LUẬN VĂN:
Đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo
ở Việt Nam
Chương 1: Những vấn đề lý luận
Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo ở Việt Nam
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nhằm tăng cường đầu tư và phát triển giáo
dục - đào tạo ở Việt Nam.
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung
Bước vào thế kỷ 21 Việt Nam phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần
định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước. Cùng với sự phát triển kinh tế
thì đầu tư phát triển nguồn lực là hết sức quan trọng trong đó một nguồn lực không thể
thiếu trong quá trình đầu tư là con người. Do đó, đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo càng
được coi là đầu tư phát triển.
1. Những vấn đề lý luận về đầu tư phát triển.
1.1. Khả năng về đầu tư và đầu tư phát triển.
Đầu ta là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó
nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn
lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó.
Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để trực tiếp làm
tăng các tài sản vật chất,nguồn lực và tài sản trí tuệ, hoặc duy trì sự hoạt động của các tài
sản và nguồn nhân lực sẵn có.
1.2. Vai trò của đầu tư phát triển.
1.2.1 - Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước
1.2.1.1. Đầu tư vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tổng cầu:
Về mặt cầu: đầu tư là một yếu tố chiếm tỉ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh
tế. Với tổng cung chưa kịp thay đổi, sự thay đổi của đầu tư làm cho đầu tư tăng (đường D
dịch chuyển sang D’) kéo sản lượng cầu tăng theo tư Qo – Q1 và giá của các nguyên liệu
đầu vào của đầu tư tăng từ Po-P1. Điểm cân bằng dịch chuyển từ Eo-E1.
Về mặt cung: khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt
huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế…của những vùng có khả
năng phát triển mạnh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy phát triển kinh tế các vùng khác
1.2.1.5 . Đầu tư tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: Muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức
độ tăng trưởng ở mức độ trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15%-20% so với
GDP tuỳ thuộc vào hệ số ICOR của mỗi nước.
Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư, kinh nghiệm
các nước cho thấy, chỉ tiêu ICOR phụ thuộc mạnh vào cơ cấu kinh tế và hiệu quả đầu tư
trong các nghành, các vùng lãnh thổ cũng như phụ thuộc vào hiệu quả của chính sách đầu
tư nói chung. Thông thường ICOR trong nông nghiệp phụ thấp hơn trong công nghiệp
ICOR trong giai đoạn chuyển đổi cơ cấu kinh tế chủ yếu do tận dụng năng lực. Do đó, ở
các nước phát triển, tỷ lệ đầu tư thấp, dẫn đến tăng trưởng thấp
1.2.2. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ:
Đầu tư quyết định sự ra đời tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở nhằm duy trì hoạt động
và phát triển.
1.2.3. Đầu tư vào các cơ sở vô vị lợi
Với các cơ sở đang tồn tại, để duy trì sự hoạt động, ngoài tiến hành sửa chữa lớn định kỳ
các cơ sở vật chất kỹ thuật còn phải thực hiện các chi phí thường xuyên. Tất cả những
hoạt động và chi phí này đều là những hoạt động đầu tư.
2. Những vấn đề lý luận về đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo.
2.1. Đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo.
đầu tư cho giáo dục đào tạo là một nội dung trong đầu tư phát triển con người. Đào tạo
bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực luôn được Đảng và Nhà nước ta coi là
hoạt động đầu tư cơ bản nhất. Vậy có thể hiểu đầu tư cho giáo dục đào tạo là hành động
bỏ tiền ra để tiến hành hoạt động nhằm tạo tài sản mới cho nền kinh tế nói chung, cho
giáo dục nói riêng. Tài sản mới có thể là trình độ được nâng cao của mọi đối tượng trong
công nghệ có mối liên hệ qua lại hết sức chặt chẽ. Giáo dục là nền tảng cho sự phát triển
nhanh khoa học công nghệ. Giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ kết hợp chặt chẽ,
hỗ trợ nhau, tạo nên sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững gắn liền với sự phát triển
xã hội theo hướng văn minh, hiện đại. Đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo chính là động
lực phát triển khoa học công nghệ, thúc đẩy nền kinh tế – xã hội phát triển. Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo ở Việt Nam
1. Khái quát về tìnhhình phát triển giáo dục - đào tạo ở Việt Nam.
1.1. Tổng quan về giáo dục - đào tạo ở Việt Nam.
Bảng 1: Số lượng học sinh sinh viên (nghìn người) Nguồn: Niên giám thống kê 1999
Cấp học 91 - 92 92 - 93 93 - 94 94 - 95 95 - 96 96 - 97 97 -
98
98 - 99
1. HSPT
Trung
học
12371.
4
568.2
12806.
7
564.2
năm, trong đó số lượng sinh viên ĐH tăng rất nhanh, năm 98-99 tăng hơn 6 lần so với
năm 91-92. Nguyên nhân là do hình thức đào tạo ở bậc ĐH rất phong phú; nhiều trường
ĐH tư, ĐH mở, dân lập được thành lập. Số lượng học sinh các trường dạy nghề nếu so
với năm 86 - 87 thì năm 98 - 99 chỉ bằng 51.7% nhưng từ 93 - 94 có xu hướng tăng trở
lại. Số lượng đào tạo dạy nghề không đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế đối với đội
ngũ công nhân kỹ thuật.
Về mặt quy mô giáo dục thì mức chênh lệch giữa nông thôn và thành thị có sự khác xa về
trình độ.
Tỉ lệ phần trăm tốt nghiệp phổ thông ở thành phố và nông thôn là 47/29. Đây là mức
chênh lệch khá cao vì vậy chúng ta phải có biện pháp hữu hiệu để rút ngắn tỉ lệ trên. Xét
về quy mô ở nước ta tỉ lệ người đi học so với dân số trong độ tuổi còn khá thấp. Dù rằng
quy mô giáo dục đào tạo của Việt Nam (xét về mặt biết chữ và tiểu học) ở mức trung
bình, tức là ngang bằng với Thái Lan và Philippines nhưng ở bậc trung học thì Việt Nam
lại ở mức thấp hơn so với các nước này. Đặc biệt ở bậc đại học thì Việt Nam ở vị trí cuối
cùng.
Số lao động kỹ thuật ở Việt Nam chiếm 12% năm 1995, trong số 40.2 triệu người chỉ có
4.7 triệu là lao động có kỹ thuật.
Cùng với sự biến động của số lượng học sinh, sinh viên thì số lượng giáo viên ở các cấp
có sự biến đổi theo:
Bảng 2: Số lượng giáo viên ở các cấp
Đơn vị: 1000 người
92 - 93 93 - 94 94 - 95 95 - 96 96 - 97 97 - 98 98 -
99
99 - 00
Mẫu
giáo
98
98 -
99
PT 1718
9
1798
0
19164 20086 2175
4
2266
4
2328
6
THCN 268 271 272 265 266 239 239 247
Dạy
nghề
275 185 198 182 203 239 246
CĐ &
ĐH
106 108 109 109 109 109 110 123
Số lượng các trường tăng liên tục qua các năm (trừ THCN và dậy nghề) thể hiện sự quan
tâm của Việt Nam đối với tầm quan trọng của giáo dục.
Việt Nam quản lý giáo dục theo từng cấp học khác nhau, cụ thể:
- Chính phủ quản lý các trường ĐH, CĐ, THCN.
- Tỉnh, thành phố quản lý giáo dục trung học.
- Quận, huyện quản lý giáo dục tiểu học.
Mặc dù có sự tăng lên về số lượng trường học các cấp qua các năm nhưng vẫn không đủ
lớp cho học sinh; ở các tỉnh, huyện ngoại thành tình trạng học sinh phải học ca 3 vẫn tiếp
diễn. ở cấp dạy nghề còn nằm trong tình trạng manh mún, thiếu tập trung, chưa có
199
8
199
9
200
0
TS
Cao
học
509 105
8
173
0
306
0
651 344
4
529
4
304
1
453
4
274
7
TS
NCS
16 52 96 51 074 258 111
3
117
Cao
học
509 105
8
173
0
060 651 344
4
5294 304
1
453
4
274
7
TS
NC
316 452 596 651 074 258 111
3
1174 576 686 713
S
Nguồn: Tài chính giáo dục tháng 9/2001. Trong 10 năm từ 1990 - 2000, số lượng tuyển sinh cao học đã tăng hơn 11 lần (từ 509
giáo viên và học tập của học sinh – sinh viên. Hiện nay cơ sở vật chất kỹ thuật (đặc biệt
là hệ thống thư viện; trang thiết bị của các phòng thực hành, thí nghiệm; sách giáo khoa,
tài liệu tham khảo…) còn thiếu thốn. Vì vậy, đòi hỏi trong đầu tư ngân sách cho sự
nghiệp này phải chú ý đến việc tăng cường cơ sở vật chất cho công tác giảng dạy và học
tập tại các cơ sở đào tạo, nhất là những cơ sở đào tạo có chất lượng cao.
Hai là, có chế độ chính sách đãi ngộ đối với người làm công tác giảng dạy, đảm
bảo tiền lương tương xứng với lao động của các Nhà giáo.
Quá trình sản xuất của Nhà trường với đầu vào là con người và đầu ra cũng là con
người, đó là: “sản phẩm đặc biệt”, con người ở đầu vào với con người ở đầu ra khác nhau
ỏ tri thức khoa học. Trong quá trình sản xuất đó, người lao động trực tiếp là các cán bộ
giảng dạy, có thể nói họ là những lao động đặc biệt” Với tính đặc thù như vậy, việc đầu
tư của ngân sách cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo cần phải chú ý:
Tạo điều kiện cho cán bộ giảng dạy đạt tiêu chuẩn chức danh Chính phủ quy định.
Cần có kế hoạch đào tạo lại đội ngũ cán bộ giảng dạy, khuyến khích nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ để đạt trình độ kiến thức cao hơn.
- Nhà nước cần có những chính sách và chế độ đảm bảo đời sống tinh thần và vật
chất của đội ngũ cán bộ giảng dạy, đây là yếu tố quan trọng để họ yên tâm lao động sáng
tạo và xã hội tôn vinh các Nhà giáo.
Ba là, ở nước ta hiện nay, mạng lưới trường học chưa hợp lý về quy mô và cơ cấu
ngành nghề đào tạo. Chúng ta có 110 trường Đại học và Cao đẳng; 546 trường Trung học
chuyên nghiệp và dạy nghề (trong đó Trung ương 260 trường, địa phương 286 trường),
nhưng quymô nhỏ và rất nhỏ. Trong 110 trường Đại học và Cao đẳng chỉ có 7 trường đào
tạo “đa ngành”, số còn lại đào tạo “chuyên ngành”, có khoảng 20% số trường dưới 500
sinh viên, khoảng 40% số trường dưới 1.000 sinh viên, số trường con lại dưới 2.000 sinh
viên, chỉ có 7 trường trên 5.000 sinh viên và có 2 trường trên 10.000 sinh viên. Quy mô
trường nhỏ đã kéo theo mối quan hệ khônghợp lý giữa sinh viên và giáo viên, hiện nay
bình quân là 9 sinh viên/ giáo viên, trong khi đó bình quân ở các nước Đông Nam á là 14
sinh viên/ giáo viên. Quy mô trường nhỏ đã làm tăng chi phí đào tạo đối với một sinh
Trẻ em 2.547.430 2.588.837
Giáo viên 134.934 150.335 Từ năm 2002-2004 số lượng trường học, số trẻ em và số lượng giáo viên trong giáo
dục mầm non đều tăng.
2002-2003 2003-2004
Công lập
Ngoài công
lập
Công lập
Ngoài công
lập
Trường 3.599 6.116 4.002 6.102
Trẻ em 964.241 1.583.189 1.003.299 1.585.538
Giáo viên 52.613 93.321 56.706 93.629
Số trường công lập tăng lên; số trường ngoài công lập giảm xuống.
Số trẻ em, số giáo viên công lập và ngoài công lập đều tăng.
Tỷ lệ trẻ em/ giáo viên
2002-2003 2003-2004
Nhà trẻ 9,5 9,5
Mẫu giáo 20,8 20,4
Cán bộ giảng dạy phân theo trình độ chuyên môn:
2002-2003 2003-2004
Tiến sĩ 53 115
Thạc sĩ 727 1.221
Đại học, cao đẳng 8.336 8.722
THCN 781 753
Trình độ khác 350 310 Cán bộ giảng dạy có trình độ tiến sĩ tăng gấp đôi, trình độ thạc sĩ tăng trong khi trình độ
trung học chuyên nghiệp giảm.
2.1.4. Giáo dục Cao đẳng và Đại học:
2002-2003 2003-2004
Trường 121 81 127 87
Sinh viên 13.933 746.759 231.107 801.333
Giảng viên 11.215 27.393 11.551 38.434
Hiện nay, giáo dục Việt Nam có hơn 300 giáo sư, hơn 1000 phó giáo sư. Số
trường Đại học, sinh viên và số giảng viên Cao đẳng, Đại học đều tăng.
2.1.5. Giáo dục không chính quy.
2002-2003 2003-2004
Trung tâm giáo dục
thường xuyên tỉnh
57 57
Trung tâm giáo dục
Bảng 7: Tỷ lệ đầu tư cho giáo dục đào tạo so với GDP.
1995 1996 1997 1998
Đầu tư cho GD - ĐT (tỷ
đồng)
8293 9887 11274 13217
GDP (tỷ đồng) 228892 272036 313623 361468
% so GDP 3.62 3.63 3.59 3.66
Nguồn: Niên giám thống kê năm 1998.
Trong các nguồn vốn đầu tư phát triển giáo dục - đầu tư ở Việt Nam thì nguồn vốn đầu tư
từ ngân sách Nhà nước là chủ yếu.
2.2.1. Đầu tư của ngân sách Nhà nước cho giáo dục - đào tạo.
Thời kỳ 1991 – 1995 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 8,2%, tỷ lệ động viên GDP
vào ngân sách Nhà nước là 20,5%, Nhà nước đã đầu tư cho giáo dục - đào tạo trong 5
năm là: 18.188 tỷ đồng, chiếm 9,84% chi ngân sách Nhà nước. Tốc độ chi giáo dục - đào
tạo bình quân hàng năm khoảng 157,1% trong khi tốc độ tăng chi ngân sách Nhà nước
khoảng 146%. Giai đoạn 1991-1995 so với 1986-1990 ngân sách đầu tư cho giáo dục đào
tạo tăng gấp 11,76 lần.
Nguồn ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục - đào tạo trong những năm gần
đây được thể hiện qua bảng số liệu sau:
2002 2003
Tổng số 20.624 22.795
Chi cho XDCB 3.008 3.200
Chi thường xuyên cho
giáo dục - đào tạo
16.906 18.625 Nguồn vốn chi ngân sách Nhà nước đầu tư là chủ yếu, bên cạnh đó còn có các
nguồn vốn khác đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo ở Việt Nam.
2.2.2. Đầu tư – Giáo dục - Đào tạo từ nguồn thu học phí.
Nguồn thu học phí có ý nghĩa kinh tế chính trị xã hội sâu sắc: Đối với nhà trường đó là
khoản bù đắp một phần những chi phí quá lớn mà khả năng ngân sách Nhà nước không
đài thọ đủ; đối với Nhà nước là thực hiện phương châm Nhà nước và nhân dân cùng
chăm lo sự nghiệp giáo dục đào tạo; đối với xã hội là phát huy trách nhiệm của cộng
đồng cho sự nghiệp “Trồng người” của đất nước.
Ngày nay, xu hướng đầu tư phát triển giáo dục đào tạo đang được chuyển dần từ khu vực
chính phủ sang khu vực tư nhân.
Nguồn thu học phí để tái đầu tư, nếu lấy số lượng học sinh năm 1998 tạm tính với mức
học phí trung bình ở các cấp học là: (cấp I không phải đóng học phí)
- THCS : 5,252,144 học sinh 90,000 đồng = 472.693 tỷ đồng.
- THPT : 1,390,206 học sinh (25,000 đồng 9) = 312.796 tỷ đồng.
- Dạy nghề & THCN: 21,484 học sinh (100,000 10) = 214.842 tỷ đồng.
- ĐH và CĐ : 671,120 học sinh (160,000 10) = 1,073.792 tỷ đồng.
Như vậy, mỗi một năm tổng tiền học phí thu được là: 2.074 tỷ đồng. Đó là đối với hệ
thống ở trường công lập, còn các trường dân lập, tư thục, bán công, trung tâm giáo dục
3. Kết quả đạt được trong đầu tư phát triển Giáo dục - Đào tạo ở Việt Nam.
3.1. Giáo dục mầm non và phổ thông.
3.1.1. Về cơ sở vật chất:
Mạng lưới trường lớp còn nhiều khó khăn, song trong 15 năm qua đã phát triển rộng
khắp và đa dạng hoá: các loại hình công lập, bán công, tư thục. Hiện nay hầu hết các xã
phường đều có trường tiểu học và trung học cơ sở, bình quân mỗi huyện có khoảng hai
đến ba trường trung học phổ thông hoăc phổ thông trung học ( cấp 2, cấp 3).
Tính đến năm học 2000- 2001 cả nước có 8,933 trường giáo dục mầm non và 87,166 lớp,
so với 1986 – 1987 tăng 31.87% về số trường (bình quân một năm tăng 1.87%) và tăng
38.23% về số lớp (bình quân một năm tăng 2.17%).
Đối với giáo dục phổ thông năm học 2000- 2001 có 24,692 trường phổ thông từ tiểu học
đến trung học với 509,604 lớp, so với 1986 – 1987 tăng 79.2% về số trường, 49.53% về
số lớp( bình quân mỗi năm tăng 3.96% số trường và 2.72% số lớp). Từ năm học 1995 –
1996, giáo dục phổ thông loại hình ngoài công lập phát triển mạnh, đến nay cả nước có
691 trường với 19,775 lớp, tăng 78.9% số trường và 75.77% số lớp học, so với 1986 –
1987( Bình quân mỗi năm tăng 3.96% số trường và 3.84% số lớp). Tuy nhiên tốc độ phát
triển trường học, lớp học có sự khác biệt rất lớn. Năm 2000 – 2001 so với 1986 – 1987 số
lớp học bậc tiểu học tăng 33.12%, bậc trung học cơ sở tăng 78.69%, bậc trung học phổ
thông tăng 143.19%; tương ứng bình quân một năm tăng 1.92% số lớp bậc tiểu học,
3.96% bậc trung học cơ sở, 6.1% trung học phổ thông.
đồng đều, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa.
3.1.3 Về qui mô học sinh.
Trong 15 năm qua, qui mô giáo dục tăng lên nhưng còn chứa đựng nhiều yếu tố tự phát.
Năm 2000 – 2001 cả nước có 366,698 trẻ em đi nhà trẻ giảm còn 38.77% so với năm
1986 – 1987( bình quân mỗi năm giảm 6.08%) và có 2,212,020 trẻ em đi mẫu giáo, tăng
22.33% (bình quân mỗi năm tăng 1.33%).
Về qui mô học sinh phổ thông cũng có xu thế tăng dần, riêng học sinh cấp trung học cơ
sở và trung học phổ thông tăng khá nhanh vào những năm gần đây. Năm 2000- 2001 cả
nước có 9,714,846 học sinh cấp tiểu học, tăng 16% so với năm 1986 – 1987( bình quân
mỗi năm tăng 0.99%); song so với năm 1999 – 2000 thì giảm còn 97.09%. Nguyên nhân
chủ yếu do thực hiện chương trình kế hoạch hoá gia đình và phổ cập giáo dục tiểu học.
Học sinh trung học cơ sở năm 2000 – 2001 là 5,863,604 người, tăng 82.86% ( bình quân
mỗi năm tăng 4.11%), tương ứng số học sinh trung học phổ thông là 2,171,436 người
tăng 138.46% (bình quân mỗi năm tăng 5.95%).
Loại hình giáo dục trung học phổ thông ngoài công lập có xu hướng phát triển nhanh vào
những năm gần đây. Tỷ lệ học sinh ngoài công lập so với tổng số từ 24.02% năm 1996 –
1997 lên 32.95% năm 1998 – 1999, 34.06% năm 1999 – 2000 và 34.34% năm 2000 –
2001.
3.1.4 Về chất lượng và hiệu quả giáo dục.
Trong thời kì 1986 – 2000, tỷ lệ lưu ban, bỏ học giảm dần và tỷ lệ hoàn thành cấp học ở
các bậc học phổ thông tăng nhanh qua các năm. Tuy nhiên, nhóm trẻ em nằm trong đối
tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: như trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, lang
thang, tàn tật… vẫn ít có cơ hội đến trường. Trung bình hàng năm vẫn có khoảng 1 triệu
trẻ em từ 6 đến 14 tuổi chưa bao giờ được đến trường hoặc phải thôi học. Đây là vấn đề
cần được quan tâm trong chiến lược của chương trình quốc gia trong thời gian tới.
3.2. Giáo dục - Đào tạo đại học, cao đẳng trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.
một số kết quả nhất định. Song tình trạng đào tạo nguồn nhân lực còn rất nhiều tồn tại
cần được điều chỉnh giải quyết.
4. Những tồn tại trong đầu tư và phát triển Giáo dục - Đào tạo.
4.1. Tồn tại trong đầu tư của ngân sách nhà nước cho Giáo dục - Đào tạo.
Bên cạnh những cố gắng của Nhà nước trong việc tăng chi cho sự nghiệp Giáo dục- Đào
tạo và những kết quả mà ngành giáo dục - đào tạo đã đạt được trong thời gian qua. Cũng
còn một số tồn tại trong đầu tư Ngân sách cho sự nghiệp này.
Thứ nhất, phần lớn nguồn vốn đầu tư cho sự nghiệp Giáo dục – Đào tạo là từ ngân sách
Nhà nước nhưng chỉ được phân bổ theo từng năm, tỷ trọng đầu tư cao hay thấp đều tuỳ
thuộc vào khả năng thu và cơ cấu chi của ngân sách Nhà nước. Mặt khác, yêu cầu đặt ra
đối với công tác Giáo dục - Đào tạo là phải đạt được tối ưu hoá các công trình đào tạo và
làm nhẹ đi tính mất cân đối, sự chồng chéo trong tổ chức đào tạo. Song trong thực tiễn:
Bộ trường, và các cơ sở đào tạo nói chung đang đơn giản hoá kế hoạch hàng nă thành các
văn bản dự án về yêu nhu cầu tài chính. Cơ cở đào tạo dành sự quan tâm chủ yếu vào
chỉ tiêu ngân sách nhà nước cung cấp hàng năm nhiều hơn là vạch ra các biện pháp về
tổ chức, thực hiện và quản lý kế hoạch theo những mục tiêu và các hoạt động để tiếp cận
mục tiêu.
Thứ hai, tốc độ tăng chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo trong
thời gian qua là 12 –14%/năm chưa đủ đáp ứng nhu cầu thực tế hệ số tăng 15 –20% năm,
giáo viên tăng 18%/năm và các khoản tăng chi do giá cả thực tế biến động. Vì vậy, đầu
tư, của ngân sách nhà nước cho sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo trong những năm qua thực
chất bị giảm xuống hay nói một cách khác nhà nước mới đầu tư để duy trì hệ thống giáo
dục quốc dân chưa đủ đầu tư phát triển tương xứng với nhiệm vụ mà nền kinh tế xã hội
đặt ra cho ngành giáo dục -đào tạo.
Thứ ba, do nguồn vốn ngân sách nhà nước hạn hẹp nên việc đầu tư cho sự nghiệp Giáo
dục - Đào tạo chưa thể hiện được vai trò của ngân sách Nhà nước đối với hệ thống Giáo
dục - Đào tạo, đầu tư cho sự nghiệp này còn mang nặng tính chủ quan, thiếu căn cứ
khoa học. Nguồn đầu tư của ngân sách Nhà nước bị bố trí một cách dàn trải, không tập
trung gây tâm lý ỷ lại… Vì vậy, tỷ trọng đầu tư qua các năm có tăng lên nhưng hiệu quả
học đòi hỏi ngày càng cao. Nhiều nơi thù lao giờ giảng cho cán bộ giảng dạy sau đại học
thấp hơn giảng dạy ở cấp đại học, bồi dưỡng viết giáo trình và tài liệu tham khảo cũng rất
thấp, nhiều cơ sở đào tạo phải sử dụng quỹ phúc lợi để hỗ trợ.