LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh quyết liệt, doanh nghiệp muốn tồn tại
và phát triển được thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có một sức cạnh tranh về tài
chính cụ thể là vốn.Vốn là điều kiện vật chất không thể thiếu được trong hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp trong việc mở rộng quy mô về chiều sâu và
chiều rộng của mỗi doanh nghiệp.Vì thế doanh nghiệp phải luôn đảm bảo vốn cho
hoạt động của mình và không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, từ đó doanh
nghiệp mới có thể tăng lợi nhuận, tăng thu nhập để tồn tại và phát triển.
Một trong những bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh là vốn lưu động, nó
là yếu tố bắt đầu và kết thúc cảu quá trình kinh doanh. Vì vậy vốn lưu động không
thể thiếu trong các doanh nghiệp.
Quản lý và sử dụng vốn lưu dộng là một trong những nội dung quản lý tài
chính quan trọng đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Song
không phải doanh nghiệp nào cũng sử dụng vốn lưu động hiệu quả.Đặc biệt là
trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay các doanh nghiệp đang trong tình
trạng thiếu vốn, việc vay vốn gặp nhiều khó khăn không đáp ứng đủ nhu cầu kinh
doanh.
Do vậy các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được trong cơ chế thị
trường này thì một trong những việc phải làm là nâng cao hiệu quả quản lý và sử
dụng vốn lưu động. Vấn đề này không còn là mới nhưng nó luôn luôn đặt ra câu
hỏi cho các doanh nghiệp và người quan tâm tới hoạt động kinh doanh và nó
quyết định tới sự sống còn của doanh nghiệp.Nhân thức được tầm quan trọng của
vốn lưu động trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cùng với những kiến
thức được học,thời gian kiến tập tại công ty cổ phần tư vấn thiết kế công trình xây
dụng Hải Phòng và sự chỉ bảo của thầy cô chúng em đã cùng nhau tìm hiểu về đề
1
tài :” Quản lý vốn lưu động của Công ty cổ phần tư vấn thiết kế công trình xây
dụng Hải Phòng năm 2009-2011”
Nội dung chính của đề tài gồm ba phần:
Phần 1- Lý luận chung về vốn lưu động trong doanh nghiệp
Phần 2- Thực trạng quản lý và sử dụng vốn tại công ty cổ phần tư vấn thiết kế
doanh
Vốn lưu động của doanh nghiệp có thể chia thành các loại chủ yếu sau:
-Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất gồm các khoản:
+Vốn nguyên vật liệu chính +Vốn vật đóng gói
+Vốn vật liệu phụ +Vốn công cụ dụng cụ nhỏ
+Vốn phụ tùng thay thế
-Vốn lưu động trong khâu trực tiếp sản xuất, gồm các khoản:
+Vốn sản phẩm đang chế tạo
+Vốn chi phí trả trước ngắn hạn
-Vốn lưu động trong các khâu lưu thong, gồm các khoản:
3
+Vốn thành phẩm
+Vốn bằng tiền
+Vốn trong khâu thanh toán
+Các khoản vốn đầu tư ngắn hạn về chứng khoán, cho vay ngắn hạn,
1.1.2.2 Căn cứ vào hình thái biểu hiện của vốn có thể chia vốn lưu động thành
-Vốn bằng tiền và các khoản phải thu.
-Vốn về hàng tồn kho bao gồm:vốn nguyên vật liệu chính, vốn vật liệu phụ,
vốn nhiên liệu, vốn phụ tùng thay thế, vốn vật đóng gói, vốn công cụ dụng cụ,
vốn về chi phí trả trước,vốn thành phẩm.
Việc phân loại vồn lưu động theo cách này tạo điều kiện thuận lợi cho việc
xem xét đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
1.1.2.3 Căn cứ vào nguồn hình thành
-Nguồn vốn nội bộ doanh nghiệp
-Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp
Việc chia vốn lưu động của doanh nghiệp ra thành các loại nói trên nhằm tạo
khả năng để doanh nghiệp xem xét và quyết định huy động các nguồn vốn để đảm
bảo cho nhu cầu vốn lưu động thường xuyên ổn định
1.1.3. Vai trò của vốn lưu động
- Để tiến hành sản xuất, ngoài TSCĐ như máy móc, thiết bị,nhà xưởng,
tăng doanh thu mà vẵn không phải tăng vốn lưu động hoặc phải tăng vốn lưu
động với tốc độ nhỏ hơn tốc độ tăng doanh thu. Như vậy, nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động vừa có ý nghĩa tiết kiệm vốn, vừa có ý nghĩa giảm chi phí lưu
thông do giảm chi phí sử dụng vốn, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.Do đó hiệu
quả sử dụng vốn lưu động đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm một cách thường
xuyên và phấn đấu nâng cao hiệu quả sử dụng sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Sử dụng hợp lý vốn lưu động biểu hiện ở chỗ tăng tốc độ luân chuyển của vốn
lưu động. Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động nhanh hay chậm biểu hiện hiệu
quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp cao hay thấp. Nâng cao hiệu quả vốn
lưu động nhằm nâng cao lợi nhuận, có lợi nhuận mới có tích lũy cho xã hội, tích
tự vốn cho doanh nghiệp để phát triển sản xuất.
Vì vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là tăng lợi nhuận cho doanh
nghiệp.
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.2.3.1 Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Để xác định tốc độ luân chuyển của vốn lưu động ta thường sử dụng các chỉ
tiêu sau:
-Số vòng quay của vốn lưu động:
Số vòng quay của Tổng doanh thu thuần
vốn lưu động Vốn lưu động bình quân
6
Chỉ tiêu này cho biết số vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng trong chu kỳ
kinh doanh. Nếu số vòng quay lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng
cao và ngược lại.
-Kỳ luân chuyển của vốn lưu động:
Kỳ luân chuyển của 360
Vốn lưu động Số vòng quay của vốn lưu động
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết để quay được một vòng vốn lưu động,
thời gian của vòng luân chuyển vốn càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển vốn càng
hàng tồn kho Hàng tồn kho bình quân
Vòng quay hàng tồn kho thể hiện sự luân chuyển của vốn vật tư hàng hóa.Số
vòng quay của hàng tồn kho cao thì việc tổ chức và quản lý và dự trữ của doanh
nghiệp là tốt doanh nghiệp có thể rút ngắn chu kỳ kinh doanh và giảm được lượng
vốn bỏ vào của hàng tồn kho.
1.3 Các nhân tố ảnh hương và các biện pháp nâng cao hiệu quả sủ dụng vốn
lưu động trong doanh nghiệp.
8
1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.3.1.1 Các nhân tố có thể lượng hóa
Đó là các nhân tố mà khi chúng ta thay đổi sẽ làm thay đổi các chỉ tiêu phản
ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động về mặt lượng.
Các nhân tố này ta có thể thấy qua các chỉ tiêu như: Doanh thu thuần, hao
mòn vô hình, rủi ro, vốn lưu động bình quân trong kỳ.
Để điều chỉnh được tác động của các nhân tố này, đòi hỏi nhà quản trị tài
chính doanh nghiệp quản lý vốn lưu động một cách có hiệu quả. Vì vốn lưu động
có 3 thành phần chính là: tiền mặt, dự trữ và các khoản phải thu, nên phương pháp
này tập trung vào quản lý 3 đối tượng trên:
Quản lý tiền mặt: việc quản lý này có liên quan chặt chẽ đến việc quản lý
chứng khoán thanh khoản cao bởi vì việc chuyển từ tiền mặt sang chứng khoán
thanh khoản cao và ngược lại từ chứng khoán thanh khoản cao sang tiền mặt là
một việc dễ dàng, tốn kém ít chi phí.
Quản lý dự trữ: dự trữ là một bộ phận quan trọng của vốn lưu động, là nhân tố
đầu tiên, cần thiết cho sản xuất kinh doanh, vì thế việc quản lý dự trữ có hiệu quả
là góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Quản lý các khoản phải thu: trong nền kinh tế thị trường hiện nay, chính sách
tín dụng thương mại là công cụ hữu hiệu không thể thiếu với doanh nghiệp để
quản lý các khoản phải thu.
1.3.1.2 Các nhân tố phi lượng hóa
9
- Tổ chức tốt việc tiêu thụ nhằm đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động
- Có biện pháp phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra: kinh tế lạm phát, giá cả thị
trường tăng lên…
PHẦN II- THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN THIẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH HẢI PHÒNG
2.1. Khái quát công ty
Tên công ty: Công ty cổ phần tư vấn thiết kế công trình xây dựng Hải Phòng
Tên giao dịch tiếng anh: HAIPHONG CONTRUCTION DESIGN AND
CONSULTANT JOINT-STOCKCOMPANY.
Địa chỉ: 36 Lý Tự Trọng – Hồng Bàng – Hải Phòng.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Công ty cổ phần tư vấn thiết kế công trình xây dựng Hải Phòng (HCDC)
được chuyển đổi từ công ty tư vấn thiết kế công trình xây dựng Hải Phòng theo
quyết định số 2270/QĐ-UBND ngày 29/9/2005 của UBND thành phố Hải
Phòng.Tiền thân là xí nghiệp thiết kế được thành lập theo quyết định số 461/QĐ-
TCCQ ngày 11/5/1984 của UBND thành phố Hải Phòng.Sau gần 2 năm, xí
nghiệp thiết kế được đổi tên thành Viên Thiết kế Công trình xây dựng Hải Phòng
11
và sau 14 năm hoạt động,để phù hợp với cơ chế quản lý và công việc đổi mới
Viên Thiết kế Công trình xây dựng Hải Phòng lại được đối tên là công ty tư vấn
thiết kế công trình xây dựng Hải Phòng.Từ đó,ngày 11/5/1984 được lấy là ngày
thành lập công ty.
2.1.2. Đặc điểm sản xuất kinh doanh, những kết quả đạt được,những thuận
lợi, khó khăn trong quá trình phát triển
- Lĩnh vực hoạt động của Công ty CP tư vấn thiết kế CTXD Hải Phòng.
Công ty CP tư vấn thiết kế CTXD Hải Phòng là cơ quan nghiên cứu, thiết
kế, khảo sát địa chất địa hình cho các công trình dân dụng và công nghiệp, giao
thông, thuỷ lợi, hạ tầng kỹ thuật đô thị và môi trường của thành phố Hải Phòng.
-Những kết quả đạt được: từ năm 2009 trở lại đây công ty đã số lượng hợp
đồng lớn và tổng giá trị hợp đồng cao,cụ thể:
Xây
Dựng
Phòng
Bảo vệ
Phòng tài
chính kế
toán
Phòng
kỹ thuật
vật tư
Phòng
nhân
chính
- 3 Văn phòng công ty
Ngoài các chuyên ngành trên, công ty còn có một ban quản lý các Dự án đầu
tư và phát triển ( Kinh doanh bất động sản) và một trung tâm ứng dụng và hợp tác
Quốc tế.
2.1.4. Tổ chức bộ máy kế toán tài chính của Công ty CP tư vấn thiết kế CTXD
Hải Phòng
Sơ đồ 2.2. Tổ chức bộ máy kế toán Công ty CP tư vấn thiết kế CTXD Hải Phòng
+ Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận kế toán:
- Kế toán trưởng: Phụ trách kế toán là người đứng đầu phòng tài chính kế toán,
phụ trách trung tổng hợp thực hiện chức năng và nhiệm vụ kế toán tại Công ty
theo quy chế phân cấp quản lý của giám đốc công ty.
14
KT thanh toán
Thủ quỹ
KT vật tư
KT tiền
lương,BHXH
Vốn lưu
động
89,005,848,430 124,999,234,132 122,620,736,563 35,993,385,70240.4 -2,378,497,569 -1.9
Vốn cố
định
33,476,575,865 28,374,132,846 54,783,023,578 -5,102,443,020-15.2 4,343,739,683 93
Qua biểu 1 ta thấy năm 2010 tổng số vốn là 153.373.366.978 đồng tăng
30.890.942.683 đồng tương ứng với 25,2% so với năm 2009. Năm 2011 tổng số
vốn tăng 24.030.393.163 đồng tương ứng với 15,6% so với năm 2010.
Trong tổng số vốn của doanh nghiệp thì vốn lưu động chiếm tỷ trọng lớn (từ
69% đến 81%). Điều này cũng dễ hiểu bởi đặc điểm, tính chất của ngành xây
dựng cần khối lượng vốn lưu động lớn để trang trải các chi phí trong quá trình
hoạt động. Năm 2010 so với năm 2009 vốn lưu động của công ty đã tăng cả về
khối lượng lẫn tỷ trọng, năm 2009 vốn lưu động của công ty là 89 tỷ đồng chiếm
72,6% vốn kinh doanh, năm 2010 vốn lưu động là gần 125 tỷ đồng chiếm 81,5%
vốn kinh doanh. Nhưng đến năm 2011 nguồn vốn lưu động giảm xuống còn
122.620 tỷ đồng chỉ còn chiếm 69,1% vốn kinh doanh. Như vậy đã cho thấy rằng
việc huy động vốn lưu động phục vụ cho các hoạt động kinh doanh phụ thuộc
vào nguồn vốn bên ngoài.
Dựa vào bảng biểu ta cũng có thể thấy được vốn cố định của công ty chiếm
một tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng số vốn (từ 19% đến 31% ). Tuy nhiên trong
3 năm qua cho thấy vốn cố định của công ty tăng giảm không ổn định, năm 2010
vốn cố định của công ty giảm nhẹ từ 33.476 tỷ xuống còn 28.374 tỷ ,nhưng đến
năm 2011 thì lại tăng nhanh từ 28.374 tỷ tăng lên thành 54.783 tỷ, đã tăng lên
93% so với năm 2010. Điều đó cho thấy công ty đã bổ xung đầu tư thêm tài sản
cố định để mở rộng hoạt động kinh doanh.
16
Kết cấu vốn lưu động của công ty
Là một công ty thiết kế và xây dựng vốn lưu động của công ty chiếm tỷ trọng
khá lớn, tại thời điểm 31/12/2011 vốn lưu động của công ty là 122,620,736,563
100
Vốn bằng tiền dùng để thanh toán với khách hàng, trả nợ vốn vay, mua hàng
hóa. Trong bảng 2 ta thấy vốn bằng tiền của công ty qua mỗi năm đều tăng: năm
2009 là là 7,623,250,435 đồng chiếm 8.5%, năm 2010 thì giảm nhẹ xuống còn
6,783,298,620 đồng chiếm 5.4%, sang năm 2011 số vốn này là 13,823,553,467
17
đồng chiếm 11.3% trong tổng số vốn lưu động của công ty. Như vậy tiền đọng
trong quỹ khá nhiều trong khi công ty vẫn phải chịu một số khoản nợ vay khiến
cho mức sinh lời của vốn bị giảm.
Các khoản phải thu trong thành phần vốn lưu động giảm dần: năm 2010 là
giảm 8% so với năm 2010, năm 2011 giảm 18,9% so với năm 2010 và tỷ trọng
cũng ngày càng giảm: năm 2009 chiếm 36,2%, năm 2010 chiếm 23,7%, đến năm
2011 giảm xuống còn 19,6%.
Vốn lưu động trong khâu dự trữ tăng trưởng không đồng đều trong 3 năm:
năm 2009 là 47.833.567.591 đồng chiếm tỷ trọng 53,7% so với tổng số vốn lưu
động, năm 2010 là 71.128.502.648 chiếm 56,9% tổng số vốn lưu động, năm 2011
là 66,064,618,658 đồng chiếm 53,8% so với tổng số vốn lưu động. Đặc biệt hàng
tồn kho giảm mạnh ,năm 2009 là 315.701.546 đồng, năm 2010 là 176.857.016
đồng, đến năm 2011 còn 56.040.416 đồng . Điều đó chứng tỏ công ty có khả năng
tiêu thụ hàng hóa tốt.
Vốn lưu động của công ty qua các năm tăng giảm không đồng đều. Năm
2009 vốn lưu động của công ty là 89.005.848.430 đồng, đến năm 2010 đã tăng lên
thành 124.999.234.132, tăng 40 % so với năm 2009 . Vốn lưu động tăng lên chủ
yếu do vốn lưu động ở khâu dự trữ tăng mạnh và tài sản ngắn hạn của cũng tăng.
Điều này cũng có nghĩa năm 2010 là năm công ty mua thêm một số lượng vật
liệu, vật tư lớn để tham gia vào hoạt động xây dựng. Đến năm 2011 thì vốn lưu
động của công ty đã giảm nhẹ từ 124.999.234.132 đồng xuống còn
122.620.736.563 đồng, giảm 1,9% so với năm 2010, sự giảm nhẹ này do vốn lưu
động dự trữ,khoản phải thu giảm nhưng đồng thời vốn bằng tiền của công ty lại
tăng lên. Điều đó chứng tỏ công ty đã đòi được một số khoản nợ và vốn lưu động
ngân hàng tăng lên 7.040.255.200 đồng chiếm 80,04 tổng vốn gửi bằng tiền vì do
trong quá trình kinh doanh việc thanh toán được thực hiện bằng nhiều hình thức
khác nhau nhưng chủ yếu là qua ngân hàng vì vậy làm cho vốn tiền gửi tăng. Qua
các năm ta thấy tiền gửi ngân hàng tăng giảm không đều nhưng lại luôn chiếm tỷ
19
trọng lớn trong tổng số vốn bằng tiền của công ty,cũng có nghĩa công ty luôn ưu
tiên cho phương pháp thanh toán bằng chuyển khoản. Điều đó giúp cho vốn bằng
tiền của công ty được đảm bảo an toàn và thuận tiện trong việc giao dịch cũng
như với đối tác làm ăn.
2.2.2.2 Quản lý các khoản phải thu
Chỉ tiêu 2009 2010 2011
Số tiền % Số tiền % Số tiền %
Các khoản phải
thu
32.219.570.30
4
36,2 29.649.935.24
5
23,72 24.044.393.429 19,6
Phải thu của khách
hàng
18.878.718.14
8
21,2 28.454.153.17
3
22,76 21.487.749.66
0
17,52
Trả trước cho người
bán
hồi công nợ của khách hàng.
Qua 3 năm ta thấy các khoản phải thu của công ty đều giảm dần, điều này
cũng gải thich một phần doanh thu của 3 năm đều tăng :năm 2009 doanh thu từ
110,360,157,030 đồng đến năm 2010 tăng lên là 124,584,355,047 đồng ,và đến
năm 2011 là 146,715,290,341 đồng. Mức độ tăng dần của doanh thu gần bằng
với mức độ giảm dần của các khoản phải thu: năm 2010 các khoản phải thu giam
đi 8% và doanh thu tăng 13% so với năm 2009,năm 2011 các khoản phải thu
giảm 18,9% và doanh thu tăng 17,7%. Điều này hoàn toàn hợp lý, chứng tỏ rằng
công ty vẫn đang hoạt động bình thường.
2.2.2.3 Quản lý hàng tồn kho của công ty HCDC
Chỉ tiêu 2009 2010 2011
Số tiền % Số tiền % Số tiền %
Hàng tồn kho 47.833.567.59
1
53,7
4
71.128.502.64
9
56,9 66.064.618.657 53,88
Hàng mua đang
đi trên đường
- - - - -
Nguyên liệu, vật
liệu tồn kho
1.143.222.265 1,3 1.560.846.350 1,25 4.017.849.900 3,27
Công cụ, dụng cụ
trong kho
- - - - - -
Chi phí sản xuất
kinh doanh dở
nhỏ trong vốn lưu động nên việc quản lý và sử dụng thì thường đơn giản và ít gây
ảnh hưởng tới kết quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
2.2.3 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty HCDC
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động luôn gắn liền với lợi ích và hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Đạt được hiệu sử dụng vốn ngày càng cao là mục
tiêu chủ yếu mà mọi doanh nghiệp đều phải hướng tới.Để biết được hiệu quả sử
dụng vốn lưu động của công ty như thế nào ta xem xét bảng sau:
Chỉ tiêu 2009 2010 2011
Doanh thu thuần 110.360.157.030 124.584.335.047 146.715.290.341
Lợi nhuận sau thuế 1.597.859.375 1.620.857.970 2.179.273.864
Vốn lưu động bình quân 98.570.231.762 107.002.541.281 123.809.985.347
Số vòng quay vốn lưu động 1,12 1,16 1,18
Thời gian của một vòng luân
chuyển
321,43 310,34 305,1
Hệ số đảm nhiệm 0,81 0,86 0,85
Hệ số khả năng thanh toán hiện
thời
1,0076 1,152 0,1
Hệ số thanh toán nhanh 0,466 0,496 0,458
22
Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng số vòng quay của vốn lưu động tăng đều
qua các năm: năm 2009 là 1,12 vòng đến năm 2010 là 1,16 vòng, năm 2011 là
1,18 vòng. Như vậy chỉ tiêu này cho biết năm 2011 vốn lưu động của công ty luân
chuyển được là 1,18 vòng tăng 0,02 vòng so với năm 2010 và tăng 0,06 vòng so
với năm 2009. Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của công ty có chiều
hướng tăng nên. Sự thay đổi này chịu ảnh hưởng của 2 nhân tố đó là doanh thu
thuần và vốn lưu động bình quân.
Thời gian của một vòng luân chuyển phản ánh số ngày để thực hiện một vòng
quay của vốn lưu động, ngoài ra nó còn giúp ta tính được số vốn tiết kiệm hay
2.3. Đánh giá hiệu quả sử vốn lưu động của công ty
Sau khi phân tích tình hình thực tế về công tác quản trị vốn lưu động tại
công ty cổ phần thiết kế và xây dựng công trình Hải Phòng, chúng ta có thể thấy
tình hình quản trị vốn lưu động tại công ty có một số ưu, nhược điểm sau:
2.3.1. Ưu điểm
Thứ nhất qua báo cáo kết quả kinh doanh mới nhất thì công ty đã hoàn
thành doanh thu năm 2011 và có lãi, bảo đảm công ăn việc làm và thu nhập cao
cho người lao động,đồng thời cũng đảm bảo cho công ty có đủ vốn lưu thông để
tục hoạt động.
Thứ hai về tình hình quản trị vốn lưu động, hiệu quả sử dụng vốn lưu động
của công ty có chiều hướng tăng lên biểu hiện ở vòng quay của vốn lưu động tăng
đều qua các năm.
Thứ ba về tình hình huy động vốn lưu động: Để đáp ứng đầy đủ nhu cầu
kinh doanh công ty luôn đặt ra yêu cầu phải tìm kiếm đủ số vốn để trang trải cho
nhu cầu vốn lưu động của mình. Công ty đã thực hiện khá tốt trong việc huy động
vốn biểu hiện vốn lưu động luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số vốn kinh
doanh của công ty.
Thứ tư về đời sống của công nhân viên trong công ty không ngừng được
nâng cao. Nếu năm năm 20010 Thu nhập bình quân của công nhân viên là
24
3,660,000 đồng thì sang đến năm 2011 con số này là 3,860,000 đồng. Điều đó
cũng được khẳng định trên các báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh những năm
vừa qua.
2.3.2. Nhược điểm
Bên cạnh các ưu điểm trong công tác quản trị vốn lưu động thì tại công ty vẫn
còn có một số hạn chế sau:
Thứ nhất là hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty còn chưa cao. So
sánh với các chỉ tiêu tương ứng của ngành cho ta thấy hiệu quả sử dụng vốn lưu
động của công ty còn chưa được cao, về cả tốc độ luân chuyển và sức sinh lợi của
vốn lưu động. Sức sinh lợi của công ty còn thấp. Tốc độ luân chuyển vốn còn