉ nhỏ hơn bán lại hàng hóa cho người tiêu dùng.
Sơ đồ 1: Các cấp của kênh phân phối
Kênh
Trực tiếp
Kênh
một cấp
Kênh hai
cấp
Kênh ba
cấp
Khách
hàng
Nhà sản
xuất
Các trung gian trong kênh phân phối
Trung gian trong kênh phân phối có hai loại:
- Loại thứ nhất: là các trung gian mua hàng hóa của người cung ứng và bán
lại hàng cho khách hàng, họ là người sở hữu hàng hóa, chòu trách nhiệm về chúng
trước mọi rủi ro, những người bán buôn và bán lẻ thuộc loại này.
o Nhà bán buôn: là người mua hàng của nhà sản xuất để bán cho nhà
g
ười
bán lẻ
Khách
hàng
Khách
hàng
Khách
hàng
Trang 10
- Loại thứ hai: là người không sở hữu hàng hóa chỉ làm nhiệm vụ bán hàng
hoặc đàm phán bán hàng, họ là các nhân viên bán hàng của nhà sản xuất, môi giới
hưởng hoa hồng hoặc là các cửa hàng giới thiệu sản phẩm trực thuộc nhà sản xuất
hoặc là các đại lý ký gởi.
o Đại lý ký gởi: có thể là đại lý bán buôn hoặc đại lý bán lẻ, thực hiện
chức năng phân phối đối với hàng hóa ký gởi. Các đại lý tồn tại được chính là để
thay thế cho lực lượng bán hàng bên ngoài của nhà cung ứng mà nhà cung ứng
không có điều kiện thành lập hoặc thành lập không có hiệu quả. Do tính chất không
sở hữu hàng hóa nên họ chòu sự kiểm soát chặt chẽ của nhà cung ứng.
o Cửa hàng giới thiệu sản phẩm, chi nhánh, văn phòng đại diện: đây là
các cơ sở phân phối sản phẩm được làm chủ và quản lý toàn diện hoạt động bởi
người sản xuất nhưng được tách riêng khỏi nơi sản xuất về mặt cơ sở vật chất và quản
lý hoạt động.
o Lực lượng bán hàng trực tiếp của nhà sản xuất: là những nhân viên trực
thuộc nhà sản xuất làm nhiệm vụ bán hàng trực tiếp đến người tiêu dùng cuối cùng
hoặc các nhà bán lẻ.
c. Tổ chức và quản trò kênh phân phối
Tổ chức kênh phân phối
Hai vấn đề cơ bản của công tác tổ chức ở bất kỳ lónh vực nào chính là việc
của công ty cho tất cả khách hàng trong khu vực đòa lý đã quy đònh. Việc tổ chức bán
hàng theo từng vùng lãnh thổ triệt tiêu hoàn toàn khả năng hai hay nhiều đại diện
bán hàng của cùng công ty đến tiếp xúc chào bán cho cùng một khách hàng.
o Cơ cấu tổ chức theo sản phẩm: cơ cấu này phân chia theo tính chất sản
phẩm. Đại diện bán hàng giờ đây trở thành chuyên giá về một sản phẩm nào đó
hoặc một số những sản phẩm tương đối giống nhau. Cơ cấu tổ chức này đặc biệt phù
hợp khi sản phẩm bán ra đòi hỏi mức độ chuyên môn hóa, trình độ kỹ thuật, hiểu
biết rất cao về sản phẩm của đại diện bán hàng.
o Cơ cấu tổ chức theo khách hàng: dựa trên những đặc điểm của khách
hàng như quy mô khách hàng, hành vi mua sắm và việc sử dụng sản phẩm mà xây
dựng cơ cấu tổ chức kênh phân phối theo khách hàng.
o Cơ cấu tổ chức hỗn hợp: những doanh nghiệp nào chuyên môn hóa lực
lượng bán hàng của mình theo hướng sản phẩm hoặc hướng đặc thù của khách hàng
thường có cơ cấu tổ chức lực lượng bán hàng theo lãnh thổ đòa lý. Về cơ bản một cơ
cấu tổ chức hỗn hợp là nỗ lực nhằm tận dụng cả hướng chuyên môn hóa theo khách
hàng hoặc theo sản phẩm một cách hiệu quả, tận dụng những lợi điểm về quản lý
của loại cơ cấu tổ chức theo lãnh thổ đòa lý. Quản trò kênh phân phối
Lực lượn
g
bán hàng
của công ty
Trực tiếp Gián tiếp Hỗn hợp
Côn
g
ty Côn
g
Trang 12
Quản trò kênh phân phối là việc điều hành các kênh đang hoạt động nhằm
đảm bảo sự hợp tác tối đa giữa các thành viên để thực hiện tốt nhất các mục tiêu
phân phối của doanh nghiệp. Công tác quản trò kênh phân phối có các vấn đề chủ
yếu sau đây:
- Lựa chọn các thành viên của kênh:
o Việc lựa chọn các thành viên kênh là điều thường xảy ra đối với một
doanh nghiệp. Việc này không chỉ cần thiết khi thay đổi cấu trúc kênh, mà vẫn diễn
ra khi doanh nghiệp vẫn giữ nguyên cấu trúc kênh nhưng muốn mở rộng thò trường
hoặc thay thế những thành viên đã rời khỏi kênh. Tùy vào tính chất hoạt động của
từng ngành mà các doanh nghiệp sẽ xây dựng tiêu chuẩn riêng để lựa chọn kênh
phân phối.
- Động viên các thành viên của kênh:
o Sau khi đã lựa chọn được các thành viên của kênh thì việc khuyến
khích động viên các thành viên kênh có vai trò hết sức quan trọng để thúc đẩy kênh
hoạt động tốt. Để việc kích thích đạt hiệu quả cao nhất phải xuất phát từ việc hiểu
được nhu cầu và mong muốn của các thành viên trong kênh phân phối. Việc hiểu
được những khó khăn mà trung gian gặp phải trong quá trình phân phối hàng hóa sẽ
giúp doanh nghiệp điều chỉnh chính sách hỗ trợ cho các trung gian.
o Trong quan hệ với các trung gian, các doanh nghiệp khác nhau rất
nhiều về cách thức quản lý những nhà trung gian.
- Doanh nghiệp có thể sử dụng những quyền lực khác nhau để đạt được sự
hợp tác, có 5 sức mạnh cơ bản để đạt được trong quản lý kênh phân phối:
o Sức mạnh cưỡng chế.
o Sức mạnh khen thưởng.
o Sức mạnh pháp lý.
o Sức mạnh tinh thông nghiệp vụ.
o Sức mạnh uy tín.
- Doanh nghiệp có thể cố gắng đạt được mối quan hệ với trung gian dựa trên
cơ sở hợp tác, cộng tác hay xây dựng kế hoạch phân phối:
o Ngoài việc xây dựng một kênh phân phối và vận hành nó tốt, doanh
nghiệp còn phải đònh kỳ sửa đổi hệ thống cho phù hợp với những điều kiện mới trên
thò trường. Việc điều chỉnh trở nên cần thiết khi cách thức mua hàng của người tiêu
dùng thay đổi, thò trường mở rộng, sự cạnh tranh xuất hiện và những kênh phân phối
mới xuất hiện.
1.1.3.3 Các loại hình bán lẻ hàng tiêu dùng
a. Khái niệm chung về bán lẻ
Bán lẻ là hoạt động bán các sản phẩm hoàn chỉnh và dòch vụ cho người tiêu
thụ để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng cá nhân hay hộ gia đình. Như vậy, bán lẻ bao
gồm tất cả các hoạt động liên quan đến việc bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu
dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân, không kinh doanh.
Những người bán lẻ là các cá nhân hay tổ chức làm công việc bán lẻ, bất kể
họ bán hàng hóa theo cách nào (bán trực tiếp, bán qua bưu điện, bán qua điện thoại,
bán qua mạng internet…)
b. Phân loại các loại hình bán lẻ
Công việc bán lẻ rấtđa dạng, các nhà bán lẻ có thể tổ chức bán lẻ hàng hóa
dòch vụ theo nhiều cách thức khác nhau.
Người ta có thể phân loại các loại hình bán lẻ theo nhiều tiêu thức khác nhau
như: Theo quy mô, theo mặt hàng kinh doanh… Phổ biến nhất là người ta phân biệt
các loại hình bán lẻ theo cách thức tổ chức bán hàng và hàng hóa kinh doanh. Theo
cách phân biệt này, bán lẻ gồm các loại hình chính như sau:
Trang 14
- Bán lẻ tại cửa hàng: Người bán lẻ tổ chức bán hàng tại một đòa điểm cố
đònh, ví dụ bán hàng ở tiệm tạp hóa, bán hàng ở siêu thò, ở các quầy hàng tại cửa
hàng bách hóa, bán hàng ăn uống tại nhà hàng…
- Bán lẻ không qua cửa hàng: Người bán lẻ không cần thành lập cửa hàng
mà có thể bán hàng tận nhà, bán hàng qua bưu điện, bán hàng qua mạng…
- Bán lẻ dòch vụ: cho thuê phòng, giặt ủi…
Trong các loại hình bán lẻ trên, loại hình bán lẻ qua cửa hàng là kiểu bán lẻ
đại lý hoạt động độc lập hưởng thù lao trên mức hoa hồng nhất đònh trên doanh số
bán và có thể ký hợp đồng bán hàng nhân danh người sản xuất hoặc người bán.
- Cửa hàng đặc quyền kinh tiêu: Là cửa hàng của một tổ chức hoặc một cá
nhân được hưởng quyền độc lập bán một sản phẩm hay cung cấp một loại dòch vụ
Trang 15
dưới nhãn hiệu của người trao đặc quyền theo những đặc điểm kỹ thuật của họ và sự
hỗ trợ về mặt tiếp thò, tổ chức quản lý, đào tạo nhân lực. Người hưởng đăïc quyền
kinh tiêu (chủ cửa hàng) phải trả cho người trao đặc quyền một khoản tiền như tiền
mua bản quyền cho việc sử dụng thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm một khoản hoa
hồng tính bằng phần trăm doanh thu trả trong từng thời kỳ.
- Cửa hàng chuyên biệt (chuyên doanh): Là một loại cửa hàng chuyên môn
hóa về hàng hóa hay dòch vụ phục vụ khách hàng. Các cửa hàng chuyên doanh có
thể chuyên môn hóa nông hoặc sâu tùy theo tính chất đa dạng phức tạp của hàng
hóa kinh doanh. Có cửa hàng chuyên doanh chỉ bán một mặt hàng như: nữ trang,
giày dép, quần áo, điện máy. Có cửa hàng lại chuyên doanh theo nhóm hàng như:
phụ nữ, nam giới, trẻ em…
- Cửa hàng giảm giá: Cửa hàng này chuyên bán lẻ nhiều mặt hàng với giá
thấp hơn giá bán lẻ do nhà sản xuất đề nghò nhằm mục tiêu đáp ứng nhu cầu tiết
kiệm của khách hàng và tất nhiên hàng hóa được bán trong các cửa hàng này cũng
có chất lượng tương ứng hoặc hàng hóa bò lỗi sản xuất hoặc các mặt hàng thanh lý…
- Cửa hàng đại hạ giá: Cửa hàng này bán hàng hóa thông thường với mức
giá thấp hơn từ 20% đến 60% so với giá bán lẻ thông thường. Các hàng hóa được
bán đại hạ giá thường là hàng phế phẩm, thứ phẩm, hàng tồn kho hoặc hàng đã qua
sử dụng.
- Cửa hàng kho: Đây là loại cửa hàng vừa có tính chất của một kho hàng,
vừa có tính chất của một cửa hàng. Các cửa hàng kho thường không bày hàng hóa,
không quảng cáo và tận dụng tối đa diện tích để chứa hàng nên thường tiết kiệm
được chi phí do đó có thể giảm giá tới 10% so với các cửa hàng bán lẻ khác.
- Chợ: là một nơi tập trung thường xuyên (hàng ngày hay đònh kỳ) nhiều
người bán lẻ và người mua để tiến hành trao đổi mua bán đủ loại hàng hóa. Chợ
dân được nâng cao rõ rệt, trong bối cảnh đó, siêu thò ra đời và phát triển là tất yếu.
Siêu thò đầu tiên ra đời ở Việt Nam là siêu thò có thương hiệu MINIMART của Vũng
Tàu – Sinhanco, khai trương tháng 10 năm 1993 tại trung tâm quận 1 Tp.HCM.
Trong những năm sau (tính từ năm 1994) các siêu thò với đủ loại quy mô từ vài
ngàn đến vài chục ngàn m
2
diện tích, thuộc mọi hình thức sở hữu khác nhau đã lần
lượt xuất hiện.
Đi tiên phong trong phong việc phát triển loại hình kinh doanh siêu thò ở
thành phố Hồ Chí Minh có Công ty An Phong, Công ty Đông Hưng, Saigon – Coop,
Công ty đầu tư Miền Đông. Các đơn vò trên đã nổi danh trong lónh vực kinh doanh
siêu thò với các thương hiệu: Maximark (Công ty An Phong), Citymark (Công ty Đông
Hưng), Coopmart (Saigon-Coop), siêu thò Miền Đông (Công ty đầu tư Miền Đông) …
Ở Hà Nội, siêu thò đầu tiên được mở cửa vào năm 1995 với thương hiệu
Maximark (của Công ty An Phong – Tp.HCM). Từ năm 1996 đến nay, ở Hà Nội các
siêu thò được mở ra ngày càng nhiều với đủ loại quy mô, thương hiệu khác nhau. Theo
con số thống kê của Sở Thương mại Hà Nội, đến nay trên đòa bàn Hà Nội có hơn 40
siêu thò. Các siêu thò có tiếng ở Hà Nội là: siêu thò Sao, siêu thò FIVIMART,
CITIMART, siêu thò Cát Linh, siêu thò Thiên Niên Kỷ.
Người dân ở hai thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội cũng đã
quen dần với việc đi mua sắm ở siêu thò và doanh thu bán hàng ở của các siêu thò tại
hai thành phố này cũng đã đạt ở mức khả quan trong tổng hàng hóa bán lẻ.
Trên phạm vi cả nước, người dân ở các tỉnh, thành phố lớn như Hải Phòng,
Vinh, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang, Vũng Tàu cũng đã biết đến loại hình kinh doanh
siêu thò và trong tương lai, chúng ta tin rằng mạng lưới siêu thò sẽ được phát triển ở
khắp mọi nơi. Tuy mới xuất hiện ở nước ta từ năm 1993, nhưng tốc độ phát triển của
siêu thò ở Việt Nam là tương đối nhanh và có thể nói siêu thò ở Việt Nam mới ở bước
đầu của thời kỳ phát triển, tiềm năm phát triển siêu thò còn rất lớn. Vì vậy, việc đẩy
mạnh phát triển hoạt động siêu thò trở nên là vấn đề rất cần thiết.
a. Phân loại siêu thò theo quy mô
Thông dụng trên thế giới hiện nay, dựa vào quy mô người ta phân chia siêu thò
thành 03 loại siêu thò: siêu thò nhỏ, siêu thò và đại siêu thò.
- Siêu thò nhỏ: Theo cách phân loại của Pháp những siêu thò có diện tích
dưới 400 m
2
được gọi là siêu thò nhỏ. Do quy mô nhỏ nên các siêu thò nhỏ thường là
những siêu thò chuyên bán một loại hàng hóa như: đồ chơi trẻ em, dụng cụ thể thao,
quần áo, giày dép…
- Siêu thò: Về diện tích các siêu thò ở Pháp thường có diện tích từ 400 m2
đến 2.500 m2, trong khi đó các siêu thò ở Mỹ thường có diện tích trung bình là 1.250
m2. Hàng hóa trưng bày trong các siêu thò thường là các loại hàng hóa phục vụ các
Trang 18
nhu cầu tiêu dùng hàng ngày. Danh mục hàng hóa kinh doanh của các siêu thò
thường từ vài ngàn đến trên vài chục ngàn sản phẩm khác nhau. Vì phục vụ nhu cầu
tiêu dùng thông thường nên siêu thò thường được đặt ở các khu dân cư, giao thông
thuận tiện.
- Đại siêu thò: là đơn vò thương mại bán lẻ có quy mô lớn với diện tích vài
chục ngàn m
2
. Đại siêu thò thường thuộc sở hữu của một tập đoàn thương mại, được
tổ chức như một khu tổ hợp bán lẻ đủ mọi hàng hóa, dòch vụ. Danh mục hàng hóa
bày bán tại các siêu thò có thể lên 50.000 sản phẩm. Đại siêu thò cần diện tích mặt
bằng lớn nên đòa điểm đặt đại siêu thò thường được chọn ở khu ngoại vi các thành
phố lớn, nơi giá thuê rẻ hơn ở nội thành.
b. Phân loại siêu thò theo chiến lược và chính sách kinh doanh
Theo chiến lược và chính sách kinh doanh, người ta thường phân loại siêu thò
thành các dạng như sau:
- Siêu thò chuyên doanh: Là siêu thò chỉ chuyên bán một loại hàng hóa nhất
đònh. Tập hợp hàng hóa ở siêu thò chuyên doanh hẹp nhưng sâu, có khả năng thỏa
điện, điện thoại.
Siêu thò loại 2
- Có diện tích kinh doanh từ 2.000 m2 trở lên
- Danh mục hàng hóa kinh doanh từ 10.000 tên hàng trở lên
- Công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có tính thẩm mỹ cao, có
thiết kế và trang thiết bò kỹ thuật hiện đại, đảm bảo các yêu cầu phòng cháy chữa
cháy, vệ sinh môi trường, an toàn và thuận tiện cho mọi đối tượng khách hàng; có bố
trí nơi trông giữ xe và khu vệ sinh cho khách hàng phù hợp với quy mô kinh doanh
của siêu thò.
- Có kho và các thiết bò bảo quản, sơ chế, đóng gói, bán hàng, thanh toán và
quản lý kinh doanh hiện đại.
- Tổ chức, bố trí hàng hóa theo ngành hàng, nhóm hàng một cách văn minh,
khoa học để phục vụ khách hàng lựa chọn, mua sắm, thanh toán thuận tiện nhanh
chóng; có nơi bảo quản hành lý cá nhân; có các dòch vụ ăn uống, giải trí phục vụ
người khuyết tật, phục vụ trẻ em; giao hàng tận nhà, bán hàng qua bưu điện, điện
thoại.
Siêu thò loại 3
- Có diện tích kinh doanh từ 500 m2 trở lên
- Danh mục hàng hóa kinh doanh từ 4.000 tên hàng trở lên
- Công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có thiết kế và trang thiết bò
kỹ thuật đảm bảo các yêu cầu phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an toàn và
thuận tiện cho mọi đối tượng khách hàng; có bố trí nơi trông giữ xe và khu vệ sinh
cho khách hàng phù hợp với quy mô kinh doanh của siêu thò.
- Có kho và các thiết bò bảo quản, sơ chế, đóng gói, bán hàng, thanh toán và
quản lý kinh doanh hiện đại.
- Tổ chức, bố trí hàng hóa theo ngành hàng, nhóm hàng một cách văn minh,
khoa học để phục vụ khách hàng lựa chọn, mua sắm, thanh toán thuận tiện nhanh
chóng; có nơi bảo quản hành lý cá nhân; có các dòch vụ phục vụ người khuyết tật,
giao hàng tận nhà.
Người
bán sỉ
Người
bán sỉ
Môi giới
N
G
Ư
Ờ
I
B
Á
N
L
Ẻ
Tiệm bán lẻ
HTX bán lẻ
HTX tiêu thụ
CH chuyên doanh
CH tiện dụng
Siêu thò
CH bách hóa tổng hợp
CH đại lý bán lẻ
CH đặc quyền kinh tiêu
Trang 21
Sự góp mặt của siêu thò trong hệ thống bán lẻ hàng tiêu dùng làm tăng mức độ
cạnh tranh trong lónh vực bán lẻ. Với cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối hiện đại, với
phương thức tự phục vụ tiến bộ văn minh, sự có mặt của siêu thò có tác dụng thúc
đẩy sự cạnh tranh giữ các loại hình bán lẻ với nhau, buộc các loại hình bán lẻ khác
khác phải nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng.
1.4 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA SIÊU THỊ THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.4.1 Lòch sử phát triển của siêu thò thế giới
Để thấy rõ hơn về lòch sử phát triển của siêu thò, chúng ta sẽ tham khảo một số
vấn đề về lý thuyết của các nhà kinh tế học về sự ra đời và phát triển của các loại
cửa hàng bán lẻ nói chung.
1.4.1.1 Lý thuyết của cửa hàng bán lẻ
Trong các lý thuyết kinh tế, hai lý thuyết tiêu biểu cho loại hình kinh doanh
siêu thò là lý thuyết “Bánh xe bán lẻ” và lý thuyết “Vòng đời cửa hàng”
a. Lý thuyết “Bánh xe bán lẻ”
Theo lý thuyết “Bánh xe bán lẻ” thì mỗi loại cửa hàng bán lẻ mới xuất hiện sẽ
áp dụng mức giá cạnh tranh với những cửa hàng truyền thống và chấp nhận mức lợi
nhuận thấp hơn.
Cửa hàng mới tăng khối lượng hàng hóa bán ra bằng phương thức bán hàng
mới để thu hút khách. Thành công của cửa hàng mới sẽ thu hút đối thủ cạnh tranh
mới. Để tồn tại, các cửa hàng phải tăng đầu tư, tăng vốn lưu động để đa dạng hóa
mặt hàng kinh doanh do đó chi phí tăng và giá tăng. Sau đó lại có cửa hàng mới ra
đời với chi phí và giá thay thế cho cửa hàng trước đó. Đến lượt các cửa hàng mới này
lại phải tăng đầu tư để cạnh tranh và thu hút khách … “Bánh xe bán lẻ” cứ tiếp tục
vận hành và lại xuất hiện các loại cửa hàng mới ưu việt hơn.
Lý thuyết “Bánh xe bán lẻ” có thể không đúng với mọi trường hợp, tuy nhiên
nó cũng là cơ sở để giải thích cho sự ra đời và thay thế lẫn nhau của các loại cửa
hàng bán lẻ.
b. Lý thuyết “Vòng đời cửa hàng”
Supermarché chính thức xuất hiện ở Pháp vào năm 1957 khi một cửa hàng tự phục
vụ ở vùng Reuil Malmanson dùng mác siêu thò – Supermarché làm thương hiệu cho
mình.
Ở Mỹ, cửa hàng đầu tiên mang dáng dấp của một siêu thò là cửa hàng thực
phẩm của Clarence Saunders khai trương năm 1916 ở ban Tennesess. Tuy nhiên,
người khai trương siêu thò thực sự lại là Micheal Cullen bởi vì chính ông là người đầu
tiên dùng thuật ngữ Supermarket để đặt tên cho cửa hàng “KING CULLEN” nằm ở
khu vực Queens thuộc thành phố New York (năm 1930). Micheal Cullen đã phác họa
mô hình chung cho một Supermarrket là: HÀNG THỰC PHẨM VÀ ĐỒ GIA DỤNG +
TỰ PHỤC VỤ + GIÁ RẺ , CHI PHÍ THẤP + BÃI GIỮ XE MIỄN PHÍ. Bắt đầu từ đột
phá này, siêu thò dần dần phát triển ra khắp nước Mỹ.
Trong những năm 40 và 50 vừa qua các siêu thò đã trở thành kênh phân phối
thực phẩm chính ở Mỹ. Đến giai đoạn sau (những năm 60, 70), hệ thống siêu thò đã
trở thành hệ thống bán lẻ chính thống ở nước này. Vào cuối thập niên 80, ở Mỹ đã
có khoảng 30.000 siêu thò chiếm 20% tổng số cửa hàng bán lẻ thực phẩm với tổng
doanh thu hàng năm đạt 200 tỷ USD, chiếm 75% tổng doanh thu bán hàng thực
phẩm.
Ở Pháp hệ thống siêu thò phát triển rộng khắp trong thập niên 60, 70. Tính
đến tháng 9 năm 1998, ở Pháp có 8.552 siêu thò với tổng doanh thu khoảng 300 tỷ
France, chiếm tỷ trọng 35% doanh thu bán hàng thực phẩm và chiếm 19% so tổng
mức bán lẻ.
Trang 23
Ở Châu Âu nói chung, siêu thò cũng phát triển với tốc độ gần tương tự ở Pháp.
Sự xuất hiện của siêu thò ở các quốc gia song hành với sự phát triển kinh tế. Bởi vì sự
xuất hiện của siêu thò phù hợp với lòng mong muốn của các nhà sản xuất để đẩy
mạnh tiêu thụ sản phẩm với tốc độ nhanh chóng bằng cách bán hàng đại trà. Sự xuất
hiện của siêu thò phù hợp với nếp sống công nghiệp, và có tác dụng nâng cao văn
minh tiến bộ trong lónh vực thương mại.
Ở Châu Á và các khu vực còn lại của thế giới, do sự phát triển kinh tế chậm
hơn, nên siêu thò cũng xuất hiện muộn hơn. Kinh tế các nước châu Á khởi sắc vào