Đánh giá kinh tế các lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới doc - Pdf 15

Đánh giá kinh tế các lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới Camille Bann
Biên dịch : Nhóm 8
1
ĐÁNH GIÁ KINH TẾ CÁC LỰA CHỌN SỰ
DỤNG ĐẤT RỪNG NHIỆT ĐỚI

CAMILLE BANN
Đánh giá kinh tế các lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới Camille Bann
Biên dịch : Nhóm 8
2
PHẦN A :
ĐỊNH GIÁ KINH TẾ KINH TẾ MÔI TRƢỜNG

1.0. LÝ DO CƠ BẢN CỦA VIỆC ĐỊNH GIÁ KINH TẾ MÔI TRƢỜNG

Chủ đề trung tâm của kinh tế môi trƣờng, cũng nhƣ quyết định chủ yếu cho việc
phát triển bền vững, là nhu cầu phải đặt ra một giá trị thích hợp cho các hàng hóa và
dịch vụ môi trƣờng. Vấn đề của việc định giá tài nguyên môi trƣờng là rất nhiều trong
số đó có giá bằng không bởi vì không tồn tại một thị trƣờng nào mà trong đó giá trị

quan trọng đối với những ngƣời đƣa ra những quyết định gây ảnh hƣởng môi trƣờng
nếu các lựa chọn tối ƣu đƣợc đƣa ra. Việc so sánh giữa các chọn lựa không thể thực
Đánh giá kinh tế các lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới Camille Bann
Biên dịch : Nhóm 8
3
hiện một cách công bằng, trừ phi có đủ các lọai phí và lợi ích của dự án bao gồm cả tác
động môi trƣờng, đƣợc tính toán một cách đầy đủ. Một dự án tồi có thể đƣợc lựa chọn
và các dự án hợp lý sẽ không đƣợc xem xét.

2.0. NGUYÊN TẮC CƠ BẢN ĐỂ XÁC ĐỊNH CÁC GIÁ TRỊ KINH TẾ :
Đối với nhà kinh tế, sự khan hiếm là cái tạo ra giá trị cho hàng hóa và dịch vụ. Ở
đâu có thị trƣờng hàng hóa và dịch vụ tồn tại thì ở đó sự khan hiếm đƣợc đo bằng giá
cả. Thị trƣờng là nơi cung cấp sản phẩm dịch vụ đáp ứng đƣợc nhu cầu đặt ra. Giá cả
thị trƣờng đƣợc xác lập thông qua sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ ở nơi mua bán, và sự
ảnh hƣởng lẫn nhau giữa giá trị sản xuất (cung) và giá trị tiêu dùng (cầu).

Về lý thuyết, một thị trƣờng “hiệu quả” phải có sự cạnh tranh cao với nhiều
ngƣời mua và nhiều ngƣời bán, tất cả họ đều có những thông tin đầy đủ về thị trƣờng.
Một thị trƣờng nhƣ vậy, hàng hóa và dịch vụ đƣợc định giá bằng giá trị biên của sản
phẩm và phản ánh chi phí cơ hội của việc sử dụng nguồn tài nguyên. Một giá hoàn hảo
đạt đƣợc khi giá đó rõ ràng trên thị trƣờng để cung bằng cầu, tính hiệu quả ở đây đề cập
đến việc tối đa hóa lợi ích xã hội từ việc sử dụng nguồn tài nguyên (IIED 1994).

Theo cách đó, giá cả đóng vai trò nhƣ dấu hiệu của chi phí cơ hội của việc sử
dụng nguồn tài nguyên khan hiếm để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ, là lợi ích liên
quan mà ngƣời tiêu dùng có đƣợc từ hàng hóa và dịch vụ.
Ở đâu mà thị trƣờng hoạt động tốt giá cả sẽ đƣa ra chỉ dẫn đáng tin cậy cho sự
khan hiếm hàng hóa. Tuy nhiên, rất quan trọng để nhận ra rằng thị trƣờng thất bại bởi
một số lý do và bởi thế nên giá thị trƣờng không tƣợng trƣng cho giá trị thật (sự khan
hiếm) của hàng hóa hay dịch vụ.

Nghiêm túc mà nói, đƣờng cầu tìm thấy WTP cho lƣợng hàng hóa hay dịch vụ
thêm vào ( hay biên tế). Do đó đƣờng cầu là một bảng thống kê về mức sẵn lòng trả.
Chi phí biên, hay lợi nhuận biên là phần chênh lệch trong tổng chi hay thu từ mức tăng
hay giảm trong lƣợng cung cấp hay tiêu dùng. Đƣờng cung và đƣờng cầu càng dốc thì
chi phí biên và lợi nhuận biên càng cao. Các chênh lệch trong thặng dƣ ngƣời tiêu dùng
và nhà sản xuất đƣợc dùng để đo lƣờng tổng hiệu quả trợ cấp xã hội. Nếu chênh lệch
này dƣơng, nó là lợi nhuận. Nếu chênh lệch âm thì nó là tổn thất.

Toàn bộ khu vực nằm dƣới đƣờng cầu biểu diễn cho Thặng dư người tiêu dùng.
Nếu giá cả đƣợc cố định ở P, thặng dƣ ngƣời tiêu dùng sẽ bằng khu vực nằm trên giá
này, tức trên P, và dƣới đƣờng cầu, nghĩa là khu vực D-P1-P. Trong trƣờng hợp này
việc định giá sẽ hạ thấp giá trị của những tài sản đƣợc yêu cầu.
Việc định giá đúng là mức sẵn lòng trả tối đa của mỗi ngƣời để ngăn chặn sự
suy thoái môi trƣòng hay nhận rõ lợi ích từ môi trƣờng ( đƣợc biểu diễn bởi khu vực
dƣới đƣờng cầu).
P1
Số lượng cung cấp
hoặc nhu cầu
O
S
D
P
S1
Giá cả hoặc giá trị
D1
Q
Đánh giá kinh tế các lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới Camille Bann
Biên dịch : Nhóm 8
5
Giá trị kinh tế bao gồm giá phải trả trên thị trường và thặng dư người tiêu dùng

hóa bằng cách nào đó, sự chuyển nhƣợng tài chính phải đƣợc sắp xếp giữa ngƣời gây
phạm và nạn nhân. Tuy nhiên, trong thực tế thì chính phủ thƣờng can thiệp và làm cho
tình huống xấu đi. Từ một thất bại chính sách bao gồm những điều bỏ sót và các ủy ban
Hội đồng. Đây không chỉ là thất bại trong việc sửa chữa các biến dạng thị trƣờng và các
định kiến, mà còn tạo ra các biến dạng mới hoặc làm cho các tình trạng hiện có xấu đi
đó là kết quả của các chính sách không thích hợp.
Thất bại chính sách xảy ra khi :
(i) Thiếu sự can thiệp của các chính sách cần thiết để sửa chữa thất bại thị
trƣờng hoặc sửa chữa quá đáng hoặc là không sửa chữa gì cả (ví dụ:
thiếu sự quản lý các khu rừng khai thác tự do)
Đánh giá kinh tế các lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới Camille Bann
Biên dịch : Nhóm 8
6
(ii) Các quyết định của chính phủ - thay đổi quyền kiểm soát, định giá mức
lƣơng và mức trợ cấp, các khoảng trợ cấp hoặc thuế, điều này tạo ra
động cơ thúc đẩy việc sử dụng rừng không bền vững, các cách cải tạo
đất đai không thích hợp thì sẽ gây ra sự chiếm hữu không bảo đảm, sự
quốc hữu hóa đất rừng mà không có công cụ điều hành và quản lý – là
nguyên nhân của sự biến dạng giá cả thị trƣờng. KHUNG A1.1:
ƢỚC TÍNH LỢI TỨC THẤP VÀ MỨC SẴN LÒNG TRẢ
Mức sẵn lòng trả (WTP) biểu thị mức thõa dụng của một ngƣời đối với chất
lƣợng môi trƣờng, và nó bị ảnh hƣởng bởi một vài yếu tố đặc trƣng, bao gồm thu nhập
cá nhân, giới tính, sở thích văn hóa, giáo dục, tuổi tác.
Mặc dù ƣớc đoán tài chính của WTP có thể có giá trị thấp ở các nƣớc đang phát
triển khi so sánh với các nƣớc phát triển, nó không có nghĩa là ngƣời dân ở những nƣớc
đang phát triển hoàn toàn có giá trị tài nguyên môi trƣờng thấp.
Nhiều cá nhân ở những đất nƣớc có thu nhập thấp đƣợc chỉ dẫn sử dụng phần

Nhiều tài sản môi trƣờng đƣợc định giá bởi xã hội, nhƣ không khí sạch, cảnh
quan thiên nhiên và đa dạng sinh học; không đƣợc mua và bán trên thị trƣờng. Dẫn đến
nhiều tài sản môi trƣờng không có giá. Nếu không bị kìm hãm lại bởi những giới hạn
thì các cá nhân không có lý do gì để giảm mức sử dụng những tài sản đó, hay để đầu tƣ
vào bảo tồn và phát triển chúng.

Trong một số trƣờng hợp, nguồn tài nguyên không đƣợc định giá bởi vì chúng là
hàng hóa công cộng và sẽ khó hay thậm chí không thể định giá chúng. Hàng hóa công
cộng là thứ sẵn có cho mọi ngƣời và không thể từ chối ai. Do vậy chúng là những
nguồn tài nguyên tự do khai thác (open access resources). Trong trƣờng hợp nhƣ vậy,
đầu tƣ sẽ không sinh lãi vì sự khó khăn khi thu phí từ ngƣời tiêu dùng. Ở đây chẳng có
lý do gì để ngƣời sử dụng tránh không sử dụng vì sẽ có những ngƣời khác nhảy vào
thay thế ngay. Đặc tính này của hàng hóa công cộng đƣợc gọi là không có tính độc
chiếm.

Đối với hàng hóa công cộng cạn kiệt, sự sử dụng của một ngƣời là trả giá bằng
sự sử dụng của những ngƣời khác (ví dụ, sử dụng rừng để lấy củi đốt và gỗ, săn bắt thú
hoang dã, khai thác hải sản, sử dụng nƣớc tƣới tiêu, chăn thả súc vật trên những đồng
cỏ). Một số suy thoái môi trƣờng nghiêm trọng nhất xảy ra do nguồn tài nguyên cạn
kiệt, nhƣng trên thực tế là không kiểm soát. Hoàn cảnh đó đƣợc gọi là Thảm cảnh của
dân chúng (nó áp dụng cho nguồn tài nguyên tự do khai thác và có thể phóng đại vấn đề
trong trƣờng hợp mà ở đó có những hệ thống hiệu quả - thƣờng thuộc truyền thống- của
quản lý tài nguyên tài sản chung).

Không còn nghi ngờ gì nữa, thảm cảnh của dân chúng là điều sẽ xảy ra mà ngƣời
sử dụng những nguồn tài nguyên chung ( ví dụ : đồng cỏ) không thể hoặc không sẵn
lòng liên kết với nhau để đồng ý cho một hệ thống quản lý tồn tại. Trong khi mỗi ngƣời
trong họ có một thời hạn rất ngắn sử dụng cực đại nguồn tài nguyên chung, thì càng có
lý do mạnh mẽ hơn để giữ gìn chúng trong một thời gian dài dù cho điều đó có nghĩa là
đồng ý với sự giới hạn trong tiếp cận.

vậy thì thị trƣờng sẽ không hoàn hảo. Chức năng của thị trƣờng là dấu hiệu nổi lên sự
khan hiếm nhƣ là các nguồn tài nguyên môi trƣờng. Bởi vì các qúa trình bị hiểu nhầm
trầm trọng, những thay đổi (và hàm ý của nó) có thể không đƣợc nhận thấy kịp thời đối
với giá cả hoạt động. Tầm nhìn thiển cận làm trầm trọng thêm vấn đề này. Hầu hết các
cá nhân đều có kế hoạch ngắn hạn, nghĩa là họ phải tập trung cao độ các mối quan tâm
đến phúc lợi có đƣợc từ chính sách xảy ra trong tƣơng lai gần. Lợi ích sau 30 năm của
việc trồng cây không ảnh hƣởng lớn đến hầu hết các quyết định của cá nhân. Kết quả là
cả lợi ích và chi phí dài hạn đều có xu hƣớng bị giảm giá nặng nề khi các đƣa ra quyết
định. Những dự án môi trƣờng đặc biệt có nguy cơ chịu những định kiến này.

Thị trƣờng thất bại khi các tiến trình môi trƣờng không thể đảo ngƣợc hay hủy
bỏ. Nếu tƣơng lai không chắc chắn thì cần thiết mở ra những lựa chọn phát triển tƣơng
lai. Nếu một thung lũng hấp dẫn bị ngập lụt có thể gợi nên kế hoạch làm thủy điện, xã
hội làm mất đi quyền lựa chọn bảo tồn cảnh quan dành cho thế hệ tƣơng lai. Thay vì
vậy vẫn có thể duy trì đƣợc lựa chọn bảo tồn bằng cách sử dụng trạm nhiệt năng, nhƣng
thị trƣờng sẽ hƣớng đến dự án thủy điện nếu nó rẻ hơn. Nói cách khác thị trƣờng sẽ lờ
đi những giá trị lựa chọn mà bị hủy đi bởi việc xây đập. Đây là một vấn đề rất quan
trọng trong thực tế bởi vì xã hội đang tăng dần mối quan tâm về chất lƣợng môi trƣờng
còn có nghĩa là giá trị lựa chọn đang tăng lên trong suốt thời gian này.
Đánh giá kinh tế các lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới Camille Bann
Biên dịch : Nhóm 8
9
PHẦN B
ĐÁNH GIÁ KINH TẾ NHỮNG LỰA CHỌN SỬ DỤNG
ĐẤT RỪNG NHIỆT ĐỚI

1.0 . VIỆC ĐỊNH GIÁ KINH TẾ CỦA CÁC LỰA CHỌN SỬ DỤNG ĐẤT RỪNG
NHIỆT ĐỚI KHÁC NHAU
Quyết định của việc sử dụng đất rừng nhƣ thế nào là một vấn đề kinh tế. Mọi
chọn lựa sử dụng đất rừng - để giữ gìn nó tránh khỏi những tác động của con ngƣời

trƣờng và vì thế thƣờng bị lờ đi trong các quyết định sử dụng. Ví dụ, giá thị trƣờng của
đất rừng chuyển sang đất nông nghiệp thƣờng thất bại trong việc phản ánh lợi ích môi
trƣờng mất đi nhƣ là bảo vệ lƣu vực sông có thể quan trọng hơn. Vì thế các lựa chọn sử
Đánh giá kinh tế các lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới Camille Bann
Biên dịch : Nhóm 8
10
dụng đất có khuynh hƣớng thiên về lựa chọn hƣớng phát triển. Mặc dù vậy, nếu các chủ
sở hữu trả chi phí xã hội đầy đủ cho việc phát triển đất rừng (nghĩa là các chi phí xã hội
và phí môi trƣờng còn lại ngoài khung dự án) một ít đất sẽ đƣợc chuyển đổi hoặc đƣợc
khai thác.

Nhiệm vụ của các nhà phân tích là phải tính toán một cách rõ ràng và đầy đủ cho
các dịch vụ và sản phẩm môi trƣờng không có tính thƣơng mại ở rừng nhiệt đới. Nếu
đánh giá sai lầm sẽ dẫn đến các dự án và chính sách rừng không thích hợp. Rõ ràng,
đây không phải là cuộc tranh cãi cho việc bảo vệ rừng, mà phải cần có những quyết
định hợp lý hơn trong việc thực hiện dự án. Việc bảo tồn không hẳn là lựa chọn kinh tế
cần thiết nhất trong trƣờng hợp này, thậm chí khi những giá trị không mang tính thƣơng
mại đƣợc xem xét một cách rõ ràng. Nếu nguồn lợi từ việc thay thế các mục đích sử
dụng rừng cao hơn là để rừng nguyên vẹn, thì sự cải tạo vẫn phải đƣợc đảm bảo. Tuy
nhiên, cần thiết để những quyết định nhƣ vậy đầu tiên sẽ đƣa vào xem xét tổng hàng
hóa và dịch vụ đƣợc rừng cung cấp, ảnh hƣởng tới cộng đồng và tác động lên sự bền
vững của hệ thống môi trƣờng đƣợc chu cấp bởi rừng.

Cuốn sách này trình bày một phƣơng pháp luận cho việc so sánh các chọn lựa sử
dụng đất rừng khác nhau bằng cách dùng Phân tích chí phí và lợi ích (CBA). Nơi mà
những công việc tính toán không dùng để so sánh các lựa chọn sử dụng đất khác nhau,
hơn là để đánh giá tác động những hoạt động lâm nghiệp hay định tổng giá trị kinh tế
của chỉ một cách sử dụng đơn thuần, thì đánh giá tác động môi trƣờng hay đánh giá
tổng giá trị kinh tế nên đƣợc dùng đến hơn là CBA (Phần B15). Tuy nhiên, phƣơng
pháp luân và lý thuyết này đƣợc trình bày trên CBA, kết hợp với thảo luận về kỹ năng

đó có rất nhiều cách sử dụng khác nhau. Nếu chúng không đƣợc sử dụng cho một dự án
riêng biệt thì chúng có thể đƣợc dùng cho những mục đích khác, một số trong đó sẽ
đem lại tỷ lệ lãi suất cao rõ rệt. Nơi nguồn tài nguyên (nguồn vào) có nhiều cách sử
dụng khác nhau, hiển nhiên chúng không thể bị cho là miễn phí hay là duy nhất dành
riêng để tiến hành dự án. Mỗi nguồn vào đều có một chi phí cơ hội riêng và chỉ nên góp
phần vào sản lựơng của dự án càng ít càng tốt vì nó có thể sử dụng trong sự lựa chọn tốt
nhất kế tiếp (chi phí cơ hội là lợi ích bỏ qua (cơ hội mất đi) khi quyết định thực hiện
một dự án nào đó). Tuy nhiên, điều đó không đủ để chắc chắn lợi nhuận của dự án A.
Chi phí cơ hội khi quyết định làm dự án A phải đƣợc tính đến. Chi phí cơ hội cân bằng
với những lợi nhuận mà lựa chọn tốt nhất kế tiếp mang lại.

Chi phí cơ hội của việc chọn A do đó chính là lãi ròng của chọn lựa B (phƣơng
án tốt nhất tiếp theo). Lãi ròng của A (Nba) phải cao hơn lãi ròng của B (NBb) nếu A là
lựa chọn sử dụng đất đƣợc ƣu tiên hơn.
NBA – NBb > 0 (2)
Ví dụ nhƣ, ta xét hai trƣờng hợp sử dụng đất rừng : A (cải tạo cho nông nghiệp)
và B (duy trì sự bền vững truyền thống). Nếu : rừng bị chặt trụi cho nông nghiệp (lựa
chọn A), không chỉ bao gồm chi phí trực tiếp của việc cải tạo (nhƣ : chặt phá và thiêu
trụi rừng, hình thành những ruộng rẫy) nhƣ một phần chi phí sử dụng đất mà còn kể cả
những lợi ích (Chi phí cơ hội) của khu rừng trƣớc khi cải tạo. Nếu không cải tạo, rừng
có thể đƣợc bảo tồn gần với tình trạng thiên nhiên thông qua sử dụng hạn chế và bền
vững (lựa chọn B). Những lợi ích đã biết liên quan đến chọn lựa A có thể bao gồm cả
sự mất đi các chức năng cơ bản của môi trƣờng (ví dụ : bảo vệ lƣu vực sông và điều
hòa khí hậu) và các tài nguyên ( ví dụ : gỗ cứng có tính thƣơng mại cao, các sản phẩm
không từ gỗ, đời sống hoang dã).

Một điểm quan trọng mà nhà phân tích phải nhớ là có thể không cần thiết để ƣớc
tính tất cả những giá trị liên quan đến lựa chọn B. Một công việc nhƣ vậy sẽ là sự lãng
phí thời gian. Đó là vì việc định giá của một số ít trong số những giá trị đã biết của rừng
đã đủ để cho thấy rằng chọn lựa A là không kinh tế. Vậy nên thật quan trọng phải xếp


CBA vạch ra sự khác biệt giữa giá trị tài chính và giá trị kinh tế.
Phân tích tài chính thƣờng là bƣớc đầu tiên trong việc đánh giá chi phí và lợi ích
tiền tệ của dự án hay các lựa chọn sử dụng đất. Phân tích tài chính đƣợc vạch ra bởi nhà
đầu tƣ đặc biệt quan tâm đến chi phí và lợi nhuận đối với dự án của anh ta. Vì vậy nó
đo lƣờng lợi nhuận của công ty dựa trên giá cả thị trƣờng. Trong khi phân tích tài chánh
có giá trị trong việc góp phần phát triển khu vực tƣ nhân nhƣng lại không trả lời đƣợc
vấn đề giá cả thị trƣờng có thích hợp và phản ánh đúng giá trị thực tế hay không. Bất cứ
thất bại thị trƣờng hoặc chính sách nào sẽ tạo ra sự tính toán không chính xác cái mà có
thể bóp méo giá cả thị trƣờng.(Xem phần A2.1)

Phân tích kinh tế đi xa hơn phân tích tài chánh để nhận thấy đƣợc chi phí và lợi
ích kinh tế của một dự án dựa trên phúc lợi xã hội. Bởi vì vậy nó kiểm tra tấ cả các tác
động của dự án bao gồm các hậu quả môi trƣờng.
Phân tích kinh tế đòi hỏi nhiều điều chỉnh khác nhau cho giá cả tài chính để điều
chỉnh thị trƣờng không hoàn hảo, chính sách không rõ ràng và phân phối không công
bằng. Mục đích là để ƣớc lƣợng giá ngầm hay chi phí xã hội biên tế.

Đánh giá kinh tế các lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới Camille Bann
Biên dịch : Nhóm 8
13
2.2. PHƢƠNG PHÁP TRÌNH BÀY MỘT PHÂN TÍCH CHI PHÍ LỢI ÍCH CỦA
NHỮNG LỰA CHỌN SỬ DỤNG ĐẤT RỪNG NHIỆT ĐỚI KHÁC NHAU
Việc đánh giá kinh tế đối với những lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới khác
nhau bằng CBA liên quan tới một số bƣớc phân tích. Dƣới đây là phần tóm tắt và sẽ
đƣợc thảo luận chi tiết hơn ở các phần sau của cuốn sách này.
Trong khi các bƣớc phân tích đƣợc trình bày tuần tự thì việc thực hiện thật sự

Bƣớc 13 : So sánh các phƣơng án khác nhau dựa trên các tiêu chuẩn đầu tƣ đã
chọn.
Bƣớc 14 : Nhận dạng các biến số với tính không ổn định và rủi ro cao (Xem
phần B11)
Đánh giá kinh tế các lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới Camille Bann
Biên dịch : Nhóm 8
14
Bƣớc 15 : Thực hiện phân tích nhạy cảm để trình bày những điều chắc chắn xảy
ra khác nhau có ảnh hƣởng đến kết quả nhƣ thế nào.
Kinh nghiệm cho thấy các dự án thƣờng xảy ra trái với những gì mong đợi. Phân
tích nhạy cảm cố gắng tập trung vào những sự kiện có ảnh hƣởng lớn nhất đến kết quả
dự án. Môi trƣờng cũng nhƣ tài chính nên đƣợc đƣa vào làm những biến chính của dự
án (trong phân tích nhạy cảm). Phân tích xác suất nên dẫn dắt cho các biến khác đƣợc
nhận ra thông qua phân tích nhạy cảm nhƣ là các tác động quan trọng lên tiêu chuẩn
đầu tƣ.
Bƣớc 16 : Kết hợp tiền bồi thƣờng đƣợc phân chia (Xem B12).
Bƣớc 17 : Báo cáo các sai sót, định kiến, điều không chắc chắn. (Xem B13)
Phân tích rủi ro và nhạy cảm nên đƣợc đƣa ra để bao quát lợi ích và chi phí môi
trƣờng không thể định giá.
Bƣớc 18 : Kết hợp các kết quả giá trị kinh tế của những tác động môi trƣờng
thành phân tích dự án kinh tế.
Các kết quả này nên đƣợc kết hợp thành tài liệu hoạch định sơ bộ cho dự án, bao
gồm bảng tóm tắt dự án – đƣợc trình bày ở các hội nghị quản trị và trong suốt phân tích
dự án kinh tế.
Bƣớc 19 : Đƣa ra kết luận cho việc đầu tƣ hay chính sách. Mục tiêu của phân
tích kinh tế chính là chỉ ra cho nhà hoạch định chính sách các lựa chọn mang tính khả
thi.

Khung B3.1 TÓM TẮT CÁC BƢỚC TIẾN HÀNH PHÂN TÍCH CHI PHÍ LỢI
ÍCH (CBA)

này giữ một vị trí quan trọng và đòi hỏi có sự hiểu biết về khu rừng trƣớc khi định giá,
nghĩa là loại rừng và các vấn đề phát triển liên quan tới vùng đó (ví dụ liệu khu rừng
này có gỗ thƣơng mại cao hay không, hay là nó có đóng vai trò quan trọng là đƣờng
phân chia nƣớc và mức độ ảnh hƣởng đến các cộng đồng ở khu vực này).

Phƣơng pháp so sánh kinh tế sẽ bao gồm so sánh hai hay nhiều lựa chọn sử dụng
đất rừng nhiệt đới của khu rừng đã chọn (xem ô B3.2). Nhiều giả thuyết về các vấn đề
này đƣợc phân tích nổi bật hơn dƣới đây.
(i) Chúng ta muốn biết liệu một khu rừng nên khai thác để lấy gỗ hay bảo
tồn cho các mục đích sử dụng truyền thống nhƣ là sự thu thập các sản
phẩm không phải từ gỗ (Non timber forest products – NTFP).
(ii) Việc phân tích có thể tập trung vào những hệ thống quản lý khác nhau
cho một mục đích sử dụng đất đặc biệt. Ví dụ nhƣ, nếu rừng bị khai thác
để lấy gỗ, các phƣơng pháp quản lý sau đây có thể đƣợc đem ra so sánh :
phƣơng pháp đốn sạch ngƣợc lại là phƣơng pháp khai thác chọn lọc với
sự sắp xếp chu kỳ khai thác hợp lý.
(iii) Các mục đích sử dụng đất khác nhau thì không cần thiết tách biệt với
nhau, việc kết hợp chúng và các hoạt động có lẽ là tốt nhất cho khu rừng
đã đƣa ra. Chẳng hạn nhƣ, việc khai thác bền vững các sản phẩm rừng
không phải từ gỗ có thể so sánh với việc đốn sạch, và việc khai thác gỗ
chọn lọc định kì kết hợp với việc khai thác bền vững các sản phẩm không
phải từ gỗ. Nhƣ vậy, sự bảo tồn hay quản lí rừng nhằm mục đích tồn tại
có thể đem lại lợi ích xã hội cao nếu yếu tố du lịch sinh thái đƣợc tính
đến.

Nhƣ đã đề cập ở phần B2, dùng CBA để phân tích thăm dò, dự án đƣa ra nên
đƣợc so sánh với sự lựa chọn kế tiếp tốt nhất. Việc định rõ một dự án thƣờng khá dễ
thực hiện; còn định rõ các lựa chọn cho dự án có thể cần một số lƣu ý. Phƣơng pháp rút
gọn thông thƣờng, thì cho rằng không có gì xảy ra (hoặc vài thứ khác nhƣ là việc chặt
trụi) nếu thiếu dự án; nhƣng giả định này thƣờng không đúng. Một phƣơng pháp cẩn

Môi trƣờng sống con ngƣời

4.0. ĐẶT RA PHẠM VI PHÂN TÍCH (BƢỚC 2)
Mục đích của phép phân tích phải đƣợc định nghĩa, những tham số phân tích
sau đây cần đƣợc xác định.
(i) giới hạn
(ii) ranh giới phân tích và ranh giới địa lý của hệ thống
4.1 Đặt ra giới hạn, trƣờng hợp “có và không có dự án”:
Một khía cạnh bình phẩm của định giá kinh tế là sự xác định giới hạn. Tất
nhiên, giới hạn phản ánh tình trạng khi chúng xuất hiện không kèm theo dự án (nghĩa
là không có bất kì một thay đổi nào trong việc sử dụng đất). Sự đánh giá khi không có
dự án sẽ cho phép thẩm định lại sự khác biệt thật sự mà dự án tạo nên.
Thậm chí khi các dự án khác nhau đang đƣợc xem xét, thì lựa chọn “không có
dự án” vẫn nên đƣợc giữ lại (đôi khi một dự án khác đƣợc dùng thay cho phƣơng án
“không có dự án” nhƣ là một ranh giới). Nguyên nhân của việc này là chúng ta có thể
chỉ rõ những thay đổi mà dự án sẽ mang lại khi so sánh với những gì xảy ra nếu không
Đánh giá kinh tế các lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới Camille Bann
Biên dịch : Nhóm 8
17
có dự án nào đƣợc thực hiện. Ví dụ nhƣ một dự án phát triển nông nghiệp đƣợc đặt ra
ở khu vực miền núi có thể gây xói mòn đất và làm tăng thiệt hại khi tƣới cho những
cánh đồng lƣơng thực xuôi theo dòng. “Phí” môi trƣờng của dự án không chỉ là tổng
thiệt hại đối với những cánh đồng này, mà còn gây ra bởi lƣợng bùn thêm vào đƣợc
tạo nên từ dự án này. Một phân tích mà đòi hỏi cả có và không có vạch ra các viễn
cảnh sẽ giúp gạn lọc bớt thiệt hại (hoặc tránh đƣợc thiệt hại đó) là kết quả của dự án.
Trừ phi điều này đƣợc thực hiện, nếu không sẽ có rủi ro từ việc cho là có quá nhiều
(hoặc quá ít) thiệt hại đối với một nguyên nhân cụ thể. Điều này đặc biệt quan trọng
khi sự việc yêu cầu xảy ra trong quá trình đang đƣợc tiến triển (ví dụ: ở những nơi có
sự ô nhiễm nƣớc và không khí hoặc xói mòn đất).


Đánh giá kinh tế các lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới Camille Bann
Biên dịch : Nhóm 8
18
đảm tất cả chi phí và lợi nhuận có liên quan phải đƣợc tính đến trong phân tích, bất cứ
khi nào chúng xuất hiện và các mục đích sử dụng đất khác nhau đƣợc so sánh trên một
cùng một khung thời gian.

5.0. NHẬN DẠNG VÀ PHÂN TÍCH SINH THÁI CỦA TÁC ĐỘNG CƠ HỌC
(BƢỚC 3 – 4)

Để thành lập cơ sở cho việc định giá kinh tế các giá trị môi trƣờng, trƣớc tiên các
nhà phân tích phải xác định số lƣợng và nhận dạng tất cả các tác động cơ học tiềm ẩn
và trên thực tế của mục đích sử dụng đất đặc biệt (xem khung B5.1). Ví dụ nhƣ, tác
động của việc đốn gỗ lên các sản phẩn không phải là gỗ hoặc các chức năng môi trƣờng
quan trọng nhƣ : bảo vệ lƣu vực sông và các chu trình dinh dƣỡng. Điều này đòi hỏi sự
hiểu biết về các thuộc tính, chức năng của các hệ sinh thái.

Nếu hoạt động đánh giá tác động môi trƣờng (EIA) đã đƣợc thực hiện trong một
dự án, điều đó là nguồn thông tin quan trọng nhất trong các tác động cơ học của kế
hoạch.

EIA tiêu biểu gồm :
(i) phân tích sinh thái để tìm ra các thuộc tính, chức năng và nguồn tài
nguyên của hệ sinh thái rừng.
(ii) việc nhận ra tác động tiềm năng và trên thực tế của kế hoạch (đây là bƣớc
mô tả bản chất của tác động và những thay đổi của một thành phần có thể
làm thay đổi những thành phần khác nhƣ thế nào). Theo lý tƣởng, các tác
động nên đƣợc định lƣợng. Điều này bảo đảm rằng những tác động đƣợc
mô tả phù hợp để mà chúng có thể đƣợc so sánh với nhau và đƣợc sử
dụng để xác định giá trị kinh tế.

Tác động tích cực và tác động tiêu cực
Một hoạt động dự án thƣờng sẽ sản sinh ra các tác động tích cực hay tiêu cực
(nghĩa là lợi ích và thiệt hại). Các thiệt hại là kết quả thực của việc tăng số chi phí sử
dụng để ƣớc tính giá trị kinh tế của dự án, trong khi các lợi ích thì có kết quả ngƣợc lại.

Những tác động bên trong và bên ngoài
Tác động bên trong là các tác động xuất hiện bên trong ranh giới khu rừng. Tác
động bên ngoài xuất hiện bên ngoài đƣờng ranh giới rừng, chẳng hạn nhƣ : sự lắng bùn
của các luồng nƣớc xuôi dòng là hậu quả của việc phá rừng.

Vật chất, kinh tế xã hội và tâm lý
Các tác động vật chất lên con ngƣời và môi trƣờng chẳng hạn, bao gồm giảm đa
dạng giống loài và bệnh tật là do nguồn nƣớc bị ô nhiễm. Tác động kinh tế xã hội bao
gồm mất thu nhập và thay đổi cách trong xây dựng tầm quan trọng của nền văn hóa.
Tác động tâm lý gồm căng thẳng gia tăng là kết quả của hoạt động dự án.

Tác động ngắn hạn và tác động dài hạn
Các tác động môi trƣờng có thể xảy ra bất kì lúc nào, một vài tác động phát sinh
khi dự án bắt đầu trong trong khi các tác động khác bắt đầu muộn hay kéo dài qua
nhiều thập kỉ. Một vài tác động, không quan tâm đến thời điểm bắt đầu, có lẽ không thể
thay đổi đƣợc (ví dụ, một dự án mà thƣờng xuyên thay đổi tầm quan trọng về phƣơng
diện văn hóa hay gây nguy hiểm cho các giống loài).

Các tác động xảy ra ở các thời điểm khác nhau cần đƣợc đánh dấu cẩn thận
thông qua thủ tục chiết khấu. Tất cả các tác động tiềm năng không thuận nghịch đòi hỏi
sự xem xét đặc biệt, và cần đƣợc định nghĩa và mô tả rõ ràng trong kế hoạch phân tích
kinh tế bất chấp chúng có tuân theo việc định giá trị của đồng tiền hay không.

Đánh giá kinh tế các lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới Camille Bann
Biên dịch : Nhóm 8

khi rừng bị cháy và sau đó thiếu sinh khối để cô lập carbon khí quyển. Mức tăng carbon
trong khí quyển là nguyên nhân gia tăng khí nhà kính, dẫn đến tăng nhiệt độ bề mặt trái
đất, hay hiệu ứng nhà kính. Ủy Ban Liên Chính Phủ về sự Thay Đổi Khí Hậu (IPCC)
ƣớc tính rằng sự phá rừng nhiệt đới sẽ thêm vào khí quyển khoảng 1/6 tổng lƣợng
carbon phát thải toàn cầu.

5.1.4. Đa dạng sinh học

Rừng nhiệt đới bao phủ 9% bề mặt trái đất nhƣng cung cấp khoảng một nửa
trong 1.4 triệu loài đặc trƣng đã tìm thấy trong toàn bộ khu sinh vật thế giới (Schucking
và Anderson 1991). Ngƣời ta ƣớc lƣợng có ít hơn 5% đa dạng sinh học trong rừng mƣa
nhiệt đới mà khoa học biết đến.
Đánh giá kinh tế các lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới Camille Bann
Biên dịch : Nhóm 8
21

Sự bảo tồn đa dạng sinh học quan trọng bởi một số lý do:

Đa dạng sinh học có có giá trị thực chất của riêng nó. Rừng nhiệt đới là hệ sinh
thái phức hợp với mối quan hệ phức tạp giữa nhiều loài động thực vật khác nhau. Tính
đa dạng nguồn gen và đa dạng giống loài, cũng nhƣ là tính đa dạng các hệ sinh thái
rừng nhiệt đới, là quan trọng cho việc duy trì cân bằng sinh thái. Sự tuyệt chủng của các
loài thuần chủng có thể dẫn đến tình trạng nguy hiểm hoặc sự tuyệt chủng của các loài
khác (Randall et al 1995). Sự mất đi đa dạng nguồn gen có thể làm giảm tính thích nghi
của các loài khi điều kiện môi trƣờng thay đổi và gia tăng tính nhạy cảm với các loại
dịch bệnh. Bởi vậy, sự bảo tồn đa dạng sinh học góp phần làm tăng khả năng phục hồi
của các hệ sinh thái, sự ổn định hệ sinh thái, và môi trƣờng sống đƣợc cải thiện.

Bảo tồn đa dạng sinh học ngăn ngừa sự mất đi vật chất di truyền có thể có giá trị
thƣơng mại trong tƣơng lai. Chẳng hạn nhƣ, một nguồn gen tách ra từ giống lúa mạch

Bảng B6.1 Tổng giá trị kinh tế của rừng nhiệt đới
Giá trị sử dụng
Giá trị không sử dụng
(1)Giá trị (2)Giá trị (3)Giá trị
trực tiếp gián tiếp nhiệm ý
Gỗ Bảo vệ lƣu Tƣơng lai sử Giá trị tồn tại
vực sông dụng nhƣ phần
Sản phẩm Chu trình (1) và (2) Di sản
không phải dinh dƣỡng văn hóa
là gỗ
Giải trívà Giảm ô nhiễm Đa dạng sinh học
du lịch không khí
Thuốc Chức năng vi
khí hậu
Di truyền Tích trữ carbon
thực vật
Giáo dục Đa dạng sinh học
Môi trƣờng
sống con ngƣời

6.1. Giá trị sử dụng trực tiếp
Giá trị sử dụng trực tiếp là giá trị thu đƣợc từ việc sử dụng trực tiếp hoặc sự tác
động qua lại giữa các dịch vụ và các nguồn tài nguyên của rừng nhiệt đới. Chúng bao
gồm cả thƣơng mại, sinh kế, thời gian rỗi, hoặc các hoạt động khác liên quan tới một
nguồn tài nguyên. Các hoạt động sống thì thƣờng quan trọng chủ yếu đối với dân cƣ ở
nông thôn.

Gỗ là sản phẩm kinh tế đáng lƣu ý nhất ở rừng nhiệt đới. Tuy nhiên, các khu
rừng còn là khu dự trữ cho các sản phẩm không phải từ gỗ (NTFP) : gỗ đốt, khai
khoáng nhƣ : vỏ cây, thuốc nhuộm, sợi, chất gôm, trầm, mủ, dầu, nhựa, chất mủ cây

dùng của các tài sản và hoạt động đƣợc chống đỡ hay bảo vệ bởi rừng. Khi giá trị gián
tiếp không thể suy ra một cách trực tiếp hay gián tiếp từ cách nhìn của con ngƣời hay
thái độ của thị trƣờng, thì chúng thƣờng khó mà định giá.

6.3. Giá trị nhiệm ý

Giá trị nhiệm ý là một loại giá trị sử dụng mà liên quan đến việc sử dụng rừng
nhiệt đới trong tƣơng lai. Vì các cá nhân có thể đánh giá lựa chọn để có thể sử dụng
rừng nhiệt đới trong tƣơng lai nên giá trị nhiệm ý nảy sinh. Đặc biệt nếu một ai đó
không chắc chắn về giá trị tƣơng lai, nhƣng tin rằng nó có thể cao, và nếu việc khai thác
hay chuyển đổi hiện thời không thể đảo ngƣợc lại, thì có thêm vào tiền thƣởng đƣợc đặt
ra cho việc bảo quản hệ thống rừng, các nguồn tài nguyên và các chức năng sử dụng
cho tƣơng lai.

Chẳng hạn nhƣ, ngày nay nguồn tài nguyên rừng bị sử dụng không đúng mức
nhƣng có thể có giá trị tƣơng lai cao về mặt khoa học, giáo dục, thƣơng mại và mục
đích sử dụng kinh tế khác. Tƣơng tự nhƣ vậy, chức năng điều chỉnh môi trƣờng của hệ
sinh thái rừng có thể tăng thêm tầm quan trọng khi các hoạt động kinh tế phát triển và
lan tràn trong một vùng.

Một loại đặc biệt của giá trị nhiệm ý là giá trị lƣu tồn, đó là kết quả từ các cá
nhân đặt ra một giá cao lên việc bảo tồn rừng nhiệt đới cho thế hệ sau sử dụng. Lý do là
họ mong muốn chuyển một cái gì đó đến con cháu của họ. Giá trị lƣu tồn có thể đặc
biệt cao trong dân cƣ địa phƣơng đang sử dụng hoặc cƣ trú trong một khu rừng nhiệt
Đánh giá kinh tế các lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới Camille Bann
Biên dịch : Nhóm 8
24
đới mà họ muốn chuyển lại cho ngƣời thừa kế hoặc thế hệ tƣơng lai cuộc sống và nền
văn hóa của họ cùng tiến triển liên kết với khu rừng này.


nguồn tài nguyên, chức năng và thuộc tính của rừng thì điều nào là quan trọng nhất để
định giá, cũng nhƣ định lƣợng và định giá chúng thì dễ dàng nhƣ thế nào.

Quyền ƣu tiên nên đƣợc đƣa ra rõ ràng để ƣớc lƣợng thành phần giá trị với sự
sắp xếp cao nhất. Tuy nhiên, khả năng có thể xảy ra là một thành phần có vị trí ƣu tiên
cao sẽ đƣơng đầu với sự cƣỡng ép làm cản trở việc định giá. Sự cƣỡng ép nguồn tài
nguyên và dữ liệu cũng có ảnh hƣởng đến chọn lựa các kỹ thuật định giá cho trƣớc
(phần B7).
Đánh giá kinh tế các lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới Camille Bann
Biên dịch : Nhóm 8
25

Nếu không thể định lƣợng giá trị môi trƣờng đặt ra, sự đánh giá chất lƣợng tỉ mỉ
nên đƣợc bảo đảm và trình bày.

7.0. ƢỚC LƢỢNG TIỀN TỆ CỦA LỢI ÍCH VÀ CHI PHÍ MÔI TRƢỜNG
Một loạt các phƣơng pháp kỹ thuật có thể đƣợc dùng trong việc định giá các
dịch vụ và hàng hóa môi trƣờng. Những phƣơng pháp này đƣợc phân loại trong khung
B7.1. Bảng B7.1 đƣa ra những phƣơng pháp phổ biến đƣợc sử dụng để định giá các
thành phần giá trị khác nhau của rừng nhiệt đới. Điểm quan trọng là có nhiều kỹ thuật
khác nhau có thể đƣợc dùng trong bất kì phân tích nào đƣa ra.
Khung B7.1 Phân loại các phƣơng pháp kỹ thuật định giá
Giá nền
Phƣơng pháp giá nền sử dụng giá thị trƣờng của các dịch vụ và hàng hóa rừng
(đã sửa chữa cho thị trƣờng không hoàn hảo và những thất bại chính sách cái mà có thể
làm lệch giá).
Phƣơng pháp khảo sát hàng hóa tƣơng quan
Phƣơng pháp khảo sát hàng hóa tƣơng quan sử dụng thông tin trên mối quan hệ
giữa dịch vụ hoặc hàng hóa thị trƣờng và phi thị trƣờng để ƣớc lƣợng giá trị của hàng
hóa phi thị trƣờng (ví dụ phƣơng pháp trao đổi hàng hóa, phƣơng pháp vật thay thế trực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status