Luận văn: VĂN HÓA CỦA NGƢỜI TÀY Ở HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN potx - Pdf 15


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

DƢƠNG QUỐC HUY

VĂN HÓA CỦA NGƢỜI TÀY
Ở HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN DUY TIẾN Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

3
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy
hướng dẫn khoa học TS. Nguyễn Duy Tiến, cùng các thầy cô trong Bộ môn
lịch sử Việt Nam, khoa Lịch sử, trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên
đã chỉ bảo tận tình, động viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và
hoàn thành luận văn.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học khoa học - Đại học Thái Nguyên,
Bộ môn Lịch sử; Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ban Tổ chức Trung ương
đã tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt để tác giả yên tâm công tác.
Trong thời gian đi điền dã thu thập tài liệu tác giả đã nhận được sự giúp
đỡ nhiệt tình của các già làng, trưởng bản và những người cung cấp thông tin
ở nhiều xã trong huyện Định Hóa. Tác giả chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý
báu đó.
Cuối cùng, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn
thành luận văn.
Tác giả

Dương Quốc Huy


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

5
2.3. Trang phục 45
Tiểu kết chƣơng 2 47
Chƣơng 3: VĂN HÓA TINH THẦN 48
3.1. Một số tục lệ trong chu kỳ đời người 48
3.1.1. Cưới xin 48
3.1.2. Sinh đẻ 56
3.1.3. Các nghi lễ liên quan đến làm nhà mới 59
3.1.4. Ma chay 61
3.2. Văn học dân gian 73
3.2.1. Truyện kể 73
3.2.2. Ca dao, tục ngữ, câu đố 80
3.2.3. Thơ ca 84
3.3. Lễ hội dân gian 99
3.3.1. Lễ hội Lồng tồng 99
3.3.2. Lễ hội cầu mùa 103
3.4. Nghệ thuật 104
3.4.1. Nghệ thuật múa rối 104
3.4.2. Nghệ thuật tạo hình 106
3.5. Một số giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền
thống của người Tày Định Hóa trong điều kiện hiện nay 111
Tiểu kết chƣơng 3 113
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

1

Do sớm có mặt ở Định Hóa lại chiếm tỷ lệ dân số khá đông, trong tiến
trình phát triển của lịch sử, đồng bào Tày nơi đây đã sớm xây dựng cho mình
một nền văn hóa truyền thống phong phú và đa dạng góp phần xây dựng nên
truyền thống văn hóa Việt Nam.
Trên cơ sở đó, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc luôn trở thành vấn
đề trọng tâm trong đường lối của Đảng. Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung
ương Đảng lần thứ V khóa VIII, Đảng ta đã khẳng định rõ: “Di sản văn hóa
là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ
sở để tạo ra những giá trị văn hóa mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng
bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và
dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật
thể”[56, tr.206].
Với mục đích bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc trong văn hóa
truyền thống của đồng bào Tày ở huyện Định Hóa, chúng tôi chọn vấn đề
“Văn hóa của người Tày ở huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên” làm luận
văn thạc sỹ của mình. Trong đó tập trung chủ yếu vào đời sống vật chất và
tinh thần của người Tày ở huyện Định Hóa.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Cho đến nay, vấn đề về người Tày đã trở thành vấn đề nghiên cứu của
không ít nhà nghiên cứu, nhà khoa học và vấn đề liên quan đến người Tày đã
được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu sau:
Ngay từ thời phong kiến, các nhà sử học đã nói tới xã hội, phong tục
tập quán của các dân tộc thiểu số trong đó có người Tày. Tiêu biểu là tác
phẩm “Kiến văn tiểu lục” của Lê quý Đôn. Cuốn sách đã đề cập đến văn hóa
của người Tày nói chung.
Từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến nay, có các công trình tiểu
biểu như:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên


4
Như vậy, các tác phẩm nêu trên đã phản ánh một bước tiến lớn trong
lịch sử nghiên cứu về văn hóa dân tộc Tày trong đại gia đình các dân tộc Việt
Nam. Song phần lớn các tác phẩm nghiên cứu trên một phạm vi rộng với
những đặc trưng văn hóa của người Tày nói chung, chưa làm rõ được những
sắc thái phong phú, đa dạng của văn hóa Tày ở huyện Định Hóa. Mặc dù vậy,
các công trình của các nhà nghiên cứu đi trước đã tạo ra những cơ sở, những
điều kiện để chúng tôi tiếp tục khai thác, làm rõ hơn về đời sống văn hóa của
dân tộc Tày ở huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên.
3. Đối tƣợng, phạm vi và mục đích nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu về văn hóa vật chất và
một số thành tố trong văn hóa tinh thần của người Tày ở huyện Định Hóa.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về văn hóa vật chất và tinh thần của người Tày ở
huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên, khi đề cập đến vấn đề văn hóa
vật chất và tinh thần là một phạm trù rất rộng mà thời gian và trình độ còn
nhiều hạn chế, cho nên tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu
sau đây:
- Về văn hóa vật chất: tác giả đi vào nghiên cứu về ăn uống, trang phục
và nhà ở của người Tày Định Hóa.
- Về văn hóa tinh thần: đi vào nghiên cứu một số lễ tục trong chu kỳ
đời người (sinh đẻ, cưới xin, làm nhà mới, tang ma); văn học dân gian (truyện
kể, dân ca, tục ngữ, câu đố…); lễ hội Lồng tồng, cầu mùa; Nghệ thuật (múa
rối, hoa văn trên vải, nghệ thuật tạo hình đàn tính).
3.3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm tìm hiểu sâu sắc hơn về đời
sống vật chất cũng như tinh thần của người Tày, rút ra những giá trị tiêu biểu.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

6
nhất thống chí…; Các sách chuyên khảo và các bài viết đề cập đến lịch sử,
văn hóa của các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học như: Văn hóa Tày
Nùng của Lã Văn Lô - Hà Văn Thư, Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam của
Viện dân tộc học…
5.2. Tài liệu điền dã
Lời kể của người già, thầy cúng dân tộc Tày, trực tiếp quan sát một số
hoạt động văn hóa của người Tày ở huyện Định Hóa để ghi chép, miêu thuật
một cách cụ thể.
6. Đóng góp của luận văn
- Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối hệ thống về
văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của người Tày ở huyện Định Hóa.
- Thông qua việc tìm hiểu một số vấn đề văn hóa của người Tày ở
huyện Định Hóa sẽ giúp cho các cơ quan chức năng đánh giá một cách toàn
diện hơn về công tác bảo tồn và phát triển những giá trị trong văn hóa truyền
thống của người Tày ở Định Hóa.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, phụ lục, tài liệu tham khảo và kết luận, luận văn
được chia thành 3 chương:
Chƣơng 1: Vài nét về huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
Chƣơng 2: Văn hóa vật chất của ngƣời Tày ở huyện Định Hóa tỉnh
Thái Nguyên
Chƣơng 3: Văn hóa tinh thần của ngƣời Tày ở huyện Định Hóa
tỉnh Thái Nguyên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

8
Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Phía nam giáp Phổ Yên, phủ Phú Bình. Phủ
Tòng Hóa gồm có 9 tổng và 36 xã. Từ đó đến trước Cách mạng tháng Tám
1945, Định Hóa có 8 tổng với 30 xã và 1 thị trấn. Đó là các tổng: Định Biên
Thượng, Định Biên Trung, Định Biên Hạ, Khuynh Kỳ, Thanh Điểu, Phượng
Vĩ Thượng, Phượng Vĩ Trung và Phượng Vĩ Hạ.
Sau cách mạng tháng Tám, Định Hóa thuộc phủ Ngô Quyền, tháng 6
năm 1945 đổi thành phủ Vạn Thắng. Năm 1948 phủ Vạn Thắng đổi thành
huyện Định Hóa và giữ nguyên cho đến ngày nay. Hiện nay, huyện Định Hóa
gồm 1 thị trấn (thị trấn Chợ Chu) và 23 xã (Bảo Cường, Bảo Linh, Bình
Thành, Bình Yên, Bộc Nhiêu, Định Biên, Điềm Mặc, Đồng Thịnh, Kim
Phượng, Kim Sơn, Lam Vỹ, Linh Thông, Phú Đình, Phú Tiến, Phúc Chu,
Phượng Tiến, Quy Kỳ, Sơn Phú, Tân Dương, Tân Thịnh, Thanh Định, Trung
Hội, Trung Lương).
1.2. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Huyện Định Hóa nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên với tổng
diện tích đất tự nhiên là 520,75 km
2
, phía Bắc giáp Chợ Đồn, Bạch Thông
(Bắc Kạn); phía Nam giáp huyện Đại Từ; phía Đông giáp huyện Phú Lương;
phía Tây giáp Sơn Dương, Yên Sơn (Tuyên Quang).
Địa hình của huyện chia thành hai vùng rõ rệt. Phía Bắc là những dãy
núi đá vôi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam có độ dốc lớn và nhiều hang
động. Phía Nam là những dãy đồi núi thấp có nhiều rừng già, đất đai màu mỡ.
Khí hậu của huyện chịu ảnh hưởng sâu sắc của khí hậu trung du miền
núi phía Bắc. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 21,5
o
C với độ ẩm trung bình

hương Định Hóa.
Xưa kia, dân cư ở Định Hóa còn thưa thớt. Trải qua quá trình phát triển
của lịch sử, qua quá trình du cư lên Định Hóa thì số dân của Định Hóa không
ngừng tăng nhanh.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

10
Tính đến tháng 12/2009 dân số toàn huyện là 89.125 người, mật độ dân
số của huyện là 172 người/km
2
.
Các dân tộc huyện Định Hóa
STT
Dân tộc
Dân số
(ngƣời)
%
Ghi chú
1
Tày
43367
49,2

2
Kinh
30698
34,8

3

Mường
97
0,05

Nguồn: UBND huyện Định Hoá (2009)
Căn cứ vào bảng thống kê trên thì thành phần cư dân huyện Định Hóa
gồm nhiều bộ phận hợp thành. Người Tày, Nùng, Kinh sinh sống xen cư, trong
đó người Tày là đông nhất 43367 người chiếm 49,2% dân số toàn huyện.
Dân tộc Tày: Trong quá trình phát triển của lịch sử, một bộ phận người
Kinh xuôi lên sinh sống lâu đời ở huyện Định Hóa, dần chuyển hóa thành
người Tày. Đồng bào Tày chủ yếu làm ruộng lúa nước, ngoài ra họ còn tiến
hành các nghề thủ công khác nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho đời sống hàng
ngày của gia đình như kéo sợi, dệt vải, đan lát, làm mộc, rèn đúc cuốc, dao…
Bên cạnh đó họ con chăn nuôi trâu, bò lấy sức kéo, chăn nuôi lợn, gà, vịt, cá…
tạo ra nguồn thu nhập cho gia đình. Dù là ngời Tày bản địa hay người Tày gốc
Kinh đều đã sớm hòa nhập, cố kết với nhau thành một khối Tày thống nhất

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

11
cùng nhau xây dựng quê hương và bảo vệ quê hương Định Hóa, bảo tồn và
phát triển những giá trị văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc.
Dân tộc Kinh: Là dân tộc có dân số đứng thứ hai ở Định Hoá chiếm
34,8%. Người Kinh đến cư tại Định Hoá theo nhiều con đường khác nhau:
những quan lại được triều đình phong kiến cử lên làm quan mang theo gia
đình, dòng tộc. Một bộ phận đi buôn bán, làm ăn ở lại định cư, thời Pháp
thuộc bộ phận những người làm công cho các công sở của thực dân Pháp,
trong kháng chiến chống Pháp những người lên Việt Bắc rồi ở lại đây. Đặc
biệt là trong những năm 60 một lượng người Việt không nhỏ ở các tỉnh đồng
bằng: Thái Bình, Nam Định, Hải Hưng lên khai hoang theo chính sách kinh tế

dị, kín đáo.
Dân tộc Hoa: Chiếm 1,4% dân số toàn huyện. Dân tộc Hoa tập trung
đông nhất ở huyện Định Hoá chiếm 48,89% số người Hoa trong tỉnh Thái
Nguyên. Một số xã có đông người Hoa sinh sống đó là: Kim Phượng, thị trấn
Chợ Chu, Bảo Cường, Tân Dương, Kim Sơn. Những người Hoa có mặt ở
Thái Nguyên khoảng trên dưới 150 năm. Họ là lưu dân có nguồn gốc từ các
tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây (Trung Quốc). Tổ tiên của một bộ phận trong
số họ vốn là những nông dân nghèo đói phải phiêu bạt mưu sinh. Một bộ phận
khác là hậu duệ của những chiến binh của phong trào Thái Bình Thiên Quốc
chống lại nhà Thanh bị đàn áp nên trốn sang Việt Nam. Người Hoa ở Định
Hoá còn lưu giữ được nhiều nét văn hoá truyền thống của dân tộc. Tại Chợ
Chu họ đã xây dựng đền Quan Đế thờ Quan Công. Sách “Dân cư, dân tộc
Tỉnh Thái Nguyên” có viết: “Theo kí ức của nhân dân, đó là một ngôi đền 3
gian, tương đối lớn, trong chính điện có một bức tượng Quan Công ngồi trên
ngai, hai bên tả hữu có Quan Bình và Châu Sương mang gươm đứng hầu. Đó
cũng là mô típ chung trong cụm tượng thường thấy ở những ngôi đền thờ
Quan Vân Trường. Lễ hội đền Quan Đế được tổ chức vào ngày 13 tháng năm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

13
Âm lịch - tương truyền đó là ngày mất của đức Quan Vân Trường - và diễn ra
trong 3 ngày” [57, tr. 262].
Các dân tộc khác như Cao Lan - Sán Chí, Mông, Dao, Sán Dìu, Mường
chiếm 16% dân số toàn huyện. Các dân tộc này định cư thành làng riêng.
Người Cao Lan - Sán Chí, Sán Dìu thường ở sâu trong bản. Họ sản xuất nông
nghiệp là chính, cuộc sống tương đối định cư và có ngôn ngữ riêng. Người
Dao trước đây sống du canh du cư, ngày nay nhờ cuộc vận động định canh
định cư, sự giúp đỡ của các cấp, ngành trong huyện mà cuộc sống của họ ổn
định. Người Dao sống chủ yếu dựa vào nương rẫy kết hợp chăn nuôi một số

Nguyên bấy giờ”. “Chúng ta có thể đoán rằng cư dân các châu ki mi thuộc
An Nam đô hộ phủ là tiền thân của đồng bào Tày, Nùng ở khu vực Việt Bắc
hiện nay” [1, tr.103]
Ngoài nguồn gốc từ phía Nam Trung Quốc, người Tày ở Định Hóa còn
một bộ phận “Tày hóa”. Người Kinh trong lịch sử đã có quá trình di cư lên
Định Hóa sinh sống cùng người Tày và dần dần họ trở thành người Tày. Một
bộ phận người Tày hiện nay nếu xem xét gia phả thì hoàn toàn là người Việt.
1.4.2. Tình hình kinh tế
Kinh tế nông nghiệp
Là cư dân bản địa, người Tày đã sinh sống ở Định Hóa từ lâu đời. Với
đặc điểm cư trú ở những vùng thấp, ven chân đồi nơi có nguồn nước nên
người Tày ở đây có điều kiện thuận lợi để canh tác lúa nước. Ruộng của
người Tày được khai phá từ đất bằng phẳng ven sông ở các vùng thung lũng
có độ màu mỡ cao hoặc khai phá các thửa ruộng rìa đồi rừng. Tên các cánh
đồng đó thường được bắt đầu bằng từ “nà” như Nà Chằm, Nà Luông, Nà
Phai… Trong canh tác lúa nước người Tày biết dùng phân bón, chủ yếu là
phân trâu để bón ruộng. Hệ thống thủy lợi tương đối phát triển bao gồm: hệ
thống mương, phai đặc biệt người Tày ở Định Hóa nói riêng và đồng bào Tày

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

15
nói chung biết sáng tạo ra những chiếc cọn dẫn nước từ khe suối lên ruộng
bậc thang, đảm bảo việc tưới tiêu có hiệu quả.
Khi canh tác lúa nước, người Tày tiến hành các bước kỹ thuật như sau:
từ cày lật đất rồi cày lại lần hai, bừa lần 1, bón lót, bừa lần hai cho phẳng rồi
mới cấy lúa. Ruộng để gieo mạ được làm rất kỹ. Đất được cày bừa bằng trâu
sau đó người ta bón phân chuồng lên ruộng rồi bừa cho mặt ruộng phẳng, láng
nước. Thóc được làm giống được chọn rất kỹ phải là hạt già, mẩy và đều hạt.
Trước khi đem ủ mầm, thóc được ngâm trong nước khoảng 1 ngày, sau đó

đã đưa kinh tế hàng hóa vào trong chăn nuôi.
Ngoài ra, đồng bào nơi đây con chú trọng nuôi cá. Hầu như gia đình
nào cũng đào ao nuôi cá vừa để cải thiện đời sống, vừa tạo cảnh quan môi
trường sống sạch đẹp hơn. Nếu là ao chuyên canh thì đồng bào nuôi nhiều
loại cá khác nhau, thời vụ ngắn, dài khác nhau như cá chép, cá trôi, cá mè, cá
trắm,… là cá dài ngày, cá diếc, cá rô,…là cá ngắn ngày. Thông thường cứ 1
hoặc 2 năm người ta tháo ao bắt cá và sửa sang, nạo vét ao cá. Riêng cá nuôi
ở ruộng sau 1 hoặc 2 vụ lúa thì đồng bào thường nuôi các loại cá ngắn ngày,
năng suất thấp.
Không chỉ có chăn nuôi và trồng trọt, đồng bào Tày còn tiến hành hái
lượm và đánh bắt. Sau buổi làm nương, đồng bào tranh thủ hái các loại rau
rừng, nấm, măng về làm thức ăn. Đánh bắt cá ở khe suối, sông, hồ tự nhiên
cũng là một hoạt động kiếm sống mang tính tự nhiên khá phát triển của đồng
bào Tày Định Hóa. Đồng bào sử dụng các loại dụng cụ từ thô sơ như việc bắt
bằng tay đến các loại công cụ cao hơn như chài lưới, dùng thuyền, mảng…
Kinh tế thủ công nghiệp
Đồng bào Tày ở Định Hóa có một số nghề thủ công truyền thống như:
nghề dệt vải, nghề đan lát, nghề làm mộc…
Nghề dệt vải truyền thống của người Tày nơi đây mang tính xã hội cao
và gắn bó khá mật thiết với người phụ nữ Tày. Người Tày ở huyện Định Hóa
đã sớm biết trồng bông nhuộm chàm, tạo khung dệt vải. Nhờ bàn tay lao động

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

17
của người phụ nữ mà những bộ trang phục truyền thống được tạo nên. Các
sản phẩm dệt ngoài việc để dùng để may mặc còn được sử dụng làm mặt
chăn, màn che, mặt địu, túi đeo…
Nghề dệt đã gắn chặt với phong tục cưới xin truyền thống của người
Tày từ bao đời nay. Để chuẩn bị hành trang về nhà chồng, các thiếu nữ Tày

Loòng, Nà Poọc, Pác Máng, Pác Cáp…
Mỗi bản có phạm vi cư trú và đất đai trồng trọt riêng, đường phân giới
thường là đường mòn, khe núi, khe suối, đèo cao… được công nhận theo quy
ước của dân bản. Mặc dù những quy ước đó không được ghi thành văn bản cụ
thể nhưng do sự tôn trọng và tin tưởng nhau nên dân bản đều công nhận. Ý
thức về địa vực cư trú ấy được truyền từ đời này sang đời khác trong dân cư
của làng bản.
Dân cư trong bản bao gồm nhiều họ, trong đó có một đến hai họ đông
người hơn và thường là những họ của người đến cư trú đầu tiên. Mỗi bản đều
có những nghi lễ chung liên quan đến nghề nông, chăn nuôi, lễ cúng thổ thần,
lễ xuống đồng… nhằm cầu mong cho người, cây trồng và vật nuôi phát triển,
làng bản ấm no, hạnh phúc.
Trong mỗi bản làng của người Tày thì quan hệ huyết thống dân tộc là
mật thiết nhất. Bên cạnh đó là quan hệ láng giềng đồng tộc hay khác tộc cũng
là yếu tố quan trọng để giúp nhau cả về vật chất lẫn tinh thần. Trong mỗi bản
đều có miếu thờ thổ công là linh thần cai quản cương giới của làng bản, che
chở cho cư dân của làng bản. Thông qua lao động sản xuất, sinh hoạt văn hóa
tinh thần mọi thành viên trong bản dù đồng tộc hay khác tộc đều đoàn kết với
nhau. Trong sản xuất, đồng bào nơi đây có tập quán đổi công cho nhau trong
những ngày mùa bận rộn. Hay khi một nhà trong bản có lễ cưới hay tang ma
đều nhận được sự giúp đỡ của mọi người dân trong bản. Đó thực sự là một nét
đẹp trong đời sống tinh thần của đồng bào Tày nơi đây.
Quan hệ dòng họ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

19
Thông thường những người cùng họ sống cùng nhau trong một bản
hoặc vài bản gần kề. Cho nên những người trong dòng họ luôn giúp đỡ lẫn
nhau trong sinh hoạt cũng như trong sản xuất. Chẳng hạn, khi con gái của gia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status