LUẬN VĂN:Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố - Pdf 15



LUẬN VĂN:
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của
Đảng bộ Thành phố
Mở Đầu

1. Lý do chọn đề tài
Quận 11 là một trong những quận nội thành có vị trí quan trọng về mọi mặt của
Thành phố Hồ Chí Minh. Quận có dân số đông, người dân

suốt cả quá trình 10 năm đổi mới (1986 - 1995). Đề tài chưa có ai nghiên cứu và thể
hiện dưới hình thức công trình khoa học. Đi sâu tìm hiểu về sự lãnh đạo của Đảng bộ
địa phương đối với sự phát triển kinh tế CN - TTCN trên địa bàn Quận, đề tài vừa có
giá trị khoa học là góp phần tổng kết lịch sử đổi mới ở địa phương, vừa mang ý nghĩa
lý luận và thực tiễn sâu sắc. Vì vậy, tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ lịch sử,
chuyên ngành lịch sử Đảng, hy vọng đóng góp hữu ích cho việc tổng kết thực tiễn thời
kỳ đầu đổi mới phát triển kinh tế - xã hội ở Quận 11 và Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Đề tài nhằm mục đích nghiên cứu, nêu bật vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Quận
11 trong việc vận dụng, cụ thể hóa đường lối phát triển kinh tế của Đảng để phát triển
sản xuất CN - TTCN của địa phương; đánh giá thành tựu và yếu kém trong việc tổ chức,
lãnh đạo phát triển kinh tế CN - TTCN theo đường lối đổi mới của Đảng bộ Quận 11.
Nhiệm vụ chủ yếu của luận văn là trình bày một cách hệ thống quá trình đề ra
các chủ trương, biện pháp, sự chỉ đạo của Đảng bộ Quận 11 đối với sự phát triển CN -
TTCN của Quận trong thời kỳ 1986 - 1995; những thành công, hạn chế, ý nghĩa và bài
học, kinh nghiệm về sự lãnh đạo, chỉ đạo phát triển một ngành kinh tế mũi nhọn của
một quận thuộc thành phố lớn có tiềm năng kinh tế hàng đầu trong cả nước.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ Quận 11 cả về
chủ trương và biện pháp nhằm phát triển CN - TTCN trong giai đoạn lịch sử 1986 -
1995. Sự nghiên cứu, trình bày trong luận văn các hoạt động lãnh đạo kinh tế của Đảng
bộ trước giai đoạn lịch sử đó là nhằm mục đích so sánh làm nổi bật vai trò lãnh đạo
của Đảng bộ và thành tựu kinh tế của Quận trong 10 năm đổi mới.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác - Lênin, quan điểm của Đảng ta, luận văn trình bày, phân tích quá trình lãnh đạo
của Đảng bộ Quận 11 trong sự biến đổi của lĩnh vực CN - TTCN Quận 11 theo đường

Quận trong giai đoạn sau đó và hiện nay.
Luận văn đóng góp tư liệu cho việc tuyên truyền giáo dục truyền thống của
Đảng bộ, nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ Quận11 trong thời kỳ 10 năm đổi
mới.
Đề tài là một vấn đề lịch sử Đảng bộ địa phương, nhưng có liên quan mật thiết
với Trung ương và cả nước. Quá trình diễn tiến của vấn đề tuy đã đi qua lịch sử, nhưng
vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay và mãi mãi về sau với sự tồn tại, phát triển đi lên
của nền kinh tế nước nhà. Vì vậy, luận văn mới chỉ là kết quả nghiên cứu bước đầu, và
có những hạn chế nhất định. Tác giả luận văn xin sẵn sàng tiếp thu mọi ý kiến đóng
góp để đề tài được tiếp tục nghiên cứu, mở rộng và hoàn thiện hơn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương, 8 tiết.
Chương 1
TìNH HìNH, ĐặC ĐIểM QUậN 11 DƯớI Sự LãNH ĐạO
CủA ĐảNG SAU 10 NĂM thành phố GIảI PHóNG

Tìm hiểu, nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ Quận 11 về phát triển CN -
TTCN thời kỳ 1986 - 1995, cần thiết phải đề cập một số tình hình, đặc điểm của Quận
sau 10 năm kể từ ngày Thành phố Hồ Chí Minh được giải phóng trên các mặt vị trí địa
lý, tổ chức hành chính, trình độ kinh tế, cộng đồng dân cư để thấy rõ những khó khăn,
thuận lợi cơ bản của Quận.
1.1. Vị TRí ĐịA Lý - Tổ CHứC HàNH CHíNH - DÂN Số
* Vị trí địa lý:
Quận 11 nằm về phía Tây - Tây Nam thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm
thành phố 6 km; là cửa ngõ thông thương giữa nội thành và vùng đồng bằng sông Cửu
Long. Quận nằm giữa 10

kinh tế, Quận 11 được chia thành 4 khu dân cư cư trú tập trung có những đặc điểm
khác nhau.
Khu vực 1: Khu vực được đô thị hóa nhanh nhất tập trung dân cư bao quanh
chợ Phó Cơ Điều (gồm các phường 4, 6, 7 ngày nay). Đây là khu cư trú sớm nhất của
đồng bào từ các nơi tập trung về thành phố. Dần dần về sau khi đô thị mở rộng, các
ngành nghề phát triển, nhiều xưởng thủ công ra đời ở đây thì số lượng dân cư khu này
tăng lên nhanh chóng.
Đặc biệt nơi đây đã hình thành cơ sở Đảng, các tổ chức cách mạng của quần
chúng và các phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng sớm phát triển sôi nổi
và mạnh mẽ nhất.
Khu vực 2: Khu vực tập trung dân cư ở phường Phú Thọ cũ và quanh nghĩa địa
Quảng Đông (gồm có các phường 8, 11, 12, 13 ngày nay) với mật độ dân cư rải rộng
tương đối đều trên toàn địa bàn. Khu vực này về địa giới so với qui định trên bàn đồ
thời Pháp thuộc tới nay thì tương đối ít thay đổi nhất. Đến ngày nay, dấu vết cổ xưa
vẫn còn tồn tại trên sự phân bổ đường sá, kiến trúc nhà cửa, nghĩa địa và các chùa
chiền.
Khu vực 3: Là khu vực đồn cây Mai, thuộc xóm Phú Giáo cũ (gồm các phường
2, 16 ngày nay). Đây là vùng cửa ngõ vào Thành phố tập trung bến xe, người qua lại
nên việc quản lý phức tạp hơn.
Khu vực 4: Là khu vực ven hoang hóa với các phường Phú Hòa, Cầu Tre cũ
(gồm các phường 1, 3, 5, 9, 10, 14 ngày nay) có nhiều ruộng đất, giáo xứ, nghĩa địa,
chùa chiền.
Nhìn bao quát về địa lý, dân cư hiện nay, Quận 11 là quận nhỏ, nhưng dân số
đông, phân bổ cư dân và trình độ phát triển kinh tế không đồng đều. Đặc điểm đó có
nguồn gốc từ quá trình hình thành và phát triển của Quận.
* Vài nét lịch sử hình thành Quận 11:
Quận 11 vốn là vùng đất sình lầy, được khai phá từ thế kỷ XVIII. Theo tư liệu lịch sử

khu vực trồng rau cải với những con rạch chạy dọc theo đường Dương Công Trừng.
Khu vực thuộc phường 5 và phường 14 ngày nay, trước kia là vùng trồng hoa lài, sở
rác và sân vận động. Năm 1964, linh mục Phạm Ngọc Biểu lập giáo xứ Phú Bình, sửa
sang các trại gia binh thành phố sá để bán lại cho những người lao động làm nghề dệt
vải, thuộc da, thủy tinh.
Năm 1959 Quận 11 thuộc về một phần đất của Quận 5 và Quận 6, lúc đó các
con đường lớn và nhà cửa của đồng bào được xây dựng lại, dân cư tập trung đông đảo
dọc các con đường lớn như đường Phú Thọ, đường Lò Siêu, đường A6, đường Trần
Quốc Toản, đường Quân Sự, đường Dương Công Trừng, đường Trần Hoàng Quân,
đường Lê Đại Hành, đường Lữ Gia, đường Nguyễn Văn Thoại, đường Phó Cơ Điều,
đường Tôn Thọ Tường, đường Thuận Kiều, đường Hương Lộ 14
Đến ngày 1-7-1969, chính quyền Sài Gòn đã ký nghị định thành lập Quận 11
trên cơ sở tách 6 phường thuộc Quận 5 và Quận 6 gồm các phường: phường Cầu Tre, Phú
Thọ, Bình Thới, Phú Thạnh, Bình Thạnh, Phú Hòa, sáp nhập lại với mục đích chính là
tạo một đơn vị hành chính, quân sự dùng làm "lá chắn" để bảo vệ cửa ngõ phía Tây
Nam Sài Gòn.
Quận 11 là quận có thế mạnh về sản xuất CN - TTCN so với các quận huyện
khác của Thành phố. Đội ngũ lao động có tay nghề kỹ thuật khá (chiếm 34%), riêng
khu vực tiểu thủ công nghiệp có trên 4000 lao động có tay nghề từ 10 năm trở lên,
3.600 cơ sở sản xuất lớn nhỏ tập trung vào các ngành chế tạo và sửa chữa thiết bị máy
móc, hóa chất, vật liệu xây dựng, chế biến lương thực, thực phẩm, dệt, da, may mặc, in
ấn và trên 42 nhà máy Trung ương đóng trên địa bàn Quận 11 (theo số liệu chi cục
Thành phố Hồ Chí Minh, tính đến năm 1986).
1.2. MộT Số KINH NGHIệM LãNH ĐạO XÂY DựNG Và PHáT TRIểN
KINH Tế - Xã HộI của Đảng bộ Quận 11 (1975 - 1985)
1.2.1. Thời kỳ 1975 - 1980
Đại hội IV của Đảng cộng sản Việt Nam (12-1976) xác định đường lối chung về

phục vụ dân sinh và tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Chiến tranh đã chấm dứt, hòa bình được lập lại, nhân dân Thành phố trong đó
có Quận 11 phấn khởi bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới. Hầu hết các cơ sở vật chất
kỹ thuật của ngành công nghiệp vẫn được bảo toàn nguyên vẹn sau chiến tranh, đây là
tài sản quan trọng mà Thành phố tiếp thu được để phát triển. Song chiến tranh và chủ
nghĩa thực dân mới để lại cho Thành phố những hậu quả nghiêm trọng. Thành phố đã
có một nền công nghiệp nhưng chủ yếu là công nghiệp chế biến, dựa vào nguyên liệu,
vật liệu nước ngoài, một bộ phận khá đông dân cư sống dựa vào chiến tranh và "viện
trợ" với mức sống vượt quá khả năng của nền sản xuất trong nước.
Trong thời kỳ 1976 - 1980, Đảng bộ Thành phố chủ trương cải tạo nền kinh tế
theo hướng XHCN nhưng phải đảm bảo cho sản xuất phát triển và không ngừng cải
thiện đời sống nhân dân. Cùng với cải tạo là phân bố lại lực lượng lao động sản xuất,
tiến hành sắp xếp, tổ chức lại các ngành sản xuất, lưu thông phân phối theo hướng sản
xuất lớn xã hội chủ nghĩa, phát triển mạnh lực lượng kinh tế quốc doanh, công tư hợp
doanh và hợp tác xã làm cho lực lượng này nhanh chóng chiếm ưu thế trong sản xuất
và trong lưu thông phân phối. Thành phố phấn đấu đến cuối năm 1980 các thành phần
kinh tế quốc doanh, công tư hợp doanh, hợp tác xã thực sự đóng vai trò chủ đạo,
hướng dẫn các thành phần kinh tế khác, thương nghiệp xã hội chủ nghĩa phải nắm trọn
buôn bán và chiếm phần lớn bán lẻ, có khả năng chi phối, điều khiển được thị trường
và chuyển phần lớn tiểu thương sang sản xuất.
Sau khi các lực lượng cách mạng đập tan bộ máy thống trị của bọn ngụy quyền,
chính quyền cách mạng được thiết lập dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Quận đã nhanh
chóng tổ chức, sản xuất, xây dựng đời sống kinh tế - xã hội. Nhân dân Quận 11 phấn
khởi bắt tay vào công cuộc khôi phục và phát triển sản xuất, ổn định đời sống, giữ
vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Căn cứ Nghị quyết Đại hội lần thứ IV (12-1976) của Đảng, Nghị quyết Đại hội
Đảng bộ lần thứ I của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh (4-1977) và tình hình đặc

237.000 người, có hơn 1/5 dân số phi sản xuất, có khoảng 22.000 người thất nghiệp.
Chế độ cũ đã để lại trên địa bàn Quận một nền văn hóa, xã hội với nhiều tệ nạn
xã hội: du đãng, trộm cắp và các tệ nạn xã hội khác. Trên một diện tích hẹp, đã có trên
230 quán cóc, bia ôm, hai nghĩa địa Quảng Đông - Phú Thọ là nơi tụ tập của bọn tội
phạm hình sự; có gần 200 người bị bệnh cùi sống lay lắt tại đây, những tập tục lạc hậu,
mê tín dị đoan đã trở thành tệ nạn xã hội phổ biến tại đây.
Quận ủy Quận 11 đã chú ý trước tiên tiến hành sắp xếp tổ chức lại các ngành
CN - TTCN, khôi phục lại sản xuất với bước đi và hình thức thích hợp, khuyến khích,
khôi phục và quản lý chắc các ngành nghề truyền thống của Quận. Trong 2 năm 1977 -
1978, Quận đã tăng giá trị sản lượng tiểu thủ công nghiệp lên 25 triệu đồng thu hút
trên 7.500 lao động.
Đầu năm 1978, Quận 11 thành lập được 120 tổ sản xuất tập thể, thu hút được
4.869 lao động, xây dựng được 3 hợp tác xã sản xuất với 385 xã viên, hướng dẫn và tổ
chức sản xuất 365 cơ sở với 7.786 lao động (chiếm 47% lao động). Quận còn chủ
trương vận động các nhà trung, tiểu thương chuyển sang sản xuất, thành lập các xí
nghiệp hoạt động dưới sự hướng dẫn kiểm soát của Nhà nước, nhiều ngành nghề mới
phục vụ cho xuất khẩu như thảm đay, sơn mài, mành trúc ra đời, tổ chức 3 lớp dạy
thêu tay xuất khẩu (200 học viên). Quận ủy còn chú trọng, khuyến khích thành lập các
tổ sản xuất tập thể sản xuất gia công cho Nhà nước, phát triển thêm nhiều mặt hàng
mới, cấp giấy phép hành nghề cho 1.446 cơ sở sản xuất cá thể.
Công tác cải tạo tuy đã đạt được những kết quả nhất định, song việc xây dựng
các ngành còn chậm so với yêu cầu kế hoạch. Ngành giao thông vận tải, nhà đất gần
như mới bắt đầu, vì do điều kiện cơ sở vật chất của Quận còn nhiều khó khăn.
Nhìn chung đến cuối năm 1978, Quận 11 đã nâng lên tổng số 2879 cơ sở sản
xuất tiểu thủ công nghiệp trong đó có 14 hợp tác xã và 184 tổ sản xuất tập thể, 2.691
tư nhân cá thể. Cơ sở mới khôi phục là 64, phát triển mới là 22 chủ yếu các cơ sở sản
xuất các mặt hàng xuất khẩu, tổng giá trị thực hiện được là 52.580.000 đ vượt 110%

Đảng bộ coi đây là nhiệm vụ trung tâm cơ bản nhất. Vì vậy, đến cuối năm 1979, Quận
đã cải tạo được 24 xí nghiệp tư nhân (qui mô nhỏ) thành xí nghiệp quốc doanh do
Quận quản lý, xây dựng được 114 hợp tác xã sản xuất và 249 tổ sản xuất. Đến năm
1980 toàn Quận có 3.543 cơ sở sản xuất trong đó có 252 tổ sản xuất, 3.250 hộ tư nhân
và cá thể với 22.982 lao động (lao động khu vực tập thể chiếm tỷ lệ 50%), giá trị hàng
hóa khu vực tập thể không ngừng tăng lên. Trong năm 1979 đạt được 128 triệu đồng,
hàng xuất khẩu đạt 78% kế hoạch. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đã từng bước
được xây dựng và phát huy tác dụng, từng bước quản lý chặt chẽ lực lượng lao động,
máy móc, vật tư hàng hóa; từng bước đưa đưa sản xuất đi vào kế hoạch và hoạch toán
kinh doanh xã hội chủ nghĩa.
1.2.2. Thời kỳ 1981 - 1985
Báo cáo chính trị Đại hội V chỉ rõ: "ổn định dần dần, tiến lên cải thiện một
bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân" "Tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, chủ yếu nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, hàng tiêu
dùng và xuất khẩu, đồng thời tăng thêm trang bị kỹ thuật cho các ngành kinh tế khác
và chuẩn bị cho sự phát triển mạnh mẽ hơn nữa của công nghiệp nặng trong chặng
đường tiếp theo ".
Trong chặng đường trước mắt, tất yếu phải tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất - kỹ
thuật thì mới đáp ứng yêu cầu của kinh tế và đời sống trước mắt, đồng thời chuẩn bị
cho sự phát triển mạnh mẽ hơn ở chặng tiếp theo. Trong điều kiện nguồn vốn có hạn,
việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật phải coi trọng phát triển chiều sâu, tức là cải
tạo sắp xếp lại, bổ sung mở rộng, nâng cao để khai thác tốt năng lực sẵn có, đồng thời
tiếp tục phát triển theo chiều rộng, tức là xây dựng mới có trọng điểm.
Tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật theo chiều sâu và chiều rộng đều phải tập
trung vào việc đẩy mạnh sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, tăng năng lực sản xuất
hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu tạo thêm nguồn nguyên liệu và năng lượng, phát triển
và nâng cao kết cấu hạ tầng, chủ yếu là tăng thêm năng lực giao thông vận tải, đồng

người Hoa, sau vụ "nạn Kiều" năm 1978 dần dần ổn định hơn. Do đó sản xuất CN -
TTCN 3 năm 1980 - 1982 chẳng những có bước ổn định mà còn phát triển tương đối
nhanh. Tốc độ phát triển bình quân trong 3 năm là 39%, riêng năm 1982 tăng 78%, giá
trị sản lượng năm sau cao hơn năm trước. Đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch hàng năm do
Thành phố giao, vượt kế hoạch do Đại hội Đảng bộ Quận lần II (11-1979) đề ra (từ
189,9 triệu đồng của năm 1979, năm 1982 thực hiện được 477 triệu đồng), giá trị sản
lượng xuất khẩu tăng, nhất là năm 1982 sản lượng giao nộp cho Thành phố hàng năm
đều tăng. Qua đó đã góp phần đẩy mạnh sản xuất
CN - TTCN Thành phố, làm tăng hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, huy động sử dụng
khoảng 55% năng lực sản xuất tiểu thủ công nghiệp vào sản xuất (cả tay nghề, lao
động và máy móc thiết bị), làm ra nhiều mặt hàng đa dạng (từ 340 mặt hàng năm 1979
đến năm 1982 có 836 mặt hàng). Đặc biệt là giải quyết công ăn, việc làm cho người
lao động, giúp cho một bộ phận quan trọng nhân dân lao động có việc làm tương đối
ổn định (trong
3 năm 1980 - 1982 giải quyết được 15.611 lao động có việc làm, trong đó khu vực sản
xuất tiểu thủ công nghiệp thu hút 8000 lao động), từ đó góp phần ổn định đời sống
nhân dân trong quận. Điều đáng chú ý, số lao động từ chỗ không có tay nghề hoặc
nghề nghiệp còn yếu, đã có tay nghề khá và giỏi. Một số công nhân kỹ thuật có trình
độ, khuôn mẫu, tự chế máy móc, thiết bị phụ tùng, cả một số thiết bị phụ tùng trước
đây phải nhập ngoại. Đây là một vốn rất quí của sản xuất CN-TTCN Quận 11.
Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội V của Đảng (3-1982), sự lãnh đạo chặt
chẽ của Thành ủy, Đảng bộ Quận 11 tiến hành Đại hội lần thứ III (5-1983). Đại hội
Đảng bộ đã đề ra phương hướng và nhiệm vụ chung từ 1983 - 1985 cho toàn Quận:
"Đẩy mạnh cải tạo và phát triển kinh tế, phát huy thế mạnh về sản xuất công nghiệp và
thủ công nghiệp trên địa bàn Quận, phát triển thêm mặt hàng mới kết hợp với qui
hoạch và sắp xếp lại sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường quản lý nắm
nguồn hàng, đặc biệt tập trung sức hoàn thành cơ bản cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với

Quận đã xây dựng được từ 12 hợp tác xã và 44 tổ hợp (1983) lên 27 hợp tác xã và 296
tổ hợp với 7589 lao động. Chỉ tiêu kế hoạch về sản xuất CN - TTCN Đến tháng 12-
1984 đã hoàn thành đạt 108% (giá trị sản lượng 524,5 triệu đồng) tăng 15,4% so với
năm 1983 nhất là mặt hàng gia công xuất khẩu đạt 107% kế hoạch (54% năm 1983).
Ngoài 800 mặt hàng cũ, năm 1984 còn phát triển thêm 15 mặt hàng mới, cải
tạo, xây dựng mới được 25 hợp tác xã và 102 tổ sản xuất tập thể, đưa tổng số lên 400
hợp tác xã (2.604 lao động) và 349 tổ sản xuất (6.470 lao động) chiếm 45% lực lượng
lao động trong Quận. Đi đôi với việc xây dựng, Quận ủy còn chú ý đến việc bồi dưỡng
năng lực quản lý dịch vụ và phương thức làm ăn theo hướng xã hội chủ nghĩa cho các
hợp tác xã và tổ sản xuất, đồng thời coi trọng việc xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng
nòng cốt ở khu vực này. Có một số hợp tác xã đã có chi bộ Đảng, 8 hợp tác xã đã có
chi đoàn, 138 tổ sản xuất có tổ thanh niên, 16 hợp tác xã có chi hội phụ nữ. Tất cả hợp
tác xã, tổ sản xuất đều hoạt động theo phương thức hiệp tác.
Thời kỳ 1981 - 1985 trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị, Đảng bộ đã
thực hiện đúng đắn đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, nắm vững và phát huy
thế mạnh của Quận về sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Quận ủy đã có nhiều giải pháp
ưu tiên cho các ngành chủ lực, sắp xếp lại các ngành nghề, giải thể những cơ sở làm ăn
không hiệu quả, mạnh dạn cho sản xuất bung ra để phát triển. Đảng bộ Quận đã xác
định sản xuất CN - TTCN là quan trọng hàng đầu, nên đã kịp thời đề ra những chủ
trương cụ thể và tập trung chỉ đạo thực hiện, tăng cường quản lý các cơ sở sản xuất,
thường xuyên bám sát kiểm tra, thực hiện kế hoạch của cơ sở. Đảng bộ và chính quyền
quận đã quan tâm tạo điều kiện nhất định về vật chất (điện - vật tư), xây dựng khu vực
sản xuất quốc doanh và tập thể trong đó sáng tạo ra mô hình xí nghiệp hợp doanh để
tận dụng được những thế mạnh vào sản xuất là một nỗ lực đáng kể. Việc ưu tiên về
vốn và mặt bằng cho việc sản xuất ra các mặt hàng xuất khẩu, phát huy tính năng động
nhạy bén của cơ sở sản xuất và người lao động đã tạo sự chuyển biến lớn trong hoạt
động sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Chính những thay

quản lý kinh tế - xã hội của đội ngũ cán bộ công nhân viên, chỉ đạo các tổ chức, đoàn
thể quần chúng liên tục phát động phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa để thực hiện
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, kế hoạch của Nhà nước, của Thành phố
và của Quận, bước đầu chú ý tới xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế từ cơ sở.
Tuy vậy, lãnh đạo phát triển CN - TTCN của Đảng bộ Quận 11 thời kỳ trước
đổi mới còn bộc lộ một số hạn chế:
- Trước hết, do bộ máy quản lý cồng kềnh, kém hiệu lực, chồng chéo, cho nên
những tháo gỡ trong chỉ đạo kinh tế chưa kịp phát huy tác dụng và chưa tập trung được
hết những tiềm năng sẵn có của Quận. Đảng bộ còn lúng túng trong việc đưa khoa học
kỹ thuật vào sản xuất, chưa mạnh dạn đổi mới trang thiết bị vốn đã lạc hậu và cũ kỹ.
Đảng bộ chưa mạnh dạn xóa bỏ cơ chế quản lý bao cấp, chuyển sang cơ chế hoạch
toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đã hạn chế tính chủ động sáng tạo của cơ sở sản
xuất và của người lao động. Về tổ chức và sắp xếp lại sản xuất CN - TTCN, cho đến
năm 1985, Quận vẫn chưa qui hoạch được ngành kinh tế kỹ thuật để bố trí cơ cấu đầu
tư cho hợp lý. Nhìn chung tình hình sản xuất ở Quận 11 thời kỳ 1975 - 1985 là chưa
ổn định, thiếu vững chắc, vẫn chưa xác định rõ ngành nào là ngành mũi nhọn. Do chạy
theo chỉ tiêu kế hoạch và số lượng đơn thuần nên nhiều mặt hàng sản xuất ra kém chất
lượng. Mặt khác, do bị động về thị trường tiêu thụ cả trong nước và ngoài nước, nên
cũng không kích thích được sản xuất tiểu thủ công nghiệp phát triển.
- Trong việc cải tạo quan hệ sản xuất, sau nhiều năm nỗ lực, Quận 11 đã xây
dựng được một số hợp tác xã và tổ sản xuất. Hình thức tổ chức sản xuất này có làm
cho sản phẩm gia tăng, nhưng chất lượng sản phẩm chưa tốt. Công tác cải tạo chưa
vững chắc, việc đầu tư xây dựng, phát triển các cơ sở quốc doanh thiếu được quan
tâm. Hiệu quả kinh tế khu vực này còn thấp. Tình hình sản xuất chưa ổn định, do còn
lúng túng trong phương hướng sản xuất, trình độ quản lý còn yếu. Vì vậy, kinh tế quốc
doanh chưa xác lập được vai trò chủ đạo.
Trong lĩnh vực sản xuất tập thể, còn một số cơ sở trá hình của tư nhân dưới

quan, phân tích những nguyên nhân chủ quan, nêu rõ những sai lầm, yếu kém trong
lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về kinh tế.
Trong báo cáo chính trị của Tổng bí thư Trường Chinh tại Đại hội VI của Đảng
đã đánh giá: "Sản xuất tuy có tăng, nhưng tăng chậm so với khả năng sẵn có và công
sức bỏ ra hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp, các xí nghiệp nói chung chỉ sử dụng được
khoảng một nửa công suất thiết kế , lưu thông không thông suốt, phân phối rối ren,
vật giá tăng nhanh, đang tác động tiêu cực đến sản xuất, đời sống và xã hội; những mất
cân đối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp, có mặt còn gay gắt hơn trước, quan
hệ sản xuất xã hội chậm được củng cố. Đời sống nhân dân, nhất là công nhân, viên
chức còn nhiều khó khăn, hiện tượng tiêu cực trong xã hội gia tăng Thực trạng đó
làm giảm lòng tin của quần chúng đối với lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà
nước" [17, 17-18]. Nhận định đó xuất phát từ kiểm điểm những sai lầm, hạn chế của
Đảng diễn ra từ sau Đại hội lần thứ IV cho đến trước Đại hội lần thứ VI. Đại hội IV
của Đảng đã đề ra đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội và đường lối kinh tế cho thời
kỳ quá độ, nhưng chưa xác định được mục tiêu của chặng đường đầu tiên, chưa nhận
thức được đầy đủ rằng, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử
tương đối dài, phải qua nhiều chặng đường. Do tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội,
muốn đốt cháy giai đoạn, Đảng có thiếu sót trong việc xác định mục tiêu xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế. Đảng chủ trương đẩy
mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa coi đó là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, nhưng vẫn ưu tiên phát triển công nghiệp nặng khi chưa có đủ
các tiền đề cần thiết, chưa giải quyết đúng mối quan hệ giữa công nghiệp nặng, nông
nghiệp và công nghiệp nhẹ; nông nghiệp chưa được coi là mặt trận hàng đầu, không
đảm bảo những đều kiện cần thiết để phát triển nhất là vật tư, tiền vốn và các chính sách
khuyến khích sản xuất CN - TTCN. Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, củng cố quan hệ sản
xuất mới, sử dụng các thành phần kinh tế, cách làm thường theo kiểu chién dịch. Sau
những đợt làm nóng vội lại buông lỏng, trong cải tạo luôn nhấn mạnh thay đổi sở hữu

cần giải quyết xong vấn đề sở hữu thì căn bản hoàn thành công tác cải tạo. Nhận thức
lại quan điểm cải tạo với tư duy mới, Đại hội VI của Đảng đã chỉ ra rằng: Đẩy mạnh
cải tạo xã hội chủ nghĩa là công việc thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản
xuất phù hợp với tính chất và trình độ lao động sản xuất, luôn luôn có tác dụng thúc
đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Đảng phải có chính sách sử dụng và cải tạo đúng
đắn các thành phần kinh tế, trong khi xác định kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo,
chi phối được các thành phần kinh tế khác. Sử dụng và cải tạo đúng các thành phần
kinh tế phi xã hội chủ nghĩa sẽ cho phép khai thác được tiềm năng về lao động, về vốn,
kỹ thuật của toàn xã hội để phát triển kinh tế. Sử dụng và cải tạo đúng các thành
phần kinh tế, đó là giải pháp có ý nghĩa chiến lược, góp phần phát triển lực lượng sản
xuất và coi nền kinh tế nhiều thành phần không tồn tại biệt lập, mà xen kẽ nhau, tác
động lẫn nhau trong đó thành phần kinh tế quốc doanh giữ vai trò nòng cốt.
Về sản xuất hàng hóa, trước đây ta không thừa nhận quan hệ hàng hóa, tiền tệ,
cùng qui luật giá trị khách quan, tách sản xuất ra khỏi thị trường. Đại hội VI của Đảng
thấy rõ sự tồn tại khách quan của quan hệ hàng hóa: "Việc sử dụng đầy đủ và đúng đắn
quan hệ hàng hóa, tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân là một tất yếu khách quan. Sử
dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa, tiền tệ là đặc trưng của cơ chế mới về quản lý kinh
tế mà chúng ta đang xây dựng [17, 63].
Trong lãnh đạo kinh tế, điều quan trọng hàng đầu là làm đúng qui luật, vận
dụng đúng qui luật. Những qui luật đó phải được thể hiện trong đường lối chủ trương
chính sách của Đảng và Đảng phải cụ thể hóa đường lối thành các chính sách, biện
pháp. Có làm được như vậy thì đường lối của Đảng mới đi vào cuộc sống. Đổi mới
kinh tế là làm sao để cho sản xuất ngày càng phát triển và trong lãnh đạo kinh tế Đảng
phải chú trọng giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các ngành kinh tế trong đường lối
công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Có làm tốt mối quan hệ này mới tạo ra động lực
thúc đẩy sản xuất phát triển.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status