Luận văn: Luận văn Bien pháp quản lý dạy học nhằm nâng cao kết quả học thực hành nghề tại Trường Trung cấp nghê Tuyên Quang - Pdf 15



Luận văn
Bien pháp quản lý dạy học
nhằm nâng cao kết quả học
thực hành nghề tại Trường
Trung cấp nghê Tuyên Quang

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lĩnh vực đào tạo nghề ở nước ta đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt coi
trọng, nhất là trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn đẩy nhanh Công nghiệp hoá - Hiện
đại hoá (CNH - HĐH) đất nước. Sự nghiệp CNH - HĐH đòi hỏi một lực lượng lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, tiếp cận được với khoa học công nghệ
hiện đại. Chiến lược Giáo dục - đào tạo của Đảng và Nhà nước được đề ra theo
hướng mở rộng qui mô, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, tạo điều kiện thuận lợi
đáp ứng thiết thực cho hoạt động dạy nghề và học nghề của nhân dân.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII
xác định: Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng
đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Đồng thời nghị
quyết Trung ương 2 khoá VIII đã phân tích sâu sắc việc xác định những quan điểm,
định hướng, đề ra các mục tiêu và các giải pháp chiến lược nhằm phát triển công tác
đào tạo nghề trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010 đã cụ thể hoá mục tiêu
phát triển đối với dạy nghề trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH là: Đặc biệt quan

nghề quan tâm đầu tư nhưng vẫn chưa đồng bộ về kỹ thuật, thiếu về số lượng chưa
phải là công nghệ hiện đại tiên tiến. Điều kiện để đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật
lành nghề của Nhà trường còn nhiều bất cập cần phải được từng bước củng cố.
Kết quả khảo sát của các cơ quan nghiên cứu đã khẳng định: Chất lượng thực
hành nghề của người tốt nghiệp ở các trường nghề còn hạn chế. Trong bối cảnh Việt
Nam đã gia nhập WTO, các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm nhiều đến việc nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực có trình độ tay nghề cao và đây là yêu cầu đặt ra hết
sức cấp bách.
Có nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng đào tạo, một trong những biện pháp
quan trọng đó là nâng cao chất lượng dạy thực hành trong các trường dạy nghề. Với
những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: "Biện pháp quản lý dạy học nhằm nâng cao
kết quả học thực hành nghề tại Trường Trung cấp nghề Tuyên Quang". Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản lý dạy học thực hành
nghề, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại Trường Trung cấp nghề Tuyên
Quang.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Vấn đề tổ chức dạy học thực hành nghề tại trường Trung cấp nghề Tuyên
Quang.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động quản lý dạy học thực hành tại Trường Trung cấp nghề Tuyên
Quang.
4. Giả thuyết khoa học
Trong công tác đao tạo nghề, chất lượng tay nghề của người tốt nghiệp phụ

đào tạo).
7.2. Giới hạn khách thể điều tra
Hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng; các trưởng, phó phòng, khoa tổ chuyên
môn và một số cán bộ giáo viên nhà trường; học sinh của trường.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung
gồm 3 chương. Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu; Chương II: Thực
trạng công tác quản lý dạy học tại Trường Trung cấp nghề Tuyên Quang; Chương
III: Biện pháp quản lý dạy học nhằm nâng cao kết quả học thực hành nghề tại
Trường Trung cấp nghề Tuyên Quang.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Quản lý
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Từ khi xã hội loài người xuất hiện, con người đã có nhu cầu lao động tập thể
hình thành nên cộng đồng và xã hội, trong lao động có sự phân công, hợp tác lao
động. Chính sự phân công, hợp tác lao động này nhằm đạt hiệu quả nhiều hơn, năng
suất cao hơn trong công việc. Điều này đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều
hành, kiểm tra tức là phải có người đứng đầu. Hoạt động quản lý được nảy sinh từ
nhu cầu đó. C.Mác viết: “Bất kỳ lao động nào có tính xã hội chung và trực tiếp,
được thực hiện với quy mô tương đối lớn đều ít nhiều cần đến sự quản lý Một
nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc

có định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động
đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc
trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [14; 17]
- Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý)
nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [22; 24]
Các định nghĩa trên tuy nhấn mạnh mặt này hay mặt khác nhưng điểm chung
thống nhất đều coi quản lý là hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục
tiêu xác định. Trong quản lý bao giờ cũng có chủ thể quản lý, khách thể quản lý
quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý.
Nói một cách tổng quát nhất, có thể xem quản lý là: Một quá trình tác động
gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu
chung.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
1.1.2. Chức năng của hoạt động quản lý
Từ khái niệm trên, để chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm
thực hiện một mục tiêu nhất định trên cơ sở thực hiện các chức năng quản lý, đó là:
lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra.
Lập kế hoạch: Là chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng quản lý
nhằm xác định rõ mục đích, mục tiêu đối với thành tựu tương lai của tổ chức và
những quy định, biện pháp, cách thức để đưa tổ chức đạt được những mục tiêu đó.
Nói cách khác, lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu, hệ thống các hoạt
động và các điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó.
Tổ chức: Là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành

1.1.3. í ngha ca hot ng qun lý
- L s tớnh toỏn hp lý, khoa hc khi s dng cỏc ngun lc, cỏc bin phỏp,
m bo cho hot ng ca b mỏy n khp, nhp nhng giỳp cho vic nõng cao
nng sut lao ng t c mc tiờu chung ca t chc.
- m bo s trt t k cng ca b mỏy thụng qua vic a ra nhng quy
nh cú tớnh phỏp lý nh: Lut, quy ch, ni quy
- L nhõn t ca s phỏt trin: Nu qun lý tt da trờn nhng cn c v
cụng c vng chc s cú s thỳc y s phỏt trin ca t chc.
-Theo nghiờn cu ca cỏc nh khoa hc, nhng nguyờn nhõn tht bi, phỏ
sn ca cỏc doanh nghip, c quan, n v sn xut thỡ nguyờn nhõn thuc v
qun lý chim 55%. Chớnh vỡ vy, khi t chc li b mỏy thỡ bin phỏp thay th
ngi qun lý thiu kh nng bng ngi qun lý cú nng lc v kh nng lónh o
tt l bin phỏp c s dng nhiu nht.
- Ngy nay, trong 5 nhõn t phỏt trin nn kinh t l: Ti nguyờn, vn, cụng
ngh, lao ng v cht xỏm qun lý thỡ cht xỏm qun lý c coi l yu t quan
Lập kế
hoạch

Kiểm tra

Lãnh đạo

Tổ chức
Hỡnh 1.1: Mi quan h ca cỏc chc nng trong quỏ trỡnh qun lý
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14


15
Tóm lại: Quản lý là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát
triển của xã hội loài người. Quản lý có tác dụng thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển
của xã hội tuỳ theo trình độ quản lý cao hay thấp. Chính vì vậy, trong thời đại ngày
nay với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và lượng tri thức của con
người càng đòi hỏi cao ở trình độ quản lý.
1.2. Quản lý đào t
ạo nghề
Đào tạo nghề là một lĩnh vực bao gồm tất cả các hoạt động của nhà trường
nhằm cung cấp kiến thức và giáo dục học sinh. Đó là công việc kết nối mục tiêu đào
tạo, thiết kế chương trình đào tạo, thực hiện chương trình và các vấn đề liên quan
đến giảng dạy, giám sát, đánh giá, kiểm tra, cho điểm cùng các quy trình đánh giá
khác, các chính sách liên quan đến chuẩn mực và cấp bằng mà nhà trường đào tạo.
Quản lý đào tạo nghề là sự vận động của một hệ thống do nhiều yếu tố tạo
thành. Các yếu tố này được gọi là các yếu tố của quá trình đào tạo, mỗi yếu tố có
tính chất, đặc điểm riêng, giữa chúng có mối quan hệ qua lại với nhau. Các yếu tố
đó có quan hệ trực tiếp đến hoạt động cải biến nhân cách, bao gồm: Mục tiêu đào
tạo; nội dung đào tạo; phương pháp đào tạo; lực lượng đào tạo (đại diện là người
thầy); đối tượng đào tạo (đại diện là học trò); hình thức tổ chức đào tạo; điều kiện
đào tạo; môi trường đào tạo; quy chế đào tạo; bộ máy tổ chức đào tạo. Trong quá
trình đào tạo nghề, các yếu tố trên vận động, tương tác lẫn nhau, làm nảy sinh
những tình huống có vấn đề đòi hỏi được giải quyết kịp thời. Vì vậy, quản lý đào
tạo nghề chính là quá trình xử lý tình huống có vấn đề trong quá trình đào tạo để
nhà trường phát triển.
1.2.1 Mục tiêu quản lý đào tạo nghề
Mục tiêu quản lý là trạng thái được xác định trong tương lai của đối tượng
quản lý hay một số yếu tố cấu thành của nó. Nói một cách khác, mục tiêu quản lý là
những kết quả mà chủ thể quản lý dự kiến sẽ đạt do quá trình vận động của đối
tượng quản lý dưới sự điều khiển của chủ thể quản lý.

soạn thảo và triển khai chương trình đào tạo, đồng thời là cơ sở để thiết lập kế
hoạch thực hiện và đánh giá. Mục tiêu đào tạo là chuẩn mực để đánh giá kết quả
hoạt động đào tạo. Mục tiêu đào tạo quy định tính chất và phương pháp của quá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
trình đào tạo, quy định nội dung phương pháp và tổ chức quá trình đào tạo. Mục
tiêu đào tạo tác động đến tất cả các đối tượng, các nhân tố của quá trình đào tạo.
- Nội dung chương trình đào tạo: Nội dung chương trình đào tạo là hệ thống
kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, hoạt động xã hội được chọn lọc trong nền
văn hoá, khoa học kỹ thuật của dân tộc và của loài người mà người giáo viên cần tổ
chức cho người học lĩnh hội để đảm bảo hình thành theo mục tiêu đào tạo đã định
ra. Để thực hiện được mục tiêu đã được trình bày ở trên, người học cần lĩnh hội một
hệ thống mục tiêu đào tạo.
Nội dung chương trình đào tạo cần được cụ thể hoá trong kế hoạch đào tạo,
chương trình giảng dạy và các tài liệu dạy học.
- Quản lý mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo: Quản lý mục tiêu, nội
dung chương trình đào tạo là quản lý việc xây dựng mục tiêu nội dung đào tạo, kế
hoạch đào tạo và nội dung chương trình giảng dạy, quản lý quá trình dạy học thực
tế của giáo viên, học sinh sao cho kế hoạch nội dung chương trình giảng dạy được
thực hiện đầy đủ đúng thời gian và nội dung quán triệt được các yêu cầu về mục
tiêu đào tạo.
b. Quản lý giáo viên và hoạt động của giáo viên
Quản lý giáo viên và quản lý việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy của đội ngũ
giáo viên, của từng giảng viên gồm:
Quản lý về cơ cấu, số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên, đánh giá các ưu
khuyết điểm, sự tiến bộ về các mặt chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức, năng lực
chuyên môn của từng giáo viên.
Quản lý bồi dưỡng, đào tạo phát triển đội ngũ giáo viên…
Theo dõi chỉ đạo việc hoàn thiện các hồ sơ, sổ sách chuyên môn nghiệp vụ.

- Việc sử dụng, bảo quản, sửa chữa cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng dạy
học của giáo viên, học sinh và cán bộ công nhân viên trong quá trình đào tạo.
1.3. Kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp
1.3.1. Kiến thức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
Tri thức hay kiến thức của con người là kết quả của quá trình nhận thức, tư
duy phản ánh hiện thực khách quan thông qua bộ não của con người, là sản phẩm
đặc biệt của bộ não và do đó có thể hiểu tri thức là “thông tin được chứa trong não
người”. Tri thức theo cách hiểu chung nhất là “những điều hiểu biết có hệ thống về
sự vật nói chung” (Từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB Giáo dục - 1998).
Hệ thống các tri thức khoa học và công nghệ trong nội dung đào tạo nghề
nghiệp bao gồm các loại sau: Các tri thức về sự vật hiện tượng; Các tri thức về lý
luận; các tri thức về các quá trình công nghệ gia công, chế biến, xử lý để tạo ra các
sản phẩm vật chất hoặc tinh thần; các tri thức khác liên quan về môi trường lao
động; các tri thức hiểu biết về con người.
1.3.2 Kĩ năng
Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, xuất bản năm 2002 định nghĩa: “Kỹ
năng là khả năng vận dụng những tri thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó
vào thực tế”.
Theo PGS.TS Trần Viết Sự: Tìm hiểu từ góc độ tâm lí học về dạy thực hành
sản xuất trong giáo dục nghề nghiệp. Thuật ngữ kĩ năng được hiểu là: ”Khả năng
của con người thực hiện công việc một cách có hiệu quả trong một thời gian thích
hợp, trong các điều kiện nhất định và dựa vào các tri thức, các kĩ xảo đã có”.(24-
172).
- Kĩ năng được hình thành trên cơ sở kiến thức và qua quá trình luyện tập.
- Kĩ năng chung cần cho mọi hoạt động nghề nghiệp bao gồm: Kĩ năng tổ
chức đạt kế hoạch lao động; Kĩ năng tự phân tích và kiểm tra hành động; kĩ năng tự
điều chỉnh hành động.

là con đường quan trọng nhất trong tất cả các con đường giáo dục. Dạy học là loại
đặc trưng nhất, chủ yếu nhất của nhà trường. Nó diễn ra theo một quá trình nhất
định được gọi là quá trình dạy học. Quá trình dạy học là một quá trình xã hội gắn
liền với hoạt động của con người trong đó hai hoạt động trung tâm: Hoạt động dạy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

21
và hoạt động học. Hai hoạt động này luôn gắn bó mật thiết với nhau, tồn tại cho
nhau và vì nhau.
Hoạt động dạy:
- Dạy là sự tổ chức và hoạt động tối ưu quá trình sinh viên chiếm lĩnh tri
thức, và bằng cách đó hình thành và phát triển nhân cách. Dạy về bản chất là sự tổ
chức nhận thức cho sinh viên và giúp họ học tập tốt.
- Mục đích của dạy: Điều khiển hoạt động học của học sinh.
- Chức năng của dạy: Dạy có chức năng kép, truyền đạt thông tin dạy và điều
khiển hoạt động học.
- Nội dung của dạy: Theo chương trình quy định.
- Phương pháp của dạy: Theo phương pháp nhà trường.
Hoạt động học:
- Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học,
dưới sự điều khiển sư phạm của thầy.
Học là hoạt động có đối tượng, trong đó người học là chủ thể, khái niệm
khoa học là đối tượng để chiếm lĩnh.
Học về bản chất là sự tiếp thu, xử lý thông tin chủ yếu bằng các thao tác trí
tuệ dựa vào vốn sinh học và vốn đạt được của cá nhân, từ đó có được tri thức, kỹ
năng thái độ.
Mục đích của học: Chiếm lĩnh khái niệm khoa học có nghĩa là phải nắm
vững nghĩa, đào sâu ý chứa trong khái niệm, tái tạo khái niệm cho bản thân, thao tác
với nó, sử dụng nó như công cụ phương pháp để chiếm lĩnh khái niệm khác hoặc
đào sâu mở rộng thêm chính khái niệm đó ở trình độ lý thuyết cao hơn, biến nó từ

Hoạt động dạy của thầy, hoạt động học của trò. Hoạt động này thống nhất biện
chứng với nhau. Nó phản ánh mối liên hệ tất yếu, chủ yếu và bền vững giữa 2 nhân
tố trung tâm đặc trưng cho tính chất 2 mặt của QTDH. Dạy và học là một hệ thống
thống nhất giữa chúng có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, đồng
thời chịu sự ảnh hưởng của sự tác động qua lại chung trong hệ thống dạy học đặc
biệt là tác động của dạy mà thầy là chủ thể nhằm thực hiện tốt sự tác động qua lại
giữa học sinh và tài liệu học tập, từ đó thúc đẩy hoạt động nhận thức mà học sinh là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

23
chủ thể. Trong quá trình thực hiện hoạt động hoặc (trò), thầy phải thu được một
cách thường xuyên những tín hiệu ngược (tín hiệu ngược trong, ngược ngoài) phát
ra từ học sinh hoặc từ các sản phẩm học tập của chúng. Nhờ những tín hiệu ngược
thầy đánh giá được kết quả học tập của học sinh một cách khách quan, uốn nắn
những lệch lạc, giúp đỡ học sinh vượt qua khó khăn. Mặt khác, nhờ tín hiệu ngược
ngoài thầy còn có thể phát hiện được thực trạng hoạt động của mình để tự đánh giá
kết quả giảng dạy của mình. Nhờ tín hiệu ngược trong học sinh, sinh viên có thể
phát hiện, tự đánh giá và tự điều chỉnh hoạt động của mình.
Hoạt động dạy và hoạt động học luôn gắn bó với nhau không tách rời nhau,
thống nhất biện chứng với nhau, tạo thành một hoạt động chung. Dạy điều khiển
học, học tuân thủ dạy. Dạy tốt dẫn đến việc học tốt, để học tốt thì phải dạy tốt. Vì
vậy phải thi đua hai tốt: “Dạy tốt, học tốt”.
1.4.2. Quản lý hoạt động dạy học ở trường trung cấp nghề
Đặc điểm hoạt động dạy học ở Trường Trung cấp nghề:
Hoạt động dạy học ở Trường Trung cấp nghề có những đặc điểm chung như
hoạt động dạy học ở các trường khác, tuy nhiên nó có những điểm khác biệt đặc
trưng do mục tiêu đào tạo của nhà trường đó là đào tạo đội ngũ công nhân với
nguyên lý và phương châm rèn luyện kỹ năng nghề là chính.
Điều 2 luật giáo dục đã nêu rõ: Mục tiêu giáo dục là đào tạo ra những con
người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức và nghề nghiệp trung

người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở; từ một đến hai năm đối với người có
bằng tốt nghiệp trung học phổ thông. Việc xây dựng chương trình đào tạo áp dụng
Quyết định số: 01/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 04/01/2007 ban hành quy định về
chương trình khung trình độ trung cấp nghề, trình độ cao đẳng nghề. Để đảm bảo
tay nghề cho người học sau khi tốt nghiệp yêu cầu: Thời gian dành cho môn học,
môdul đào tạo nghề bắt buộc chiếm 75% - 85%, thời gian dành cho các môn học,
môdul tự chọn chiếm 15%-25%. Thời gian giữa lý thuyết và thực hành: Lý thuyết
chiếm 15% - 35%, thực hành chiếm 65% - 85%. Với phương châm rèn luyện kỹ
năng nghề là chính nên cấu trúc chương trình đào tạo thiên về thực hành.
- Đặc điểm về phương pháp dạy học:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

25
Phương pháp dạy học chủ đạo ở các trường trung cấp phải là phát huy cao độ
tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo và năng lực tự học của học sinh Trong các
trường trung cấp nghề phương pháp dạy học vẫn lấy học sinh làm trung tâm, học
sinh có thể tham gia vào công việc tổ chức và tự tổ chức quá trình học tập và nghiên
cứu. Cạnh đó, để giúp cho việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo theo chuyên môn được
đào tạo, các phương pháp được sử dụng chủ yếu là các hình thức luyện tập theo
nguyên công, luyện thao tác, luyện tập quá trình lao động, các hệ thống luyện tập
như hệ thống luyện tập theo trình tự giản đơn - tăng tiến và hệ thống luyện tập theo
trình tự không đầy đủ với các hình thức hướng dẫn của giáo viên như toàn lớp, theo
nhóm, và cá nhân. Quá trình đào tạo kỹ thuật như vậy có thể diễn ra ở trường cũng
có thể diễn ra ở các xí nghiệp nên phương pháp dạy học cũng gắn bó với đặc điểm
từng nơi. Tuy nhiên với phương châm rèn luyện kỹ năng nghề là chính nên trong
công tác đào tạo nghề cần chú trọng phương pháp sử dụng trang thiết bị để không
xảy ra mất an toàn lao động, sử dụng đúng qui trình qui phạm, hiệu quả.
- Đặc điểm về người dạy:
Mục tiêu đào tạo của Nhà trường là đào tạo kỹ thuật viên bậc trung cấp, để
thực hiện mục tiêu đào tạo này đội ngũ giáo viên trong nhà trường vừa phải có năng

không vào được THPT vì lý do nhận thức và kiến thức không đủ điều kiện tiếp tục
học bậc cao hơn, có những đối tượng không thích học tiếp lên bậc THPT nhưng
nhìn chung về thể hình những đối tượng này chưa hoàn thiện, sức khoẻ để học các
thiết bị công nghệ mới hiện đại chưa đảm bảo, ở độ tuổi đang hoàn thiện nhân cách
và tập làm người lớn nên nhiều khi hay thay đổi quyết định và thiếu tập trung. Tâm
lý thua bạn kém bè khi đại đa số người Việt Nam đều muốn con mình học THPT và
đỗ đại học khiến cho học sinh cũng bị phân tán.
Đối tượng thứ hai là học sinh tốt nghiệp THPT nhưng không thi đỗ đại học
hoặc không đủ điều kiện về kinh tế để học bậc đại học. Ở nhóm đối tượng này lứa
tuổi đã lớn hơn (17-19 tuổi) nhân cách đã phát triển hơn, sức khoẻ và thể hình tốt
hơn họ đã sẵn sàng để học tập nhằm chuẩn bị cho mình hành trang bước vào đời. Ở
lứa tuổi này họ có nhiều hoài bão và ước mơ tuy nhiên hầu hết do không thi đỗ
được vào các trường đại học, cao đẳng do đó yếu tố tâm lý chán chường và chưa
chuẩn bị một cách đầy đủ về tâm lý bước vào học nghề cũng là một trở ngại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

27
Đối tượng thứ ba là các đối tượng người học đã trưởng thành về lứa tuổi họ
đều đã trên hai mươi tuổi, đã cơ bản hoàn thiện nhân cách và sức khoẻ, lý do học
nghề của các đối tượng này do muốn chuyển đổi nghề nghiệp, do chưa có công ăn
việc làm, là nông dân do mất đất khi bị Nhà nước thu hồi làm các khu công nghiệp,
là bộ đội sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự…Đặc điểm của đối tượng này là xác
định đúng mục đích và động cơ học tập, nghiêm túc trong học tập tuy nhiên do đã
lớn tuổi nên nhận thức bắt đầu hạn chế, khả năng tiếp thu công nghệ mới có khó
khăn hơn hai đối tượng trên nhưng về cơ bản dạy nghề cho các đối tượng này thuận
lợi vì họ đã có ý thức học, thực sự muốn học nghề.
- Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên ở Trường Trung cấp nghề:
Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên thực chất là quản lý việc thực
hiện các nhiệm vụ của đội ngũ giáo viên và của từng giáo viên. Giáo viên trong các
Trường Trung cấp nghề có nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục học sinh đồng thời họ phải

định như nhau nhưng các học sinh cùng khoá, cùng lớp vẫn có những khác biệt về
khía cạnh này khía cạnh khác trong nhân cách. Những khác biệt đó trong chủ thể
của học sinh làm cho quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập, rèn luyện của học
sinh cũng như kết quả học tập. Hơn nữa chính mặt chủ thể của từng học sinh biến
đổi do tác động của đào tạo lại làm cho sự cải biến trở nên đa dạng và phức tạp.
Hoạt động học là một trong hai hoạt động trung tâm của nhà trường. Hoạt
động học của học sinh rất quan trọng giúp cho học sinh lĩnh hội tri thức, lý luận
nghề nghiệp, các kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp Công tác tổ chức, quản lý hoạt
động học của học sinh có vai trò rất quan trọng và phải được tổ chức.
Nội dung quản lý hoạt động học của học sinh:
Theo dõi, tìm hiểu để nắm được những biểu hiện tích cực và tiêu cực trong
việc thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện cũng như những biến đổi nhân cách của
học sinh nói chung và của từng học sinh.
Theo dõi, thúc đẩy khuyến khích học sinh phát huy các yếu tố tích cực, khắc
phục các yếu tố tiêu cực, phấn đấu vươn lên đạt kết quả học tập, rèn luyện ngày
càng cao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

29
1.5. Quan hệ giữa quản lý và chất lượng đào tạo
1.5.1. Chất lượng và chất lượng đào tạo
Chất lượng luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi loại hình doanh nghiệp,
các hệ thống kinh tế xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo. Đối với các doanh
nghiệp chất lượng là chìa khoá và sự đảm bảo thắng lợi trong các cuộc cạnh tranh,
chiếm lĩnh thị trường.
Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo từ cuối những thập niên 80 các trường đại
học ở Mỹ và Anh quốc đã tiên phong đi đầu trong lĩnh vực chất lượng. Hiện nay
trên thế giới sự cạnh tranh diễn ra gay gắt không chỉ trong lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh dịch vụ mà cả trong lĩnh vực giáo dục, trong thu hút người học và cung ứng
“sản phẩm” sau đào tạo trên thị trường xuất khẩu lao động quốc tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status