Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Gắn liền với công cuộc đổi mới và mở cửa ở nước ta, có nhiều yêu
cầu phải mở giải quyết cùng một lúc: Vừa ổn định, vừa phát triển kinh tế
trong nước, vừa mở rộng giao lưu quan hệ quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước
ngoài ...Nhu cầu mở rộng lượng tiền cung ứng (Cầu về tiền) ngày càng lớn,
dẫn đến sự xác lập quan hệ cung - cầu mới về tiền trong khi đó vẫn phải
tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô với hạt nhân là ổn định tiền tệ, tạo lập nền
tảng cho sự phát triển chung.
Ngày nay không ai còn có thể phủ nhận bằng việc điều chỉnh tiền tệ
cho phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế là một trong những vấn đề thiết
yếu mà tổ chức của các hệ thống tiền tệ phải tuân thủ và chính sách tiền tệ
phải theo đuổi.
Xét về toàn cảnh thị trường tài chính thế giới trong những năm qua
thì bức tranh thị trường tài chính khá sáng sủa, các khoảng tối đã bị thu hẹp
và nhường chỗ cho những khoảng sáng. Thế giới đã từng chứng kiến sự hồi
phục nhanh chóng của các nền kinh tế từ châu Á, châu Âu và Mỹ sau
những tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á diễn
ra giữa năm 1997 chắc chắn còn là nỗi ám ảnh đối với nhiều người.
Bước vào thế kỷ mới, năm 2000, năm bản lề của sự phát triển và
hưng thịnh, Việt Nam - con rồng châu Á xác định mục tiêu tăng trưởng
kinh tế và công bằng xã hội. Vì vậy việc lựa chọn giải pháp nào để xây
dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia có hiệu quả nhất vẫn còn là
một ẩn số phức tạp và nhiều bất cập.
Qua quá trình học tập môn học, được sự hướng dẫn của các thầy cô
giáo ở bộ môn nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng, em xin mạnh dạn trình bày
hợp tác và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động Ngân hàng.
Năm là, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, góp phần
công nghiệp hóa hiện đại hoá đất nước.
Đây là chính sách lớn, mang tính định hướng cho hoạt động của hệ
thống Ngân hàng nói chung và trong lĩnh vực tiền tệ nói riêng. Chính sách
tiền tệ có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Nó là đòn bảy
kinh tế lớn nhất trong hệ thống đòn bảy kinh tế được sử dụng thường xuyên
và linh hoạt nhất đối với mọi thành phần kinh tế. Không sử dụng và không
thực hiện đúng chính sách, chắc chắn sẽ làm cho quá trình phát triển kinh tế
gặp nhiều khó khăn hay vấp phải nguy cơ không lường trước được. Do đó
điều tiết vĩ mô cho đến nền kinh tế mỗi quốc gia.
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Để chuẩn bị bước vào thế kỷ 21, thế kỷ hội nhập quốc tế và bùng nổ
của khoa học công nghệ, việc xây dựng chiến lựợc phát triển đã trở thành
một vấn đề quan trọng đối với mỗi quôc gia. Cho đến nay đã hoàn thành
việc xây dựng cho mình một chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chặng
đường đầu tiên của thế kỷ mới. Với Việt Nam hiện nay, vấn đề này đang
được Đảng và Nhà nước coi là một nhiệm vụ to lớn củ cả các ngành, các
cấp, trong đó xây dựng chiến lược tài chính thực hiện chính sách tiền tệ
được đặc biệt coi trọng bởi tài chính luôn là một lĩnh vực bao trùm, chi
phối mọi mặt, mọi phương diện của đời sống xã hội trong bối cảnh kinh tế
thế giới đầy thách thức và trở ngại với công cuộc CNH - HĐH đất nước thì
vai trò chính sách tiền tệ càng trở nên quan trọng bức thiết hơn bao giờ hết.
Cụ thể hơn, chính sách tiền tệ có vai trò vô cùng quan trọng trong
việc điều tiết khối lượng tiền lưu thông trong toàn bộ nền kinh tế. Thông
qua chính sách tiền tệ NHTW có thể kiểm soát được hệ thống tiền tệ để từ
đó kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, ổn định sức mua của đồng tiền và thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế. Mặt khác chính sách tiền tệ còn là công cụ để kiểm
liên tục và ổn định khống chế tỷ lệ thất nghiệp không vượt quá mức tăng
thất nghiệp tự nhiên.
2.2. Về việc tăng trưởng kinh tế :
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế quan hệ chặt chẽ với mục tiêu việc làm
cao. Các Chính sách có thể đặc biệt nhằm vào việc khuyến khích tăng
trưởng kinh tế bằng cách khuyến khích trực tiếp các hãng đầu tư hoặc quần
chúng nhân dân tiết kiệm để có thêm nhiều vốn cho các hãng đưa vào đầu
tư.
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu và quan trong nhất của
chính sách tiền tệ. Với tư cách là trung tâm tiền tệ tín ụng và thanh toán
trong nền kinh tế quốc dân. NHTW có vai trò quan trọng trong việc thực
hiện mục tiêu này. Ngân hàng nhà nước Việt Nam cần Bằng mọi phương
thức để có thể huy động được hầu hết các nguồn vốn nhàn rổi trong nước
và nước ngoài để phuc vụ cho mục tiêu này. Mục tiêu từ năm 2000 trở đi
tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm phải đạt từ 9- 10% đó là múc tăng
trưởng cao, nó đòi hỏi phải gia tăng đầu tư hàng năm hàng chục tỷ USD.
2.3. Về ổn định giá cả
Hơn hai thập kỷ qua công chúng và các nhà kinh tế chuyên nghiệp
Mỹ càng hiểu rõ hơn cái giá phải trả về khinh tế và xã hội của lạm phát gay
nên. Họ đã quan tâm nhiều hơn đến một mức giá ổn định. ặn định giá cả là
điều ai cũng mong muốn bởi vì mức giá cả tăng lên (lạm phát) gây nên tình
trạng bấp bênh trong nền kinh tế. Vì vậy, NHTW phải góp phần duỳ trì
tăng trưởng liên tục nhưng ổn định triệt tiêu nghững nhân tố gây nên sự
tăng nhu cầu giả tạo để tăng chi phí lên cao. Trong cuộc đấu tranh này, lãi
suất và cung ứng tiền tệ là hai thứ vũ khí lợi hại, luôn nắm bắt và theo dõi
được thực tế diễn biến của quá tình thực hiện mục tiêu để từ đó có những
giải pháp, điều chỉnh phù hợp.
Trong cơ chế thị trường, NHTW phải xác định các mục tiêu trung
gian của chính sách tiền tệ, nhằm đạt đến mục tiêu cuối cùng của chính
sách này. Bởi lẽ NHTW sử dụng các mục tiêu trung gian đẻ có thể xét đoán
nhanh chóng tình hình thưch hiện các hoạt động của mình phục vụ cho các
mục tiêu cuối cùng hơn là chờ cho đến khi nhìn thấy được kết quả cuối
cùng của các mục tiêu đó. Các mục tiêu trung gian cảu chiónh sách tiền tệ
mà NHTW sử dụng là các khối tiền tệ M1,M2,M3 và lãi suất.
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đây là những mục tiêu mang tính định luợng, chúng có thể đo lường,
kiểm soát được và có thể dự đoán tác động của chúng đối với việc thực
hiện cac mục tiêu cuối cùng của chính sach tiền tệ.
Bằng việc tăng, giảm các khối tiền tệ, NHTW góp phần tác động đến
tăng, giảm tổng cung và tổng cầu của tiền tệ. Đồng thời, NHTW cũng có
thể sử dụng công cụ lãi suất để tác động đến sự tăng giảm khối lưọng tiền
tệ từ đó mà tác động đến tổng cung và tổng cầu xã hội. Tuy nhiên thực tiễn
thi hành chính sách tiền tệ ở nhiều nuớc cho phép người ta thiên về hướng
lụa chọn các khối lượng tiền tệ làm mục tiêu trung gian hơn là lựa chọn lãi
suất.
Trong các khối tiền tệ, tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng nước,
NHTW có thể lựa chọn M1, M2 hoặc M3 làm mục tiêu trung gian ưu tiên
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3. Nội dung chính sách tiền tệ
Trong cơ chế kinh tế thị trường, chính sách tiền tệ bào gồm ba thành
phần cơ bản gắn liền với ba kênh dẫn nhập tiền vào lưu thông là:
+ Chính sách tín dụng
+ Chính sách ngoại hối
NHTM trong nước nguy cơ làm tăng khối lượng tiền tệ nhẹ hơn. Áp lực
lạm phát tại các nước đang phát triển mạnh hơn các nước có thu nhạp cao
là do các nước này chủ yếu sử dụng biện pháp vay NHTW bằng cách phát
hành tiền trực tiếp và vay nợ nước ngoài .
3.3.2. Trường hợp ngân sách cân bằng
Khi chính phủ thu thuế tức là đã lấy ra khỉ lưu thông một lưọng tiền
và chi trở lại số tiền ấy vào bộ máy kinh tế. khối tiền tệ không thay đổi vì
nó được tăng giảm một ngạch số như nhau. Tuy nhiên, nó có thể thay đổi
kết cấu giữa tiêu dùng và tiết kiệm, chẳng hạn nếu tầng lớp chịu thuế không
giảm tiêu thụ mà giảm tiết kiệm. Trong khi đó, chính phủ phải dùng số thuế
thu được một phần trợ cấp cho những người có thu nhập thấp thì số tiêu thụ
chung lại gia tăng, số đầu tư giảm và kết quả là có thể làm tăng vật giá. Nếu
nhà nước dùng số chi ngân sách để đầu tư thì đầu tư nhà nước tăng lên, đầu
tư chung không đổi. Lưu ý hai trường hợp :
Thứ nhất : Nếu chính sách tiền tệ chống lạm phát, ngân sách thăng
bằng vẫn có thể tác dụng ngược với chính sách tiền tệ nhằm chống suy
thoái.
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thứ hai: Trường hợp chính sách tiền tệ nằm chống suy thoái ngân
sách thăng bằng vẫn có thể chuyển dịch thu nhập tiền tệ theo hướng góp
phần chống suy thoái bằng cách làm tăng mức tiêu thụ.
3.3.3. Trường hợp ngân sách thặng dư:
Đây là trường hợp rất quý và nó là ước mơ chung của mọi quốc gia
vì nó rút bới tiền tệ dư thừa, tác đọng có lợi cho mối tương quan giữa tổng
cung và tổng cầu tiền tệ.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
NHTW có thể quy định khung lãi suất cho vay buộc ngân hàng khinh
doanh chấp hành.
Khi muốn tăng khối lượng cho vay, NHTW giảm mức lãi suất để
kích thích các nhà đầu tư vay vốn. Khi vần hạn chế đầu tư. NHTW ấn định
với lãi suất cao.
Biện pháp này có ưu điểm là giúp ngân hàng lựa chọn dự án kinh tế
tối ưu để cho vay, loại những dự án kém hiệu quả.
Việc ấn định các cung lãi suất tiền gửi và cho vay nhìn chung ngày
càng được áp dụng ởi các nước theo cơ chế thị trường, lãi xuất rất nhậy
cảm với đầu tư, nó phải vận động theo quy luật cung cầu vốn trên thị
trường.
4.1.2. Ấn định mức tín dụng
Đây là một biện pháp mạnh, có hiệu lực đáng kể. Thực chất biện
pháp này cho phép NHTW ấn định trước khối lượng tín dụng phải cung cấp
cho nền kinh tế trong một thời gian nhất định và sau đó tìm con đường để
đưa nó vào nền kinh tế.
Song trong nền kinh tế thị trường, cung cầu tín dụng biến động
không ngừng, biện pháp này chỉ được áp dụng một cách hạn chế khi tình
huống yêu cầu.
4.1.3. Phát hành tiền trực tiếp cho ngân sách và cho đầu tư
Trong điều kiện ngân sách bị thiếu hụt, NHTW phải phát hành tiền
để bù đắp sự thiếu hụt đó. Rõ ràng biện pháp này làm gia tăng luợng tiền
trong lưu thông, trong khi lượng hàng hoá không tăng hoặc tăng không kịp.
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hởu quả là gia tăng lạm phát. Nó được nhanh chóng loại trừ trong điều
kiện kinh tế thị trường bình thường.
Phát hành trực tiếp cho đầu tư có thể qua ngân sách nhà nước hoặc
qua con đường tín dụng ngân hàng (biện pháp này gọi là biện pháp cho sản
họ.
Khi một ngân hàng trung gian, bằng nguồn vốn đi vay hoặc huy
động được, cấp ra một khoản tín dụng và lập tức biến thành tiền gửi tại
nhân hàng đó hoặc tại ngân hàng liên đới. Họ nhanh chóng có nhu cầu tiền
trung ương để :
Đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng
Thanh toán bằng tiền mặt hay chuyểnm khoản cho các ngân hàng
khác.
Mua ngoại tệ trên thị trường hối đoái hoặc của NHTƯ
Các ngân hàng trung gian tìm đến NHTW xin cấp vốn bằng cách xin
tái chiết khấu trước đó.
Tái cấp vốn là đầu mối phát sinh tiền trung ương, tăng khối lượng
tiền tệ nên NHTW giải quyết rất thận trọng trên cơ sở :
Chỉ tiêu tín dụng trong nền kinh tế nằm trong khối lượng tiền tệ cung
ứng thêm hàng kỳ kế hoạch.
Hạn mức tín dụng đã phân phố cho từng NHTM theo mức dư nợ tín
dụng thực tế hoặc theo vốn tự có cuả NHTM đó nhưng chưa dùng tới.
Tỷ lệ tiền mặt và tiền ghi sổ đã hình thành trong nền kinh tế. Tuy
nhiên trong số tiền trung ương được tái cấp vốn. NHTM sử dụng bao nhiêu
tiền mặt cũng được.
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Điều kiện để NHTW tái cấp vốn là :
Còn hạn mức tín dụng (tái cấp vốn) dành cho NHTM đó :
Các khoản tín dụng đem tái chiết khấu có lành mạnh và đảm bảo hối
nợ hay không.
Tuỳ theo yêu cầu khuyến khích hay mở rộng tín dụng tái cấp vốn
bình thường hay mang ý nghĩa phạt mà lãi xuất tái chiết khấu có thể bằng,
thấp hơn hoặc cao hơn mức lãi suất khoản tín dụng mà mà NHTM đã cho
cung ứng tiền tệ. Khi NHTW quyết định mau một loại giấy tờ có giá trên
thị trường tiền tệ sẽ làm tăng cung ứng tiền tệ. Ngược lại,khi NHTW bán
một lưọng chứng khoán trên thị trường tiền tệ sẽ làm giảm bớt cung ứng
tiền tệ. bằng việc mua bán các loại giấy tờ có giá, nhờ chủ động quy định
mức gia phù hợp, NHTW đã tác động đến nguồn vốn các NHTM và do đó
tác động đến khả năng tín dụng của NHTM đối với nền kinh tế. Công cụ thị
trưòng mở có ưu đỉểm là nó trực tiếp tác động ngay đến dự trữ của các
ngân hàng kinh doanh và buộc các ngân hàng này phải gia tăng tín dụng
hoặc giảm bớt tín dụng đối với nền kinh tế. NHTW các nước thường tiến
hành phần lớn các nghiệp vụ thị trường mở theo yêu cầu điều chỉnh cung
cầu tiền tệ, đặc biệt khi không thể thực hiện được với công cụ tái chiết
khấu.
Muốn sử dụng tốt công cụ trên phải có sự phát triển cao của cơ chế
thanh toán không dùng tiền mặt. Ttrong diều kiện đó tiền trong lưu thông
hầu hết là một tài khoản ngân hàng. Vì vậy, công cụ này rất bphù hợp đối
với nước có nền kinh tế phát triển, có thị trường tài chính hoàn chỉnh. Còn
ở Việt Nam hiện nay, thị trường mở chưa thực sự trở thành công cụ đóng
vai trò quan trọng để NHNN điều tiết mức cung ứng tiền tệ.
Phần II:
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thực trạng chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay.
I. MỘT SỐ THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC, TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN.
1. Những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua.
Bước sang những năm đầu của thế kỷ 21 chúng ta đã thực hiện song
kế hoạch 5 năm lần thứ 6 là những năm có ý nghĩa quan trọng trong việc
thực hiện các mục tiêu của chiến lược ổn địng và phát triển kinh tế xã hội
1991- 2000 do đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 7 và thứ 8 đã đề ra.
Thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kế hoạch năm 2000 sẽ tạo tiền đề
1. b. Đã xây dựng được một moi trường pháp lý: Nhận thức rõ được
vai trò tiền tệ và động lực của môi trường pháp lý trong sự nghiệp đổi mới
chính sách tiền tệ’ hệ thống tiện tệ- tín dụng- ngân hàng, trải qua nhiều thử
nghiệm tìm tòi và nắm bắt tín hiệu thực tế, chúng ta đã bước đầu xác lập
được những nhân tố cơ bản của môi trường pháp lí. Từ việc ra đời hai pháp
lệnh ngân hàng với tư cách là văn bản luật đầ tiên nhằm điều chỉnh các
quan hệ quản lí, kinh doanh tiền tệ,tín dụng, ngân hàng đến nay đã có các
luật NHNN và luật các tổ chức tín dụng đã được quốc hội thông qua và bắt
đầu có hiệu lực từ 1/10/1998. Những năm gần đây, việc đưa 2 luật này vào
áp dụng trong thực tế đã được chú trọng hết sức nhằm tạo ra một hành lang
pháp lí mới thông thoáng và hiệu quả.
1. c. Hoạt động tiền tệ ngân hàng có nhiều thành tựu đáng khích lệ.
Mặc dù việc hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực và ngăn chặn sự lan
truyền của khủng hoảng kinh tế tài chính châu Á đối với nền kinh tế Việt
Nam được đánh giá là tích cực. Thực tế các nước chịu sự tấn công mạnh
nhất của cuộc khủng hoảng như Indonêxia, Hàn quốc... đậm nét trong khi
đó các nước nằm ngoài tầm của cuộc khủng hoảng như Việt Nam. Đối phó
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
với sức ép đó và thực hiện việc lành mạnh hoá hệ thống ngân hàng trong
bối cảnh hội nhập hàng loạt các giải pháp tiền tệ tín dụng đã được ban
hành.
Hệ thống ngân hàng hai cấp ngày nay đang đi vào nề nếp, NHTW đã
thực sự trở thành người cho vay cuối cùng, hệ thống ngân hàng thương mại
rộng khắp và hoạt động dưới sự chỉ đạo của NHTW Việc tự chủ kinh
doanh và việc xoá sự bao cấp của nhà nước khiến cho các ngân hàng càng
ngày cangf phải tích cực giảm thiểu chi phí hoạt động, nhằm kinh doanh có
hiệu quả nhất. Các ngân hàng đã nâng cấp nhiều về trang 5thiết bị, đã đưa
dược công nghệ tiên tiến vào quản lí ngân hàng, trang bị hàng loạt các máy
Trong suốt thời gian qua, lãi suất đã thực sự là một công cụ điều
hành chính sách tiền tệ đắc lực. Đặc điểm sử dụng lãi suất NHNN mang
tính trực tiếp theo yêu cầu tăng cường vốn đầu tư phát triển kinh tế và thực
hiện một số chính sách xã hội. Cho đến nay, ta đã thực thi và hoàn thiện
dần cơ chế lãi suất riêng và đang đang trên con đường tiến tới tự hoá lãi
suất. Từ đầu tiên các tổ chức tín dụng được tự do ấn định lãi suất kinh
doanh tứ tụ do hoá lãi suất trong phạm cho phép do NHNN công bố vào
1/1/1996 với chênh lệch lãi suất cho vay. Luật NHNN có hiệu lọc tù
1/10/1998 tại điều 18 quy định :” NHNN công bố lãi suất cơ bản và lãi suất
tái cấp vốn “ và tại điều 19 ghi rõ “Lãi suất cơ bản là lãi suất do NHNN
công bố để các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh “. Những thanh
công trên đây là kết quả của một quáy trình từ điều chỉnh lãi suất một cách
tình thế sang một cách chiến lược có tính lâu dài cho cơ chế lãi suất.
Việc vận dụng những công cụ trực tiếp của chính sách tiền tệ. Tuy
nhiên điều đó là hoàn toàon phù hợp với điều kiện nền kinh tế nước ta đi
lên từ một xuất phát điểm tương đối thấp. Việc xây dựng nền móng và tiến
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dần lên sử dụng các công cụ gián tiếp cũng đựoc chú trọng và đạt nhiều
thành tích đáng kể. Công cụ lãi suất đã nói trên cũng đã tiếp cận dần với lãi
suất thị trường. Tỷ giá hối đoái cũng linh hoạt và phản ánh đựoc cung cầu
vốn trên thị trường. Công cụ dự trữ bắt buộc đã được áp dụng chặt chẽ hơn
và có quyết định xử phạt rõ ràng. Lãi suất tái chiết khấu cũng đã được
nghiên cứu áp dụng sao cho nó trở thành công cụ chính thay cho lãi suất tín
dụng hiện nay. Công cụ nthị trường mở đã bắt đùa triển khai và thử
nghiệm, đồng thời chúng ta cũng tạo ra được một số công cụ để sử dụng
nghiệp vụ thị trường mở.
2.2.Về tỷ giá
Bước vào thời kỳ đổi mới, trong những năm đầu,nhà nước vẫn duy
nền kinh tế đã mở rộng hoạt tín dụng bao cấp đối với hầu hết các khu vực
kinh tế.
Với qui chế 324, cơ chế cải thiện từng bước. Tính hiệu quả đã được
đề cao trong các quyết định tín dụng ; thời hạn tín dụng được điều chỉnh
theo chu kì sản xuất, kinh doanh, đối tượng vay tín dụng được mở rộng...
Song hoạt động tín dụng thực tế vẫn bế tắc. Cho đến 31/3/1999, tăng
trưởng tín dụng và lãi suất thực tế mà ngân hàng cơ sở cho vay đã giảm
mạnh. Trước thưcj trạng đó, cùng với việc đẩy mạnh thực hiện CNH-
HĐH_nông nghiệp - nông thôn cấp tín dụng không cần thế chấp đã được
mở rộng theo quyết định 67/QĐ- TTg ngày 31/3/1999 và quyết định
148/QĐ- TTg ngày 7/7/1999 đã cụ thể hoá vấn đề này với nội dung cụ thể
là các hộ nông dân dược vay không cần thế chấp tới 10 triệu VND. Kết quả
khảo sát cho thấy trong 3 tháng 4,5,6 dư nợ cho vay phục vụ phát triẻn
nông nghiệp- nông thôn đã tăng mạnh tăng 7%, NHCT tăng 8% và NHNT
tăng 25%.
2.4.Về thị trường tài chính thứ cấp
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Quyết định số 140/QĐ- NHNN 14 ngày 19/4/1999 (có hiệu lực sau
15 ngày) về việc mua bán nợ giửa các tài chính tín dụng cũng là một tư
tươngr hoàn toàn mới tri\ong việc điều hành hoạt động tiền tệ và ngân
hàng. Thực chất của qui chế này là tạo môi trường pháp lý cho việc hình
thành thị trường thứ cấp các tài sản của hệ thống tài chính tín dụng. Mặc dù
thời gian hoạt động chưa nhiều để có thể đánh giá được hoạt động mua, bán
nợ giữa các tài chính tín dụng, nhưng có thể khẳng định được sự tồn tại
cũng như những tác động tích cực của cơ chế này.
Thứ nhất, đối với thị trường tài chính sự ra đồi của các thị trường thứ
cấp là một tất yếu và sẽ có tác dụng tích cực đối với thị trường sơ cấp.
Thứ hai, trong điều kiện việc tạo các nguồn vốn trung và dài hạn