LUẬN VĂN: Thực Thi chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay potx - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Thi chính sách tiền tệ
của Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hơn 20 năm đổi mới và phát triển kinh tế, quá trình thực thi CSTT của Việt
Nam đã có nhiều thay đổi căn bản và ngày càng trở nên thích ứng hơn với những mục
tiêu điều tiết nền kinh tế, góp phần tích cực cho sự ổn định thị trường tài chính, kiểm
soát lạm phát và hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, trong xu thế toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay kinh tế trong nước cũng như thế giới ngày càng
có nhiều thay đổi khó lường đã khiến cho quá trình xây dựng và thực thi CSTT ngày
càng trở nên khó khăn và phức tạp.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, mặc dù đã góp phần quan trọng trong tiến
trình ổn định nền kinh tế vĩ mô nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng nhưng CSTT ở
nước ta vẫn còn bộc lộ không ít những bất cập và hạn chế. Các giải pháp đưa ra còn
mang tính tình thế, tạm thời và chưa thật sự linh hoạt, thậm chí còn gây nên những bất
ổn. Chẳng hạn, bằng việc liên tục thay đổi các mục tiêu điều hành CSTT NHNN đã góp
phần kiềm chế lạm phát nhưng lại gây những tác động bất lợi đến hoạt động kinh doanh
ngân hàng, thị trường tài chính và cả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. Từ chỗ các

Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế: 5.02.09.
- Lê Thị Thanh Hằng (2007), Giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của
nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành CSTT của NHNN Việt Nam, Luận văn thạc sĩ
kinh tế: 60.31.12.
* Một số bài viết đã được công bố trên các báo, tạp chí:
- Hoàng Ngọc Hòa (2003), “Những thách thức đối với tài chính - tiền tệ Việt Nam
trong hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Kinh tế và phát triển.
- Hoàng Yến (2004), “Ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến CSTT và chính sách
thương mại của Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 8.
- Đinh Xuân Hạ (2005), “Đổi mới điều hành CSTT của NHNN trong quá trình xây
dựng và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Tạp chí Tài chính, số 8.
- MU (2005),“Ảnh hưởng của quá trình hội nhập đến CSTT quốc gia”, Tạp chí
Ngân hàng Ngoại Thương, số 5.

- Nguyễn Thành Trung (2006), “Vai trò CSTT của Việt Nam và những khuyến
nghị”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 5.
- Nguyễn Văn Hậu (2008), “Toàn cầu hóa tài chính với CSTT - tín dụng quốc
gia”, Thông tin những vấn đề kinh tế chính trị học, Số 18.
Mặc dù số lượng các công trình nghiên cứu rất nhiều, rất đa dạng và phong phú, bên
cạnh những đóng góp có giá trị cho việc nghiên cứu lý luận hay ứng dụng, thực thi… nhưng
tiếp cận CSTT trên phương diện kinh tế chính trị thì còn rất hạn chế, thậm chí chưa có công
trình nào nghiên cứu vấn đề “Thực thi chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay” trên
phương diện kinh tế chính trị.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc thực thi CSTT làm cơ sở
để phân tích thực trạng thực thi CSTT ở Việt Nam trong trong giai đoạn 2001 - 3/2009.
Trên cơ sở những quan điểm và phương hướng đã được xác định, luận văn đề ra một số
giải pháp để nâng cao hiệu quả thực thi CSTT ở Việt Nam giai đoạn đến 2015.
3.2. Nhiệm vụ

phương pháp đặc thù của kinh tế chính trị Mác-Lênin: phương pháp trừu tượng hóa khoa học,
kết hợp phân tích với tổng hợp, so sánh,
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã hệ thống hóa và phân tích cơ sở khoa học của việc thực thi CSTT ở
Việt Nam.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng thực thi CSTT Việt Nam trong giai
đoạn từ 2001 - 3/2009, luận văn đề xuất phương hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm
nâng cao hiệu quả thực thi CSTT của Việt Nam giai đoạn đến 2015. Từ đó, luận văn là cơ

sở, tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, hoạch định và thực thi CSTT nước ta trong
giai đoạn đến 2015.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương và 8 tiết.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CỦA THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

1.1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng
tiền, kiểm soát lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh
quốc phòng, nâng cao đời sống của nhân dân [27].
Từ đó, có thể thấy CSTT có các đặc trưng chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, CSTT là một bộ phận hữu cơ cấu thành các chính sách kinh tế.
Như chúng ta đã biết, trong tổng thể các chính sách kinh tế của một quốc gia, mỗi
chính sách đề có vị trí và vai trò riêng của nó. Trong đó, CSTT luôn được xem là một
chính sách trung tâm, gắn kết nhiều chính sách lại với nhau. Bởi lẽ, các nền kinh tế hiện
đại đều là nền kinh tế tiền tệ, nói cách khác - những nền kinh tế này đã được tiền tệ hóa
cao độ (tính theo chỉ số hóa tiền tệ M
2
/GDP). Vì vậy, ở các nền kinh tế này các quan hệ
kinh tế chủ yếu phải dựa trên, xoay quanh và được phản ánh bởi các quan hệ tiền tệ, tiền
tệ đã xâm nhập và trở thành một yếu tố hết sức quan trọng trong nền kinh tế và do vậy
CSTT là chính sách kinh tế trung tâm và có vai trò ngày càng quan trọng.
Thứ hai, CSTT thuộc nhóm chính sách kinh tế vĩ mô - do đó, nó không có mục đích
tự thân mà phải hướng tới phục vụ các mục tiêu của nền kinh tế
Muốn thực hiện mục tiêu kinh tế vĩ mô, Chính phủ cần phải thực thi nhiều chính
sách kinh tế vĩ mô trong đó có CSTT. Khác với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như
chính sách tài khoá, chính sách kinh tế đối ngoại… thì CSTT chủ yếu chỉ tác động ở thị
trường tiền tệ, và qua đó tác động đến đến mặt cầu của nền kinh tế, ảnh hưởng đến giá cả,
đầu tư, việc làm, sản lượng …
Thứ ba, mặc dù CSTT chỉ chủ yếu tác động và làm thay đổi những cân bằng ngắn
hạn, vừa có tác dụng điều chỉnh ổn định kinh tế, vừa hướng sự cân bằng ngắn hạn của
nền kinh tế vận động xoay quanh giới hạn khả năng sản xuất - tức là, đạt được mức hiệu
quả trên cơ sở khai thác một cách có hiệu quả tiềm năng kinh tế, do đó, góp phần làm giảm

tính chu kỳ của nền kinh tế, nhưng nó còn ảnh hưởng mặc dù gián tiếp nhưng rất quan trọng
đến sự phát triển của nền kinh tế ở cả trung và dài hạn. Chẳng hạn như, bằng việc thay đổi
mức lãi suất, sử dụng định chế mức lãi suất ưu đãi mà CSTT góp phần khuyến khích đầu tư

Theo như giới hạn nghiên cứu đã nêu, nội hàm của vấn đề này được trình bày ở
một số hoạt động thực thi cơ bản sau:
1.1.2.1. Cung ứng và điều tiết tổng phương tiện thanh toán trong lưu thông
* Lượng tiền cung ứng (Tổng phương tiện thanh toán - MS)
Theo lý thuyết về số nhân tiền ta có:
Trong đó: s là tỷ lệ tiền mặt/tiền gửi
MS = x H r
a
là tỷ lệ dự trữ thực tế tiền gửi
H là tiền cơ sở (cơ số tiền tệ)
H = U + R
a
U là tiền mặt trong lưu thông
R
a
là tiền mặt dự trữ trong các
ngân hàng
Từ đó, có thể thấy, những thay đổi trong 3 biến (H, r
a
và s) làm cho cung ứng tiền
tệ thay đổi như thế nào:
Thứ nhất, cung ứng tiền tệ tỷ lệ thuận với cơ số tiền. Vì vậy, sự gia tăng cơ số tiền
làm tăng cung ứng tiền tệ theo cùng một tỷ lệ.
Thứ hai, tỷ lệ dự trữ trên tiền gửi càng thấp, thì ngân hàng càng cho vay nhiều và
tạo thêm nhiều tiền từ mỗi VNĐ dự trữ, tức càng được nhiều tiền. Bởi vậy, sự cắt giảm tỷ
lệ tiền mặt/tiền gửi làm số nhân tiền và cung ứng tiền tăng lên.
Thứ ba, tỷ lệ tiền mặt trên tiền gửi (s) càng thấp, công chúng càng giữ ít VNĐ, các
NHTM càng giữ nhiều VNĐ thì càng tạo ra được nhiều tiền. Vì vậy, sự cắt giảm tỷ lệ
tiền mặt trên tiền gửi làm số nhân tiền và cung ứng tiền tệ tăng lên.
Trên thực tế, tốc độ lưu thông tiền tệ còn bị chi phối bởi: tốc độ chu chuyển vật tư

nhờ số nhân tiền. Trong các nước công nghiệp, nơi có hệ thống ngân hàng đã phát triển
cao, thị trường tiền tệ nhạy cảm, cơ chế vay mượn hiện đại và tinh vi, thì việc sử dụng
các công cụ gián tiếp như: nghiệp vụ thị trường mở, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết
khấu không chỉ điều tiết khối lượng tiền tệ trong lưu thông, mà còn điều tiết cả tín dụng.
Ngoài ra, người ta còn dùng giải pháp bổ trợ bằng khống chế hạn mức tín dụng, cụ thể là:

Từ khối lượng tiền tệ có thể cung ứng thêm, NHTW dành chủ yếu cho hoạt động
tín dụng ngắn hạn phù hợp với mức tăng trưởng, có tính đến mức lạm phát (nếu có) đã
được khống chế trong từng thời kỳ nhất định.
Đồng thời, khối lượng tiền tệ tăng thêm qua tín dụng sẽ không được “rót” từ
NHTW xuống, bất chấp thực trạng về vốn, chất lượng tín dụng của các NHTM, mà được
hình thành trước hết từ nhu cầu thực sự của thị trường tiền tệ thông qua quan hệ vay vốn
giữa các doanh nghiệp và các NHTM. Khi các NHTM thiếu vốn thì họ đến NHTW xin
tái cấp vốn (tái chiết khấu) tiền trung ương. NHTW là người cho vay thường xuyên, là
người cho vay cuối cùng và là chủ nợ đối với NHTM nhằm kiểm soát chất lượng và số
lượng tín dụng, các nguồn tiền gửi của các NHTM và TCTD, theo các định hướng chính
sách cụ thể sau:
* Đa dạng hóa các thành phần của khối tiền tệ
Để tăng tầm kiểm soát của NHTW, tích cực kiềm chế lạm phát, tăng nguồn tín
dụng, người ta thực hiện chính sách đa dạng hóa các thành phần của khối tiền tệ trong lưu
thông bằng cách NHTW thúc đẩy các NHTM thu hút tất cả các nguồn tiền gửi của mọi
doanh nghiệp và dân cư bằng cách mở tài khoản và thanh toán qua ngân hàng. Từ đó,
phát triển các thành phần khác của khối tiền tệ như séc và các công cụ lưu thông tín dụng
khác bên cạnh tiền mặt, nhằm tăng nguồn vốn tín dụng của các NHTM và tăng khả năng
chi phối của NHTW đối với khối tiền tệ
* Thay lãi suất thực âm (thường lấy lý do hỗ trợ sản xuất, khuyến khích đầu tư)
bằng lãi suất thực dương (đã loại trừ tỷ lệ lạm phát) để thay CSTT làm xói mòn nguồn
vốn bằng CSTT mở rộng nguồn vốn.
Với một lãi suất thực dương vừa phải, sẽ làm cho dân cư chuyển từ dạng tiết kiệm
phi tài chính (dự trữ vàng, ngoại tệ, bất động sản,…) qua dạng tiết kiệm tài chính, tăng

ngoài trên đất nước mình, chính sách ngoại hối hướng vào việc ngăn chặn việc tích trữ
ngoại hối rải rác trong các pháp nhân và thế nhân, quản lý việc mua bán ngoại tệ (có
ngoại tệ phải bán cho ngân hàng và khi cần thì mua tại ngân hàng hay tại thị trường hối
đoái), thu hút các nguồn ngoại tệ vào NHTW. Đây là chính sách mua đứt bán đoạn chứ
không phải cho phép các tổ chức dân cư và người cư trú được cất giữ ngoại tệ trên tài

khoản mở ở các ngân hàng. Bởi vì điều này chỉ có lợi cho nước phát hành số ngoại tệ đó.
Nhờ phát hành tiền, họ đã thu về khối lượng hàng hóa và dịch vụ mà chưa bị đòi nợ, như
một khoản tín dụng tự nguyện không phải trả lãi. Về phía các ngân hàng trong nước, nếu
huy động tiền gửi không kỳ hạn hoặc ngắn hạn thì cũng không thể sử dụng được nhiều số
ngoại tệ đó. Tất yếu họ phải đem gửi ngân hàng nước ngoài để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu
rút ra của khách hàng và tìm kiếm chút lãi để bù đắp lãi suất tiền gửi đã huy động vào.
Việc vay hoặc huy động ngoại tệ dài hạn lại là vấn đề khác.
* Dự trữ ngoại hối
Dự trữ ngoại hối là lượng ngoại hối được lưu giữ tại NHTW nhằm cân bằng cán
cân thanh toán quốc tế và can thiệp vào cung, cầu ngoại hối trên thị trường để điều tiết tỷ
giá hối đoái. Do đó, mỗi quốc gia đều có dự trữ ngoại hối, tùy theo khả năng nền kinh tế
nước đó. Dự trữ ngoại hối phục vụ cho nhu cầu thanh toán quốc tế và điều chỉnh khối
lượng tiền cung ứng trong nước. NHTW mua và gia tăng dự trữ ngoại hối sẽ làm gia tăng
khối lượng tiền tệ. Ngược lại, khi NHTW bán ngoại tệ ra, giảm dự trữ ngoại hối thì cũng
đồng thời làm giảm khối lượng tiền tệ. Do đó, qua việc mua bán ngoại hối, NHTW thực
hiện can thiệp thị trường, chủ động tác động tỷ giá hối đoái theo chiều mong muốn.
* Thị trường hối đoái
Thị trường hối đoái (còn gọi thị trường ngoại hối) là nơi diễn ra các hoạt động
giao dịch, mua bán ngoại tệ và các phương tiện thanh toán có giá trị như ngoại tệ.
NHTW với tư cách là người thực thi và điều hành CSTT, có thể tác động trực tiếp
hay gián tiếp vào thị trường ngoại hối thông qua cung, cầu ngoại hối. Trong đó, tác động
trực tiếp bằng cách thiết lập quỹ bình ổn hối đoái và quỹ dự trữ ngoại hối. Cụ thể, khi
NHTW dùng những quỹ này để tác động đến cung, cầu ngoại hối như sau: Nếu cầu ngoại
hối cao, tỷ giá hối đoái có xu hướng tăng quá mức, NHTW sẽ bán ngoại hối từ dự trữ

Thứ nhất, thực hiện chính sách thặng dư hay tối thiểu là thăng bằng cán cân thanh
toán quốc tế bằng cách đẩy mạnh xuất khẩu, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn
ngoại tệ.
Thứ hai, kiểm soát và hạ thấp tỷ lệ lạm phát để ổn định giá cả và nâng cao sức
mua đối nội của đồng tiền, tạo sự tác động ngược lại đối với tỷ giá hối đoái.

Thứ ba, có chính sách lãi suất tín dụng thích hợp để thu hút các khoản tiết kiệm và
đầu tư, kể cả bằng nguồn ngoại tệ từ ngoài vào, đồng thời hạn chế việc săn lùng ngoại tệ
và vàng bạc
Thứ tư, tạo quỹ dự trữ ngoại hối để can thiệp thị trường hối đoái khi cần thiết. Tuy
nhiên, việc can thiệp chỉ có thể tiến hành khi sự biến động đó xuất phát thuần túy vào quan
hệ cung và cầu. Nếu vì nguyên tắc khác, ví dụ như lạm phát hoặc thiểu phát, thì không thể
dùng biện pháp can thiệp được mà phải tìm các biện pháp khác nhau hạn chế lạm phát hay
khắc phục thiểu phát, mà không nên dùng dự trữ để can thiệp, vì như vậy chẳng khác nào là
tự sát.
1.1.2.4. Chính sách tiền tệ trong quan hệ với ngân sách Nhà nước
CSTT của NHTW muốn có tác dụng mong muốn cần xử lý mối tương quan của
nó với ngân sách nhà nước. Tùy theo tình trạng ngân sách có cân bằng hay không sẽ ảnh
hưởng tích cực hay tiêu cực với những mức độ khác nhau đối với lưu thông tiền tệ. Do
vậy, cách xử sự của CSTT trong quan hệ với ngân sách cũng khác nhau trong những
trường hợp sau đây:
* Trường hợp ngân sách cân bằng
Khi chính phủ thu thuế tức là đã lấy ra khỏi lưu thông một lượng tiền nào đó và
chi số tiền ấy vào guồng máy kinh tế. Tổng khối lượng tiền tệ không thay đổi vì nó được
tăng giảm một ngạch số như nhau. Tuy nhiên, nó có thể làm thay đổi kết cấu giữa tiêu
dùng và tiết kiệm, trong khi đó, chính phủ phải dùng số tiền thuế thu được cấp phát cho
những người có thu nhập thấp, hay cho chi tiêu của chính phủ thì số tiêu thụ chung lại gia
tăng, số đầu tư giảm và kết quả là có khả năng làm tăng dần giá cả. Nếu Nhà nước dùng
số chi ngân sách để đầu tư, thì số đầu tư của tư nhân giảm, trong khi đầu tư của Nhà nước
tăng lên. Tuy nhiên, trong trường hợp ngân sách thăng bằng, cơ cấu thu và chi ngân sách

dục, hành pháp,… Tuy nhiên trong giới hạn của luận văn này tác giả chỉ tập trung phân
tích nhóm các công cụ bên trong.
1.1.3.1. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi lại Ngân hàng NHNN Việt
Nam thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia [28]. Theo luật định, khi các NHTM huy động

được vốn tiền gửi trong xã hội, phải trích ra một phần của số tiền gửi này để gửi vào tài
khoản dự trữ bắt buộc tại NHTW và để tại quỹ của mình. Số tiền gửi được trích là theo tỷ lệ
dự trữ bắt buộc quy định của NHTW.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là hệ số giữa số lượng phương tiện thanh toán cần vô hiệu
hóa trên tổng số tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, nhằm điều chỉnh khả năng thanh
toán của NHTM. Đó là, tỷ lệ phần trăm giữa lượng dự trữ bắt buộc trên tổng số tiền gửi
tại hệ thống NHTM. Tỷ lệ này do NHNN quy định tùy theo từng thời kỳ, từng loại tiền
gửi và mang tính pháp lý bắt buộc phải thi hành. Thông qua điều chỉnh trực tiếp tỷ lệ dự
trữ bắt buộc, NHTW tác động cả vào khối lượng và giá cả tín dụng của NHTM.
Về lý thuyết, khi NHTW thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ gây tác động làm thay đổi
số nhân tiền tệ và tất nhiên sẽ gây ảnh hưởng thay đổi mức cung tiền. Cụ thể, khi NHTW
tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm giảm số nhân tiền và ngược lại, khi giảm dự trữ bắt buộc sẽ
làm tăng số nhân tiền. Bên cạnh đó, việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ ảnh hưởng đến khả
năng thanh khoản của các ngân hàng đồng thời tác động đến nguồn vốn có thể sử dụng được
để cho vay nên tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến lãi suất cho vay của các ngân hàng. Cũng giống
như mối quan hệ giữa số nhân tiền tệ và dự trữ bắt buộc, mối quan hệ giữa lãi suất cho vay
của các NHTM và dự trữ bắt buộc là mối quan hệ nghịch chiều.
Mặc dù dự trữ bắt buộc có ưu điểm là công cụ mang tính chất đầy quyền lực vì nó
mang nặng tính chất hành chính và nó gây tác động như nhau đối với các ngân hàng
nhưng nhược điểm của nó là làm tăng chi phí đầu vào cho các ngân hàng do đó không thể
tăng dự trữ bắt buộc lên quá cao vì nó sẽ làm gia tăng gánh nặng chi phí cho ngân hàng
và đẩy lãi suất cho vay lên cao hơn nhiều. Bên cạnh đó, do việc tính toán và trích lập dự
trữ bắt buộc là khá phức tạp khi thực thi, không thể thực hiện thường xuyên hàng ngày do
vậy nếu liên tục thay đổi dự trữ bắt buộc sẽ rất có thể gây nên tình trạng bất ổn định cho

Trường hợp giấy tờ có giá có thời hạn còn lại dài hơn 91 ngày thì NHNN sẽ áp dụng phương
thức chiết khấu có kỳ hạn. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các TCTD có thể chiết
khấu “tự do” với NHNN mà việc chiết khấu được thực hiện trong phạm vi hạn mức chiết
khấu do NHNN xác định. Dựa trên mục tiêu CSTT và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, nhu cầu
vốn khả dụng và dự báo biến động nhu cầu vốn khả dụng cùng với các chỉ tiêu có liên quan

Lãi
suất
chiết
khấu
Tỷ giá hối
đoái
Giá cả tài
sản
Mong ước
dự tính
Lãi suất thị
trường
Cầu nội
địa
Cầu bên
ngoài

Tổng
cầu

Giá
nhập
khẩu
Áp lực
1.1.3.3. Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ tái chiết khấu là một cửa rất quan trọng để NHTW phát hành tiền vào
guồng máy vận động của nền kinh tế, song nó chỉ thực hiện được khi các NHTM nảy sinh
nghiệp vụ vay mượn ở NHTW. Trong thực tế, nhiều NHTM không chịu vay tiền của
NHTW vì những thủ tục ngặt nghèo. Do đó, ngoài nghiệp vụ tái chiết khấu, thì nghiệp vụ
thị trường mở là một cửa quan trọng khác để NHTW điều chỉnh khối lượng tiền trong lưu
thông.
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua, bán ngắn hạn các giấy tờ có giá do NHNN
thực hiện trên thị trường tiền tệ nhằm thực hiện CSTT quốc gia [28].
Như vậy, nghiệp vụ thị trường mở là công cụ được NHTW thực hiện bằng cách
mua hoặc bán ngắn hạn các giấy tờ có giá trên thị trường tài chính nhằm thay đổi cơ số
tiền tệ, qua đó tác động đến mức cung tiền và lãi suất.
Khác với các thị trường khác, chủ thể tham gia trên thị trường chỉ bao gồm hai đối
tượng là NHTW và các trung gian tài chính, hai đối tượng này luôn ở hai vị thế ngược
nhau trên thị trường - kẻ bán, người mua hoặc ngược lại. Tất nhiên, NHTW luôn là chủ
thể nắm vai trò chủ động quyết định khối lượng, chủng loại giấy tờ có giá và vị thế mua
hay bán. Do vậy, đây là công cụ mà NHTW các nước phát triển thường hay sử dụng nhất
vì nó cực kỳ linh hoạt, chính xác, thực hiện nhanh chóng và quan trọng hơn nữa là
NHTW hầu như kiểm soát hoàn toàn nghiệp vụ này, có thể dễ dàng đảo ngược vị thế trên
thị trường khi có sai lầm trong quá trình thực thi. Điều cần lưu ý là NHTW hoạt động trên
thị trường mở không nhằm mục tiêu lợi nhuận mà hướng đến mục tiêu tối thượng là điều
tiết cung tiền. Trong khi đó ở vị thế ngược lại, các trung gian tài chính tham gia vào thị
Về mặt kỹ thuật, NHTW tổ chức giao

dịch trên thị trường mở thông qua việc đấu thầu một cách tự do, không áp đặt và để cho
quy luật cung cầu tự nhiên quyết định giá của các giấy tờ có giá - tức là số tiền mà
NHTW nhận thanh toán hoặc thanh toán cho các trung gian tài chính tham gia - thông qua
lãi suất được hình thành từ việc đấu thầu. Trên thực tế, việc đấu thầu có thể được thực
hiện thông qua hai phương thức là đấu thầu khối lượng hoặc đấu thầu lãi suất.
Ở phương thức đấu thầu khối lượng, NHTW sẽ xác định khối lượng trúng thầu trên
cơ sở khối lượng dự thầu của các đối tượng tham gia và khối lượng thông báo của NHTW
theo mức lãi suất ấn định được thông báo trước. Do đó, đấu thầu theo phương thức này
NHTW quyết định lãi suất trước nhưng tác động đến hoạt động kinh tế thông qua việc phân
bổ quy mô khối lượng cung tiền vào nền kinh tế và qua đó gián tiếp tác động đến lãi suất của
các NHTM.
Trong khi đó, ở phương thức đấu thầu lãi suất, NHTW sẽ xác định lãi suất trúng
thầu trên cơ sở khối lượng dự thầu của các đối tượng tham gia và và khối lượng thông
báo của NHTW. Lãi suất trúng thầu là lãi suất dự thầu thấp nhất (nếu NHTW mua giấy tờ

Thương mại, Bộ Kế Hoạch và Đầu tư, các bộ, ngành hữu quan khác và các chuyên gia về
lĩnh vực ngân hàng
Bên cạnh đó, còn có các chủ thể khác như các nhà môi giới và kinh doanh chuyên
nghiệp.
1.1.4.2. Các nhân tố khác
Một là, tình hình thực tiễn của nền kinh tế. Trong một khoảng thời gian nhất
định, CSTT của một quốc gia thường được vận dụng theo hai hướng cơ bản, đó là CSTT
mở rộng và CSTT thắt chặt, tùy thuộc vào tình hình thực tiễn của nền kinh tế. Cụ thể là:
Khi nền kinh tế tăng trưởng quá nóng, lạm phát cao phải sử dụng CSTT thắt chặt.
Bởi lẽ, để kiềm chế lạm phát kìm giữ tốc độ tăng trưởng quá ngưỡng, phải hạn chế mức
cung ứng tiền tệ hoặc tăng lãi suất để hạn chế đầu tư và thu hẹp bớt tiêu dùng của toàn bộ
nền kinh tế.
Khi nền kinh tế rơi vào trạng thái giảm phát, để mở rộng sản xuất kinh doanh cần
phải sử dụng CSTT mở rộng (nới lỏng). Bỡi lẽ trong trường hợp này doanh nghiệp tăng

cả về số lượng và quy mô để tạo việc làm, thúc đẩy đầu tư và khắc phục suy thoái. Hướng
tác động của CSTT là tăng mức cung tiền tệ tạo điều kiện để hạ lãi suất làm tốt hơn điều
kiện đầu tư và tiêu dùng trên toàn bộ nền kinh tế.
Do đó, để thực thi tốt CSTT phải theo dõi chặt chẽ cả thị trường tiền tệ và thị
trường hàng hóa. Khi thị trường hàng hóa biến động mạnh có thể chọn giải pháp ổn định
mức cung tiền, để lãi suất biến động nhờ đó mà điều chỉnh thị trường hàng hóa dần về
trạng thái cân bằng. Khi thị trường hàng hóa ổn định, mức cầu tiền biến động ảnh hưởng
xấu tới trạng thái cân bằng của sản lượng, thì chọn giải pháp giữ ổn định lãi suất và thay
đổi mức cung tiền.
Hai là, thể chế kinh tế. Tùy các thể chế kinh tế khác nhau mà các quốc gia tiến
hành thực hiện thực thi CSTT khác nhau. Cụ thể là:
Trong thể chế NHTW độc lập với Chính phủ, trực thuộc Quốc hội thì NHTW là do
Quốc hội lập ra, chịu sự điều hành và chi phối của Quốc hội về nhân sự và các mục tiêu
của CSTT. Do đó, một mặt NHTW toàn quyền quyết định việc xây dựng và thực thi
CSTT mà không bị ảnh hưởng bởi các áp lực chi tiêu của Ngân sách hoặc các áp lực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status