Luận văn
Nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực của Viện nghiên cứu
khoa học lao động và xã hội
Mở Đầu
Trong thời đại ngày nay, khi mà công nghệ ngày càng phát triển, các
máy móc và trang thiết bị với công nghệ cao, với khả năng tự động hoá đang
dần thay thế cho con người. Các công việc từ nặng nhọc đến công việc đòi hỏi
kỹ thuật và chính xác, các máy móc trang thiết bị đều có thể xử lý một cách
dễ dàng. Nhưng bên cạnh đó, lại đòi hỏi những lao động có trình độ và tay
nghề cao để có thể sử dụng các trang thiết bị ngày càng tiên tiến và hiện đại.
Mỗi doanh nghiệp để phát triển được đều phải phát huy các nguồn lực
của mình như cac nguồn lực về con người, về nguyên liệu, trang thiết bị…
Trong đó, nguồn lực con người là quan trọng nhất. Nó có thể làm thay đổi các
nguồn lực còn lại và quyết định sự phát triển của doanh nghiệp. Chính vì lý
do đó, mà các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực để có thể tự đứng vững và phát triển và hơn nữa là phát triển bền
vững.
Trong giai đoạn hội nhập của nước ta, môi trường kinh doanh ngày
càng biến động mạnh mẽ, sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Trong khi điều
kiện về nguyên vật liệu và công nghệ của chúng ta còn yếu kém hơn rất nhiều
so với các quốc gia khác cho nên chúng ta phải không ngừng nâng cao trình
độ lao động để các doanh nghiệp Việt nam có thể trực tiếp cạnh tranh và
giành thắng lợi với đối thủ.
Vấn đề nâng cao chất lượng của Viện nghiên cứu khoa học lao động và
xã hội tuy mới được đề ra trong giai đoạn gần đây, đã đạt được không ít các
- Tên doanh nghiệp: Viện nghiên cứu lao động và xã hội
- Hình thức pháp lý: Doanh nghiệp Nhà nước (phân viện của Bộ lao động
thương binh và xã hội)
- Ngành nghề kinh doanh chính:
+ Nghiên cứu các vấn đề về lao động xã hội trên lãnh thổ Việt nam
+ Hợp tác và liên kết với các tổ chức quốc tế để hoàn thiện các vấn đề nghiên
cứu về lao động và xã hội
+ Phối hợp với các bộ, ban ngành có liên quan cùng tham gia nghiên cứu các
vấn đề về lao động và xã hội.
- Địa chỉ: số 2 Đinh lễ - Q. Hoàn kiếm - Hà nội
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp.
1.2.1 Lịch sử ra đời
Viện khoa học lao động được thành lập 14/4/1978 theo quyết định
79/CP của hội đồng chính phủ. Đến tháng 3/1978 Viện đổi tên thành Viện
khoa học và nghiên cứu xã hội theo quyết định 782/TTg 24/10/1996 của Thủ
tướng chính phủ về việc sắp xếp các cơ quan nghiên cứu - triển khai khoá học
và công nghệ, viện khoa học lao động và các vấn đề xã hội được xác định là
viện đầu tiên trực thuộc bộ lao động - thương binh và xã hội có nhiệm vụ
nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và cung cấp luận cứ phục vụ chính
sách chiến lược thuộc lĩnh vực lao động - thương binh và xã hội. Đến ngày
18/11/2002, trên cơ sở quán triệt kết luận của hội nghị lần thứ 6 của ban chấp
hành TW khoá X về tiếp tục thực hiện nghị quyết TW2 khoá VII, phương
hướng phát triển giáo dục - đào tạo khoa học và công nghệ từ nay đến 2005
và đến 2010, bộ trưởng bộ lao động - thương binh xã hội đã ký quyết định số
1445/2002 QĐ - BLĐTBXH đổi tên viện khoa học và các vấn đề xã hội thành
viện khoa học lao động và xã hội, đồng thời quy định chức năng, nhiệm vụ bộ
máy của viện cho phù hợp với thời kỳ tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá. 25
năm qua kể từ ngày thành lập đén nay, viện đã không ngừng phát triển và
trưởng thành để khẳng định vị trí của mình trong hệ thống các viện nghiên
nhiều khó khăn, nhưng nhìn chung phong trào thi đua học tập và nghiên cứu
được toàn thể cán bộ nghiên cứu của viện nhiệt tình hưởng ứng. Chính những
cán bộ này khi chuyển sang kinh tế thị trường lại là những tiên phong trong
học tập, đổi mới kiến thức và nhiều người trong số đó đang giữ những cương
vị chủ chốt trong bộ, trở thành những nhà khoa học đầu ngành.
- Thời kỳ sau đổi mới
Những năm 1986 - 1996, đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động nghiên
cứu của viện gắn với những năm đầu của thập kỉ 90 của công cuộc đổi mới
đất nước, đó là thời kỳ nhiều vấn đề trong lĩnh vực lao động thương binh và
xã hội đòi hỏi phải được đổi mới tư duy phù hợp với quá trình chuyển từ nền
kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, vận hành theo quy chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước,
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Xuất phát từ yêu cầu bức xúc của công tác
quản lý, nhất là phải từng bước quán triệt, cụ thể hoá và thể chế hoá các chủ
trương đường lối của Đảng về đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy về kinh tế,
về lao động và xã hội đặt ra cho viện nhiệm vụ hết sức nặng nề trong việc
hình thành cơ sở lý luận, phương pháp luận mới đáp ứng yêu cầu đổi mới của
ngành trong lĩnh vực lao động, đồng thời tham gia nghiên cứu giải quyết
những vấn đề bức xúc trong thực tiễn như giải quyết lao động dôi dư trong
sắp xếp các doanh nghiệp nhà nước, vấn đề việc làm cho lao động xã hội, cải
cách chính sách bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội. Đây là thời kỳ viện bắt đầu
hợp tác quốc tế, khởi đầu là dự án “tạo việc làm thông qua phát triển doanh
nghiệp nhỏ ở Việt nam” do SIDA của Thuỵ điển tài trợ, với sự hỗ trợ kỹ thuật
của ILO/ARTEP của trường kinh tế Stockholm và các hợp tác quốc tế, đa
phương, song phương và phi chính phủ. Các hợp tác quốc tế đã tạo điều kiện
cho viện tiếp cận với các lý luận, phương pháp luận, nhận thức mới của quốc
tế về lĩnh vực lao động và xã, hội đồng thời nâng cao uy tín của viện trong
nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế. Viện đã trở thành thành viên
mạng lưới các viện nghiên cứu lao động khu vực châu á thái bình dương kể từ
năm 1995.
nghiên cứu các lĩnh vực xã hội, tổng kết thực tiễn, xây dựng luận cứ khoa
học cho các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước. Nhiệm vụ mới đặt
ra những yêu cầu rất cao đối với sự nghiệp nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh
vực lao động và xã hội, đòi hỏi phải đổi mới toàn diện hoạt động nghiên cứu
khoa học của viện nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả nghiên cứu trong tình
hình mới, mục tiêu tổng quát là xây dựng viện đầu ngành hoạt động phù hợp
với đổi mới cơ chế quản lý của nghiên cứu khoa học và công nghệ của Nhà
nước trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, có tiềm lực nghiên cứu đủ mạnh, có khả năng giải quát kịp thời các vấn
đề lí luận, thực tiễn do cuộc sống đặt ra thuộc lĩnh vực lao động và xã hội
1.3 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật chủ yếu của doanh nghiệp
1.3.1 Sản phẩm, thị trường, khách hàng
- Sản phẩm: các đề tài nghiên cứu về lao động và xã hội trong và ngoài
lãnh thổ việt nam. Các đề tài cấp ngành, cấp bộ, cấp quốc gia đã được viện
nghiên cứu và thực hiện trong những năm qua đã đáp ứng được việc ra quyết
định chính xác của các cơ quan nhà nước. Các dự án cấp cơ sở của viện đã
giúp cho các doanh nghiệp trong nước cải thiện bộ máy làm việc nâng cao
hiệu quả sản xuất. Các đề tài của viện là các tài liệu tham khảo quan trọng
trong lĩnh vực lao động đáp ứng được yêu cầu của thực tế đặt ra
- Khách hàng: là các công ty, cơ quan tổ chức trong và ngoài nước
+ Khách hàng là các công ty như: công ty bia hà nội, tổng công ty may mặc,
giầy da thăng long…,
+ Các cơ quan trong nước như bộ thưong mại, bộ tài chính, cục tần số và đo
lường và các tỉnh thành
+ Các tổ chức quốc tế như: WB, UNDP, UNICEF, UNFPA, SIDA, viện lao
động Nhận bản JIL, viện FES của cộng hoà liên bang đức
1.3.2 Công nghệ, cơ sở, vật chất kĩ thuật và trang thiết bị
- Công nghệ: hiện nay công nghệ thông tin và các phần mềm tin học đang
phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Các ứng dụng của nó đã mang lại rất nhiều
hiệu quả, nâng cao năng suất, giảm lao động. Học hỏi và áp dụng các thành
tác và phát triển, khách hàng của viện giờ đây không chỉ là các tổ chức trên
thế giới mà còn có cả các tập đoàn, các công ty. Từ đó, viện có thể hợp tác
nhiều hơn nữa với các tổ chức trên thế giới. Trên cơ sở hợp tác thì viện có thể
học hỏi nhiều các thức nghiên cứu tiên tiến và hiện đại, nhiều phương pháp
thống kê mới. Bên cạnh những thuận lợi đó, thì có những khó khăn nhất định
đó là việc tham gia vào thị trường của các công ty nghiên cứu như: Taylor
Nelson Sofres (tns), AC nelson… đây là những đối thủ cạnh tranh trực tiếp
của viện trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai, vì vậy đòi hỏi viện phải
phấn đấu không ngừng để nâng cao chất lượng và hiệu quả các dự án. Muốn
làm được như thế, viện phải nâng cao trình độ của đội ngũ lao động, tiếp cận
đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và hiệu quả lao động, nâng cao trách
nhiệm và uy tín trên thị trường.
II. Kết quả hoạt động kinh doanh của viện
2.1 Đánh giá kết quả hoạt động của viện
2.1.1 Kết quả hoạt động năm 2004
Từ kết quả trên ta thấy đề tài cấp cơ sở có 5 đề tài chiếm 31.25%. Đề
tài cấp bộ có 4 đề tài chiếm 25%. Đề tài cấp nhà nước và hợp tác quốc tế có 7
đề tài chiếm 43.75%
Biểu đồ 1. tỉ lệ cấp đề tài
31.25
25
43.75
cấp cơ sở
cấp bộ
cấp nhà
nước
2.1.2 Kết quả năm 2005
Từ kết quả trên ta thấy có 4 đề tài cấp cơ sở chiếm 19.05%, 8 đề tài cấp
bộ chiếm 38.1%, đề tài cấp nhà nước và quốc tế có 9 đề tài chiếm 42.86%
10
15
20
25
30
2004 2005 2006
Số đề tàiVà chất lượng của các dự án cũng được tăng lên thể hiện qua việc tỉ lệ
của các dự án cấp cơ sỏ ngày càng ít đi và tỉ lệ của các dự án cấp nhà nước và
hợp tác quốc tế ngày càng tăng
Bảng 1.
Cấp đề tài 2004 2005 2006
Cơ s
ở
0.3125
0.1905
0.2143
Bộ 0.2500 0.3810 0.3214
Nhà nước và hợp tác quốc tế 0.4375 0.4286 0.4643
Biểu đồ 5. tỉ lệ các cấp đề tài
0%
10%
20%
- Lãnh đạo viện:
+ Viện trưởng: Nguyễn Hữu Dũng
+ Phó viên trưởng: Đào Quan Vinh
Doãn Mậu Diệp
Nguyễn Thị Lan Hương
LÃNH ĐẠO VIỆN
HỘI ĐỒNG
KHOA HỌC
TRUNG TÂM
NGHIÊN CỨU
MÔI
TRƯỜNG VÀ
ĐIỀU KIỆN
LAO ĐỘNG
PHÒNG
TỔ CHỨC -
HÀNH
CHÍNH -
T
ÀI
V
Ụ
- Phòng tổ chức hành chính tài vụ:
+ Trưởng phòng: Vũ Văn Đạt
+ Phó trưởng phòng: Lê Ngữ Bình
+Cán bộ: Ngô Lan Anh, Phạm Lê Anh, Nguyễn Công Tíên, Nguyễn Thị
Xuân
- Phòng kế hoạch tổng hợp đối ngoại:
+ Trưởng phòng: Đặng Kiên Trung
+ Phó trưởng phòng: Nguyễn Thị Bích Thuý
+ Cán bộ: Hoàng Anh Thư, Lê Hoàng Dũng, Hoàng Thị Anh, Võ Xuân Hằng
- Trung tâm dân số lao động việc làm
+ Giám đốc: Vũ Duy Dự
+ Cán bộ: Trần Thị Bích Thuỷ, Nguyễn Thu Hằng, Nguyễn Huyền Lê,
Nguyễn Trung Hưng, Lê Hồng Thao, Hoàng Tiến Tường, Nguyễn Thị Lan,
Lưu Quang Tuấn, Lê Đăng Giảng, Hoàng Thị Minh, Chử Thị Lân
- Trung tâm nghiên cứu lao động nữ và giới:
+ Giám đốc: Phan Thị Thanh
+ Cán bộ: Trần Văn Sinh, Nguyễn Bạo Cường, Trịnh Thu Nga, Nguyễn Ngọc
Khiêm, Đổ Lộng Đẩu, Nguyễn Khắc Tuấn, Nguyễn Thị Minh Huệ, Đào Ngọc
Nga
- Trung tâm nghiên cứu điều kiện môi trường và điều kiện lao động
+ Giám đốc: Nguyễn Đức Hùng
+ Phó giám đốc: Dương Danh Mạnh
+ Cán bộ: Đỗ Đăng Thanh, Ngô Vân Hoài, Lưu Lan Anh, Nguyễn Văn Dư,
Phạm Minh Thu
- Phòng nghiên cứu quan hệ lao động
+ Trưởng phòng: Nguyễn Quang Huề
+ Cán bộ: Trần Thị Vân Hà, Nguyễn Tuấn Danh, Nguyễn Tín Nhệm, Trần
Hữu Dụng, Trần Văn Hoan, Nguyễn Bích Ngọc, Đỗ Lan Anh
- Phòng chính sách ưu đãi và xã hội
+ Trưởng phòng: Lê Thị Hà
Nghiên Cứu
Viên
Nghiên Cứu
Viên
Nghiên Cứu
Viên
Nghiên Cứu
Viên
Nghiên Cứu
Viên
Nghiên Cứu
Viên
Nghiên Cứu
Viên
Chủ Nhiệm Dự
Án
Phó Chủ
Nhiệm Dự Án
Phó Chủ
Nhiệm Dự Án
Kế Toán
Phụ Trách
Trang Thiết Bị
Phụ Trách Kỹ
phù hợp với các yêu cầu mới
Đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ, cơ chế khuýên khích cán bộ học lên trình
độ cao hơn cũng như các cán bộ có thành tích trong việc nâng cao trình độ
ngoại ngữ, vi tính đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và hội nhập
3.3 Các mặt quản trị khác
3.3.1 Quản trị sự thay đổi trang thiết bị
Bảng 2. Sự thay đổi thiết bị trong năm 2006
Tên trang thiết bị
Số đầu
năm
Thay đổi trong năm
Số cuối
năm
Mua
mới
Hỏng
S
ửa
chữa
Máy tính cá nhân 58 7 2 1 64
Máy tính xách tay 6 0 0 0 6
Máy in 17 4 1 0 20
Máy photo 5 0 0 0 5
Máy chiếu 3 1 0 0 4
Ô tô 2 0 0 0 2
Một số trang thiết bị
khác
điều rất quan trọng đối với các doanh nghiệp này là phải có được chữ tín, phải
có thái độ thanh lịch đáng mến và phải có tài khéo léo trong giao tiếp. Đó là
những yêu cầu phải có để đi tới kết quả tốt đẹp, và lẽ dĩ nhiên điều đó có quan
hệ chặt chẽ với chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
Đối với một doanh nghiệp sản xuất, chất lượng nguồn nhân lực ảnh
hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm cũng như năng suất lao động. Xét về
chất lượng sản phẩm, ngoài sự ảnh hưởng của máy móc thiết bị ra nó còn phụ
thuộc rất nhiều vào tay nghề của người lao động cũng như thái độ của họ đối
với công việc. Cùng với sự phát triển của sản xuất, nhu cầu của con người
ngày càng phong phú và đa dạng, sản phẩm sản xuất ra ngày càng nhiều hơn,
và đặc biệt chất lượng ngày càng cao hơn. Điều đó chỉ có thể có được do loại
lao động trình độ cao sản xuất ra. Khi một doanh nghiệp áp dụng một dây
truyền công nghệ hiện đại, với máy móc thiết bị mới, nó đòi hỏi sự chuyên
môn hoá cao và khả năng làm việc tận tâm của người lao động. Xét về năng
suất lao động, ta có thể thấy rằng, cùng một điều kiện làm việc như nhau năng
suât lao động ở nơi có nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ hơn hẳn ở nơi có
chất lượng nguồn nhân lực thấp hơn
Nói tóm lại, chất lượng nguồn nhân lực có một vai trò rất quan trọng
trong việc tạo ra kết quả của quá trình lao động trong mọi doanh nghiệp. Một
doanh nghiệp muốn thành công thì điều đầu tiên là phải giúp các cá nhân
trong doanh nghiệp nhận thức được ý nghĩa của kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh và ảnh hưởng của nó đối với chính bản thân họ. Từ đó, vấn đề
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không chỉ xuất phát từ nhu cầu sản xuất
nữa mà còn xuất phát từ chính nhu cầu của con người, điều đó sẽ tạo điều
kiện tốt cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp
1.2.2. Chất lượng nguồn nhân lực ảnh hưởng tới cơ cấu tổ chức sản xuất
kinh doanh
Tổ chức sản xuất kinh doanh là việc lập ra một hệ thống chính thức
gồm các vai trò nhiệm vụ mà con người có thể thực hiện, sao cho họ có thể
cộng tác một cách tốt nhát với nhau để đạt được các mục tiêu của doanh
hút, sử dụng thúc đẩy, phát triể và duy trì một lược lượng lao động làm việc
có hiệu quả.
Thông thường, nói tới quản lý lao động (quản trị nhân lực) là ta nới tới
sự tác động liên tục có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý (chủ doanh
nghiệp ) lên đối tượng quản lý (là toàn bộ nguồn nhân lực trong doanh nghiệp
)có tính tới sự tác động qua lại của các hệ thống khác, nhằm đạt mục tiêu
chung của hệ thống (doanh nghiệp )đặt ra một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất
trong một môi trường đầy biến động.
Sự thành công của công tác đó bị ảnh hưởng nhiều bởi chất lượng
nguồn nhân lực mà họ quản lý. Hơn nữa, bản thân chủ thể quản lý muốn nhìn
thấy trước sự thành công, ít nhất họ cũng phải tuyển chọn cho mình một đội
ngũ phù hợp ngay từ đầu, sau đó là phải tính đến việc nâng cao nó lên cho
theo kịp sự phát triển của thời đại. Như vậy có thể thấy rằng chất lượng nguồn
nhân lực có vai trò lớn đối với việc quản lý nguồn nhân lực. Nhưng phải nhận
thấy rằng, ở đây ró ràng có mối quan hệ tác động hai chiều giữa hai yếu tố đó. 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực
1.3.1. Các yếu tố từ môi trường
-Các yếu tố xã hội, dân cư và tự nhiên:
Các yếu tố này bao gồm truyền thống, tập quán, thói quen, lễ nghi và
nghệ thuật ứng xử, các quy phạm tư tưởng và đạo đức, các hiện tượng và quy
luật khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng. của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, tầng
lớp dân cư và quốc gia. Các yếu tố này tạo nên lối sống, văn hoá và môi
trường hoạt động xã hội của con người nói chung và người lao động trong
doanh nghiệp nói riêng. Nó góp phần hình thành và làm thay đổi không chỉ về
số lượng mà cả về cơ cấu nguồn nhân lực, triết lý và đạo đức kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Các yếu tố cơ cấu lao động xã hội
Các nhà quản lý phải nắm bắt đợc sự biến động này, từ đó lao động xã
và đào tạo ngày một tăng, các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề
được mở ngày càng nhiều.
- Môi trường pháp lý
Bao gồm bộ luật lao động, các văn bản pháp luật có liên quan đến vấn
đề lao động, sử dụng lao động, đây là yếu tố cần thiết làm cơ sở pháp lý cho
các doanh nghiệp giải quyết tốt các mối quan hệ giữa người lao động, là tiền
đề cho các doanh nghiệp xây dựng các tiêu chuẩn pháp lý khi hình thành,
củng cố và phát triển nguồn nhân lực .