LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa


đã đề ra nhiệm vụ sau: "Phải chăm lo phát triển nguồn nhân lực có chất lượng toàn diện,
cả về sức khỏe thể chất, trình độ học vấn, nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, tư tưởng
chính trị, đời sống văn hóa tinh thần…" nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa của tỉnh nhà. Căn cứ vào nhiệm vụ trên tỉnh Thanh Hóa phải lấy việc phát huy
nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển kinh tế-xã hội. Thanh Hóa có
thể trở thành một tỉnh có nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa hay không điều đó còn tùy
thuộc vào việc xây dựng và thực hiện chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Vì vậy, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Thanh Hóa vừa là vấn đề cấp thiết vừa căn bản và lâu dài đối với sự phát triển của tỉnh.
Với ý nghĩa đó, tôi chọn vấn đề "Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa" làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu
Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển lịch sử, do đó vấn
đề con người, đặc biệt là vấn đề nhân tố con người luôn luôn là đối tượng thu hút sự
quan tâm của nhiều ngành khoa học. Thực tiễn ngày càng chứng minh, sự phát triển bền
vững của mỗi quốc gia phụ thuộc vào việc đầu tư khai thác, phát huy có hiệu quả vai trò
nhân tố con người.
Từ những nghiên cứu chung về con người, các nhà khoa học Xô Viết trước đây
đã đi sâu nghiên cứu về nhân tố con người và phát huy vai trò của nhân tố con người. Đã có nhiều đề tài và công trình của các nhà khoa học Xô viết đi sâu vào nghiên cứu
mối quan hệ giữa nhân tố con người với các nhân tố kinh tế, vật chất kỹ thuật trong cấu
trúc nền sản xuất xã hội. Công trình nghiên cứu của nữ viện sĩ GiaxlapxkaiA về công
bằng xã hội và nhân tố con người những năm 1986 - 1987 là một ví dụ tiêu biểu. Hội
nghị khoa học giữa các nhà khoa học Xô viết và Việt Nam tổ chức tại Hà Nội vào năm
1988, đã tập trung trao đổi ý kiến và thảo luận xoay quanh chủ đề về nhân tố con người
và phát triển kinh tế - xã hội.
ở nước ta các nhà khoa học đã có những hoạt động sôi nổi về nghiên cứu vấn đề
con người. Nhất là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VIII, các nhà khoa học đi sâu nghiên

Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực trong công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Hầu hết các đề tài đã tập trung nghiên cứu các
phương diện khác nhau của sự phát triển con người Việt Nam và đề xuất những giải
pháp để phát huy nguồn lực con người, từ giáo dục-đào tạo đến giải quyết việc làm, đổi
mới cơ chế, chính sách nhằm phát huy nhân tố con người, phát triển nguồn nhân lực ở
nước ta. Ngoài những công trình đó còn rất nhiều tác giả với những công trình nghiên
cứu khác đã đề cập đến vấn đề nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
nước ta bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau. Song những công trình đi sâu, phân tích
nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa chưa được đề cập
nhiều, đặc biệt là phân tích những điều kiện khả năng trong việc thực hiện nâng cao chất
lượng, nguồn nhân lực ở Thanh Hóa.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích nghiên cứu:
Xuất phát từ tính cấp bách của đề tài và lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi
xác định mục đích của đề tài là: Trên cơ sở phân tích thực trạng của nguồn nhân lực
Thanh Hóa hiện nay mà đề xuất một số giải pháp cấp bách nhằm xây dựng nguồn nhân
lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa. - Nhiệm vụ nghiên cứu:
Làm rõ quan điểm mácxít về vai trò của con người và nhân tố con người trong
lực lượng sản xuất, quan niệm về nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực và vai trò
của nó trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đánh giá tình hình dân số, thực trạng nguồn nhân lực và việc nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực ở Thanh Hóa. Từ đó, đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh
Hóa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu về lực lượng lao động của Thanh Hóa; không những

Góp phần đưa Nghị quyết của Đảng vào thực tiễn cuộc sống tại Thanh Hóa.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy và học
tập ở các trường Đại học, Trung học chuyên nghiệp, các trung tâm đào tạo, đồng thời
làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý cấp tỉnh, cấp huyện.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
gồm 3 chương, 6 tiết. Chương 1
Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam
1.1. Quan điểm mácxít về nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực
1.1.1. Từ quan điểm mácxít về con người đến nhân tố con người và nguồn
nhân lực
* Quan điểm về con người
Các nhà khoa học và chính trị từ cổ chí kim, từ Đông đến Tây, trong suốt chiều
dài của lịch sử luôn coi con người là vấn đề trung tâm của thế giới, là trung tâm chú ý
của mọi thời đại. Song các nhà tư tưởng trước Mác đã giải thích con người một cách
phiến diện, không coi con người là vị trí trung tâm của quá trình hình thành phát triển
của nhân loại. Họ lý giải sai lầm về bản chất con người. Họ không thấy được bản chất
con người là một bản chất xã hội, không thấy được con người là một thực thể tự nhiên -
xã hội. Chỉ đến Mác và Ăng ghen thì việc nhận thức về con người mới có sự thay đổi về
chất so với trước. Mác đã xuất phát từ phạm trù thực tiễn để lý giải bản chất của con
người trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với con người và
những quy luật chi phối quan hệ đó. Cống hiến quan trọng của Mác là đã vạch ra được
những vai trò của các quan hệ xã hội trong những yếu tố cấu thành bản chất con người.
Theo Mác "Bản chất con người không phải là cái gì trừu tượng cố hữu của một cá nhân
riêng biệt, trong tính hiện thực của nó bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ
xã hội" [16 -11].

mới ra đời tư tưởng giải phóng dân tộc của Đảng ta luôn gắn liền, hòa quyện với tư
tưởng giải phóng con người. Thời kỳ đó, vấn đề con người được Đảng ta quan tâm
trước hết là vấn đề giải phóng con người khỏi ách nô lệ. Ngày nay, trong công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vấn đề con người là vấn đề được Đảng ta quan
tâm hàng đầu. Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ tư khóa VII đã
khẳng định: "…Sự phát triển con người đã trở thành tiêu chí ngày càng quan trọng trong
việc xếp hạng các nước trên thế giới"[15 - 6]. Phát triển con người, thực chất là mô hình
con người phát triển toàn diện. Mục tiêu con người phát triển toàn diện - hài hòa không
phải đến thời kỳ đổi mới mới được Đảng ta đặt ra, mà là mục tiêu xuyên suốt của Đảng
cộng sản Việt Nam.Từ khi Đảng ra đời cho đến nay, cách nhìn toàn diện về phát triển
con người của Đảng đã xây dựng nên quan điểm phù hợp với xu thế đi lên của thời đại:
Con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Để con người thực sự trở thành động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội thì
chúng ta phải phát huy được nhân tố con người.
* Quan niệm về nhân tố con người
Nói tới nhân tố con người là nói tới vai trò, vị trí của con người trong tổ chức
quản lý xã hội thông qua hoạt động thực tiễn của nó trước hết là sản xuất vật chất. Nói
tới nhân tố con người cũng có nghĩa nói đến tính chất, ý nghĩa của nó như là một động
lực quan trọng nhất trong các nhân tố có quan hệ với phát triển. Nhân tố con người là
một nhân tố xã hội, thể hiện sức mạnh tổng hợp của chủ thể người trong quan hệ với
khách thể là xã hội mà hoạt động thực tiễn của nó đem lại sự phát triển tiến bộ cho xã
hội.
Vậy, nhân tố con người là toàn bộ những dấu hiệu riêng có, những yếu tố,
những mặt nói lên vai trò của con người như là chủ thể hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Nhân tố con người bao hàm toàn bộ tư chất, năng khiếu,
tài năng, phẩm chất ý chí của con người để nó đóng được vai trò là chủ thể hoạt động
sáng tạo xây dựng xã hội.
Nhân tố con người bao gồm các nội dung sau:

nhiều quan niệm về khái niệm nguồn nhân lực.
Theo thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Bộ Lao động thương binh và xã hội:
"Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia,
suy rộng ra có thể được xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng. Đây là
nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội"[5-13].
Theo khái niệm này, nguồn nhân lực được xác định bằng số lượng và chất
lượng của bộ phận dân số có thể tham gia vào hoạt động kinh tế - xã hội.
Theo quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam thì nguồn nhân lực được hiểu
là:
- Theo nghĩa rộng: Nguồn nhân lực (HumanRersources) là tổng thể các tiềm
năng (lao động) của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương đã
được chuẩn bị ở mức độ nào đó khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước hoặc một vùng, một địa phương cụ thể [72-22]. Với cách tiếp cận này, nguồn nhân lực như một bộ phận cấu thành các nguồn
lực của quốc gia, như nguồn lực vật chất (trừ con người), nguồn tài chính, nguồn lực trí
tuệ ("chất xám")… Những nguồn lực này có thể được huy động một cách tối ưu tạo
thành động lực để phát triển kinh tế - xã hội, ta có thể biểu đạt như sau:
Hình 1.1.
Xuất phát từ khái niệm trên và qua hình 1 ta thấy nguồn lực phát triển là một hệ
thống, mỗi một nhân tố trong hệ thống đó đều có vai trò riêng, trong đó nguồn lực con
người nằm ở trung tâm hệ thống. Bởi vì, các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất,
khoa học công nghệ mà không được con người phát hiện khai thác thì nó vẫn chỉ tồn

nói tới con người với tư cách là chủ thể hoạt động sáng tạo tham gia cải tạo tự nhiên,
làm biến đổi xã hội.
Chúng ta cũng có thể hiểu đầy đủ hơn về nguồn nhân lực thông qua khái niệm
phát triển nguồn nhân lực. Trong sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta, phát triển nguồn
nhân lực được hiểu là gia tăng giá trị con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng,
tâm hồn, thể lực làm cho con người trở thành những lao động có những năng lực và
phẩm chất mới ngày càng cao, để đủ sức đáp ứng những yêu cầu to lớn của quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay. Do vậy, phát triển nguồn nhân lực
còn bao hàm các mặt: giáo dục và đào tạo, việc làm, sử dụng lao động, chăm sóc nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần, xây dựng môi trường sống và lao động cho lực lượng
lao động. Phát triển nguồn nhân lực còn là các hoạt động (đầu tư) nhằm tạo ra nguồn
nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của
đất nước, đồng thời bảo đảm sự phát triển của mỗi cá nhân. 1.1.2. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng
về trạng thái, thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của
nguồn nhân lực. Nói cách khác là trình độ học vấn, trạng thái sức khỏe, trình độ chuyên
môn kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã hội… của nguồn nhân lực, trong đó
trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá phân loại chất
lượng nguồn nhân lực [72 - 71].
Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với
tư cách là một khách thể vật chất đặc biệt, đồng thời là chủ thể của mọi hoạt động kinh
tế và các quan hệ xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực là tổng hợp những nét đặc trưng
phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất và phát triển
con người.
Nói tới chất lượng nguồn nhân lực là nói tới nguồn lực con người, nguồn lực
lao động, không chỉ được biểu thị về số lượng mà còn biểu thị về chất lượng, nó được
thể hiện ở trình độ học vấn tay nghề, kỹ năng nghiệp vụ của người lao động, thể hiện

người là sự thể hiện tính cách, tâm lý sự giác ngộ, các giá trị văn hóa được kết tinh
trong người lao động. Đạo đức gắn liền với năng lực tạo nên những giá trị cơ bản của
nhân cách chất lượng người lao động, từ phương diện cá nhân đến phương diện xã hội
và biểu hiện ra ở ý thức lao động, thái độ lao động.
Ngoài thể lực, trí lực, đạo đức lối sống, cái làm nên chất lượng nguồn nhân lực
là kinh nghiệm sống, nhu cầu thói quen vận dụng tri thức tổng hợp và kinh nghiệm của mình vào các hoạt động sáng tạo, tạo ra các giải pháp mới đối với công việc như một
sáng tạo văn hóa. Xét theo ý nghĩa đó, chất lượng nguồn nhân lực bao gồm trong đó
toàn bộ sự phong phú, sâu sắc của các năng lực trí tuệ, năng lực thực hành, tổ chức và
quản lý, tính tháo vát và sự uyển chuyển của những phản ứng của con người trước hoàn
cảnh dựa trên sức mạnh của học vấn, kinh nghiệm, sự rộng mở các quan hệ xã hội, sự
tiếp thu tinh tế các ảnh hưởng văn hóa truyền thống từ gia đình tới xã hội. Nó kết hợp
với sức khỏe (thể lực) và dẫn dắt con người đi vào trường học thực tiễn của sáng tạo và
phát triển. Nói cách khác chất lượng nguồn nhân lực là một tập hợp các chỉ số phát triển
con người, là chất lượng văn hóa mà bản thân nó và xã hội có thể huy động vào sự sáng
tạo tiếp theo các giá trị văn hóa của toàn xã hội, vì lợi ích của cá nhân và toàn xã hội.
ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, nguồn lực con người đã được phát huy trên
nhiều lĩnh vực, góp phần tạo nên nhiều thành tựu quan trọng, đưa đất nước thoát khỏi
khủng hoảng kinh tế-xã hội và chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ CNH, HĐH.
Mặc dù nước ta đã thoát khỏi những khủng hoảng kinh tế xã hội, nhưng nhìn
chung nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế còn
thấp, kỹ thuật lạc hậu, đặc biệt nguồn nhân lực với tư cách là động lực của CNH, HĐH
chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH. Số người được đào tạo và số người
có tay nghề bậc cao còn thấp, số người có trình độ học vấn từ cao đẳng trở lên còn ít. Đó là
một khó khăn lớn cho việc tiếp thu khoa học hiện đại, tiên tiến. Mặt khác sức khỏe của
nhân dân còn nhiều mặt yếu kém. Nói tóm lại, bước vào sự CNH, HĐH ở nước ta nói
chung và Thanh Hóa nói riêng, chỉ số phát triển con người chưa phù hợp với yêu cầu
của CNH, HĐH. Vì vậy, cần phải phát triển nguồn nhân lực hơn nữa, phải tạo ra nguồn

mình bằng chính sức lực của mình, bằng chính nguồn nhân lực. Lênin cũng đã đánh giá "lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là
công nhân, là người lao động" [80 - 430].
Trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Đảng ta
đã phân tích các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay và khẳng định:
" Nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam có truyền thống yêu nước cần cù, sáng
tạo đó là nguồn lực quan trọng nhất" [81 - 5].
Đối với nước ta hiện nay, bước vào CNH, HĐH thì "Nguồn nhân lực" chính là
"Nguồn lực con người". Chính vì nguồn lực con người là nội lực quan trọng nhất cho sự
phát triển nên Đảng ta đã "lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho
sự phát triển nhanh và bền vững " [40-85].
Việt Nam phát triển đất nước trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế
giới. Vì vậy đòi hỏi Việt Nam phải tiến hành CNH, HĐH trong đó lấy việc phát triển
con người làm trung tâm. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình phát triển kinh tế -
xã hội từ thực trạng một nền sản xuất với năng suất chất lượng và hiệu quả thấp, dựa
vào sản xuất nông nghiệp, sử dụng lao động thủ công là chủ yếu chuyển sang một nền
sản xuất có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao dựa trên sản xuất công nghiệp và
những thành tựu mới của khoa học - công nghệ. CNH, HĐH cũng chính là một quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành có hàm lượng khoa
học - công nghệ cao, có giá trị tăng cao. Thực chất của CNH là sự phát triển công nghệ,
là quá trình chuyển nền sản xuất xã hội cả nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ từ trình
độ công nghệ thấp lên trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại. Trong giai đoạn hiện nay,
CNH, HĐH còn bao gồm những yếu tố của nền kinh tế tri thức. Như vậy, thực chất
CNH, HĐH chính là quá trình xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của nền sản xuất hiện
đại, xây dựng cái cốt vật chất của chủ nghĩa xã hội. Do đó, Đảng cộng sản Việt Nam đã
khẳng định CNH, HĐH: Đó không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỉ trọng của sản
xuất công nghiệp trong nền kinh tế, mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới


Sự nghiệp
công
nghiệp hoá
hiện đại
hoá ở Việt
Các
nguồn
lực
khác:
Nguồn
cơ sở
vật
chất -
k

Nguồn nhân
lực
Nguồn vốn
Nguồn
lực
nước

chỉ có thể phát huy tác dụng tích cực nếu con người sử dụng hợp lý vốn đó để phát triển
nền sản xuất. Vì vậy, nguồn vốn chỉ trở thành động lực quan trọng và cấp thiết cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa khi được con người sử dụng đúng mục đích và có
hiệu quả.
Từ sự phân tích vai trò quyết định của nguồn nhân lực trong mối quan hệ với
các nguồn lực khác, như vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, vốn, các nguồn lực khác…
thì nguồn nhân lực là nguồn lực duy nhất, biết tư duy có trí tuệ và ý thức để sử dụng các
nguồn lực khác và gắn các nguồn lực lại với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp cùng tác
động vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ hai, nguồn nhân lực có vai trò quyết định trong các nhân tố, các nguồn lực
của sự phát triển lịch sử. Trước hết là do năng lực sáng tạo, trí tuệ của bản thân con
người và cộng đồng người theo chiều hướng tiến bộ của lịch sử. Từ thế kỷ XVI, nhà
triết học Ph.Bêcơn đã đưa ra nhận định: Tri thức là sức mạnh, khoa học tăng quyền lực
của con người đối với tự nhiên. Đến giữa thế kỷ XIX, trên cơ sở phân tích vai trò của
khoa học trong sự phát triển xã hội, C.Mác kết luận: Việc biến khoa học thành lực
lượng sản xuất trực tiếp là một quy luật khách quan của sự phát triển xã hội. Điều đó đã
trở thành hiện thực. Những năm đầu thế kỷ XX tỷ lệ lao động chân tay trong sản phẩm
là 9/10 đến những năm 90 tỷ lệ đó giảm xuống chỉ còn 1/5 nhưng khối lượng sản phẩm
đạt gần gấp 50 lần so với 80 năm về trước. Con người với trí tuệ lao động đã và đang là tài
sản quý giá nhất, là nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia.
Vì vậy, so với các nguồn lực khác thì "chỉ có con người là nguồn lực chủ yếu, lâu bền trong
sự phát triển của đất nước và cũng chỉ có tri thức con người là một nguồn lực vô hạn có khả
năng tái sinh và tự tái sinh không bao giờ cạn kiệt. Nếu không có con người đủ trí tuệ và
năng lực khai thác thì các nguồn lực khác cũng sẽ không được sử dụng có hiệu quả" [82
- 75].
Mặt khác vai trò quyết định của nguồn nhân lực đối với các nguồn lực khác là
do nguồn nhân lực mà cốt lõi trí tuệ là nguồn lực vô hạn, luôn đổi mới không ngừng và
phát triển về chất, còn các nguồn lực khác như đất đai, tài nguyên, vốn… thì có hạn,

tài chính và phát huy nguồn lực đó, điều quan trọng nhất hiện nay là chăm lo phát triển

Trích đoạn Đào tạo người lao động là một quá trình không ngừng Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước trong công tác đào tạo người lao động Nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác giáo dục đào tạo Giải quyết việc làm Đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ của tỉnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status