LUẬN VĂN: Doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai potx - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn
huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chư Sê là huyện miền núi của tỉnh Gia Lai có tổng diện tích đất tự nhiên 64.296 ha,
trong đó đất nông nghiệp 34.467 ha, chiếm 53,6%, đất chưa sử dụng 8.160 ha, chiếm
12,6%, với trên 80% số lao động là nông dân, trong đó hơn 85% là người dân tộc thiểu số.
Trong những năm gần đây, dưới tác động của công cuộc đổi mới, trong kinh tế nông
nghiệp, ngoài các hình thức tổ chức sản xuất vốn có như hộ gia đình, hợp tác xã và trang
trại, trên địa bàn huyện Chư Sê còn xuất hiện hình thức doanh nghiệp (DN) sản xuất nông
nghiệp. Hiện toàn huyện đã có 12 DN nông nghiệp, trong đó có 4 DN nhà nước, 5 DN tư
nhân và 3 DN cổ phần. Hiện nay, các DN nhà nước đang tiến hành cổ phần hóa, để trở
thành Công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên. Đây là các DN nông nghiệp có quy mô
đất đai tương đối lớn, được trang bị cơ sở vật chất - kỹ thuật khá tốt, có hướng chuyên môn

năng lực và hiệu quả kinh doanh nông nghiệp còn thấp, chưa tương xứng với nhiều tiềm
năng và lợi thế về tự nhiên trên địa bàn.
Để góp phần làm rõ thực trạng của các DN nông nghiệp, đề xuất phương hướng và
giải pháp thúc đẩy phát triển đúng hướng, có hiệu quả, là một cán bộ có nhiều năm làm công
tác tổ chức, quản lý trên địa bàn, tôi lựa chọn đề tài: “Doanh nghiệp nông nghiệp trên địa
bàn huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai” để nghiên cứu làm luận văn Cao học chuyên ngành Kinh
tế chính trị.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Phát triển DN nông nghiệp là một giải pháp quan trọng nhằm tìm kiếm những hình
thức tổ chức sản xuất tiên tiến, tích cực, phù hợp để người nông dân tham gia tự giác, có
hiệu quả, sớm thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, tự phát từ nhiều năm nay. Nó đã được
một số nhà khoa học và hoạch định chính sách ở nước ta quan tâm nghiên cứu. Dưới đây là
những công trình tiêu biểu đã được công bố về vấn đề này.
- Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, của
Ban tư tưởng văn hóa Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, NXB Chính trị
quốc gia phát hành năm 2002;
- Nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, do TS Nguyễn Từ chủ biên, NXB
Lý luận chính trị, Hà Nội, 2002;
- Những biện pháp thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
vùng đồng bằng sông Cửu Long, do Phạm Ngọc Thạch chủ biên, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội ấn hành năm 2002;
- Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp và nông thôn, của TS Đặng Kim Sơn,
Hoàng Thu Hòa, NXB Thống kê, Hà Nội 2002;
- CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam, con đường và bước đi, Đề tài KX-
02-07 do GS,TS Nguyễn Kế Tuấn, trường Đại học Kinh tế quốc dân làm chủ nhiệm, năm
2007;
- Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới, do PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc
chủ biên, NXB Thống kê, Hà Nội, 2003.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai, Đề tài luận

cầu đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Xác định cơ sở lý luận để phân tích, đánh giá thực tiễn hoạt động của các DN nông
nghiệp trên địa bàn huyện Chư Sê thuộc tỉnh Gia Lai trong thời gian gần đây để hoàn thiện
việc hoạch định chính sách phát triển mạnh mẽ và có hiệu quả nhằm phát huy vai trò của
chúng trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên
địa bàn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Hệ thống hóa lý luận, thực tiễn về DN nông nghiệp trong điều kiện phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Nêu, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động các DN nông nghiệp trên địa bàn
huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai. Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát
triển bền vững loại DN này đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn trên địa bàn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Các DN được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp bao gồm DN nhà
nước, DN tư nhân, công ty cổ phần hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, trong đó chủ yếu
là các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp (cà phê, cao su, hồ tiêu).
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Các DN nông nghiệp được thành lập trên địa bàn huyện Chư Sê
thuộc tỉnh Gia Lai.
- Về thời gian: từ năm 2005 đến nay và hướng phát triển đến năm 2015, tầm nhìn
đến năm 2020.

5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận:

NÔNG NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1. DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP
Phát triển nông nghiệp, nông thôn trong điều kiện của nền kinh tế thị trường ở nước
ta hiện nay đòi hỏi phải có một lực lượng doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp (DN SXNN)
mạnh làm trụ cột. Để có lực lượng đó, một trong những vấn đề đặt ra là phải tìm được cơ
chế và phương thức tổ chức DN SXNN có hiệu quả.
1.1.1. Khái niệm và tính quy luật hình thành, phát triển doanh nghiệp nông
nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp nông nghiệp.
Để hiểu khái niệm DNNN, trước hết cần phải bắt đầu từ cái chung, đó là khái niệm
Doanh nghiệp.
Chúng ta biết rằng, nền kinh tế quốc dân được cấu thành bởi hàng vạn DN sản xuất
ra các hàng hóa và dịch vụ cung ứng cho sản xuất và đời sống của xã hội. Có những tổ chức
kinh doanh quy mô lớn, sử dụng hàng ngàn công nhân, sản xuất hàng loạt sản phẩm. Nhưng
cũng có những tổ chức kinh tế chỉ là một cửa hàng tạp hóa, quầy bán bánh kẹo qui mô nhỏ,
chỉ thuê một vài lao động do một cá nhân hay hộ gia đình sở hữu. Những tổ chức đó, dù lớn
hay nhỏ, khi tồn tại và hoạt động trong nền kinh tế thị trường, theo luật DN đều có chung
một tên gọi là DN.
DN là một khái niệm được khởi nguồn từ tiếng Pháp “Entreprendre”, có nghĩa là
“đảm nhận” hay “hoạt động”. Theo nhiều sách báo, DN (Firm) là tổ chức kinh tế có tên
riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của
pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Dưới góc độ kinh tế học, DN là một đơn vị kinh doanh hàng hóa và dịch vụ theo nhu
cầu thị trường và xã hội nhằm đạt lợi nhuận tối đa và hiệu quả kinh tế cao nhất. DN chính
là một chủ thể kinh tế tiến hành các hoạt động kinh tế theo một kế hoạch nhất định trên thị
trường. Trên thực tế, DN được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau như cửa hàng, nhà máy,
công ty, hãng, tổng công ty

Theo định nghĩa của Luật doanh nghiệp ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005 của

DNNN là một hình thức tổ chức cơ sở, tức là tế bào của nền kinh tế quốc dân. Nó
vừa là chiếc cầu nối liền các khoa học, vừa là nơi thực hiện – áp dụng những thành tựu
khoa học về tự nhiên, kinh tế, xã hội và kỹ thuật nông nghiệp để đạt được các mục tiêu về
sản xuất nông sản hàng hóa và dịch vụ cho xã hội theo yêu cầu của thị trường, đảm bảo
kinh doanh có lợi nhuận cao cho DN và góp phần phát triển tốt môi trường sinh thái cho sự
sống.
DNNN là một đơn vị hoạt động kinh doanh và phân phối, tức là nơi sáng tạo ra của
cải vật chất và dịch vụ, đồng thời là nơi phân phối giá trị của cải và dịch vụ cho các thành
viên tương ứng với sự đóng góp sáng tạo ra của cải và dịch vụ.
Là một đơn vị hoạt động sản xuất, DNNN hướng vào sử dụng các nguồn lực tự
nhiên như đất, nước, khí hậu và vốn, lao động, công nghệ và tư liệu sản xuất khác được
mua vào từ những thị trường khác nhau. DN kết hợp những yếu tố đó để tạo ra các hàng
nông sản để bán, tức là biến đổi đầu vào thành đầu ra, sao cho có giá trị gia tăng, có lợi
nhuận.
1.1.1.2. Tính quy luật hình thành và phát triển DN nông nghiệp.
Sự ra đời và phát triển của DN nông nghiệp không phải là sản phẩm chủ quan duy ý
chí của một người hay một tổ chức xã hội nào, mà là kết quả tất yếu của quá trình phát triển
phân công lao động xã hội được tác động mạnh mẽ bởi các cuộc cách mạng công nghiệp và
sự phát triển kinh tế thị trường ngày càng mang tính quốc tế hóa và hội nhập sâu rộng.
Thật vậy, nông nghiệp là hoạt động sản xuất đầu tiên của con người. Khi còn thông
qua trồng tỉa lương thực và chăn thả gia súc để lấy sản phẩm sinh sống thì phạm trù ngành
sản xuất chưa được lịch sử đặt ra. Mãi đến cuộc phân công lao động xã hội lần thứ nhất
chăn nuôi được tách khỏi trồng trọt, sự trao đổi giữa các bộ lạc trồng trọt và bộ lạc chăn
nuôi còn quá ít ỏi và vẫn thất thường. Hai ngành trồng trọt và chăn nuôi mà đúng hơn là
chăn thả gia súc đang trong trạng thái mạnh nhất.
Cùng với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, với việc nâng cao năng suất lao
động, sản xuất lương thực và chăn thả gia súc, kinh nghiệm tích lũy được của mỗi người
trong sản xuất, trong việc chế tạo công cụ lao động, tìm kiếm và chinh phục các cây trồng
mới và vật nuôi mới, dần dần các ngành nghề thủ công ra đời và tách thành các hộ độc lập.
Số cây rau, cây ăn quả và các cây công nghiệp, một số gia súc mới, gia cầm được đưa vào

triển. Chuyên môn hóa sản xuất ngày càng sâu hơn. Hình thức tổ chức sản xuất được thay
đổi, từ hiệp tác giản đơn lên công trường thủ công, rồi phát triển thành đại công nghiệp. Qui
mô sản xuất của các tổ chức sản xuất cũng ngày càng lớn hơn. Nền kinh tế hàng hóa giản

đơn chuyển sang nền kinh tế hàng hóa phát triển (hiện nay được gọi là nền kinh tế thị
trường).
Với sự kích thích của kinh tế hàng hóa và cơ chế thị trường, với sự tiến bộ của khoa
học và công nghệ sản xuất nông nghiệp, các hộ nông dân, các cơ sở sản xuất nông nghiệp
đều hướng chuyển sang sản xuất hàng hóa, gắn với thị trường, gắn với xã hội. Nhiều vùng
kinh tế tự nhiên chuyển dần sang tập trung sản xuất các cây, con thích nghi với điều kiện
sinh thái của mình và có lợi thế so sánh nhiều hơn so với các vùng khác. Trên thị trường,
hình thành những vùng nông nghiệp với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa
lớn và chuyên môn hóa cao.
Nhiều vùng sinh thái do có tài nguyên tiềm ẩn và nhờ tác động của tiến bộ khoa học,
kỹ thuật đã bật dậy thành những vùng nông nghiệp chuyên môn hóa và hàng hóa mới. Đồng
thời với quá trình hàng hóa hóa và chuyên môn hóa các cơ sở sản xuất nông nghiệp, các
vùng nông nghiệp, thì các ngành sản xuất hàng hóa lớn trong nông nghiệp xuất hiện ngày
càng nhiều với nhiều loại nông phẩm hàng hóa cao cấp với qui mô vượt ra khỏi phạm vi
từng vùng, rồi vượt ra khỏi phạm vi một tỉnh, mang tính quốc gia và có loại mang tính chất
quốc tế. Các tổ chức kinh tế trong các ngành ngày càng đông hơn với qui mô ngày càng lớn
hơn, chuyên môn hóa sản xuất sâu hơn.
Gắn liền với quá trình hình thành và phát triển ngày càng phong phú, đa dạng các
ngành kinh tế hàng hóa sinh vật, cây con trong nông nghiệp là quá trình phát triển các tổ
chức kinh doanh đa dạng và ngày càng biến đổi theo nhu cầu của xã hội, nhu cầu của thị
trường và khả năng tăng lên của con người trong việc chinh phục và sử dụng các tài nguyên
sinh vật và sinh thái từ chỗ dễ đến chỗ khó, từ loại dễ đến loại khó, từ chỗ chỉ biết khai thác
sử dụng một cách thực dụng vì mục tiêu kinh tế trước mắt đến chỗ sử dụng một cách hợp lý
và khoa học, gắn hiệu quả trước mắt với hiệu quả lâu dài, gắn lợi ích kinh tế với bảo vệ môi
trường sống và cải tạo môi trường sinh thái.
Thực tế các nước trên thế giới và trong nước ta cho thấy quá trình phát triển các

1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp nông nghiệp
Tuy là một đơn vị tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên thị trường nhằm
mục đích thu lợi nhuận, nhưng DNNN có những điểm khác biệt so với DN công nghiệp và
DN dịch vụ. Cụ thể là:
- Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu của DNNN.
Để hoạt động, mọi DN đều phải sử dụng các nguồn lực đầu vào là các yếu tố sản
xuất gồm sức lao động và tư liệu sản xuất (kinh tế học hiện nay gọi là lao động, tài nguyên

thiên nhiên, tư bản và công nghệ cần thiết cho sản xuất). Điểm đặc trưng trong hoạt động
của DNNN là bộ phận nguồn lực không thể thiếu được và có vai trò hết sức quan trọng là
tài nguyên thiên nhiên. Trước hết đó là tài nguyên đất và nước cho sản xuất nông nghiệp;
tiếp đến là tài nguyên sinh vật cụ thể (cây, con cụ thể).
Với trình độ công nghệ như hiện nay, không có đất thì không thể trồng cấy hoặc
chăn nuôi với qui mô lớn như sản xuất hàng hóa được. Nếu các DN thuộc các ngành công
nghiệp và dịch vụ muốn tiến hành sản xuất chỉ cần một diện tích đất không nhiều để có
mặt bằng hoạt động, thì DNNN phải cần một diện tích đất tương đối lớn để sản xuất. Tuy
một số DN công nghiệp cũng có nhu cầu rất lớn về diện tích đất để sản xuất, như DN khai
thác khoáng sản, DN khai thác than, DN khai thác cát , nhưng đó là những nguồn đất có
điều kiện tự nhiên đặc biệt. Nó có thể nằm trong lòng đất. Còn với DNNN, nguồn đất
được đưa vào sản xuất hầu hết là mặt đất, mặt nước. Nó bao gồm những cánh đồng, cánh
rừng, ao hồ, sông suối Không có đất thì không thể có sản xuất nông nghiệp. Đất là
nguồn lực quan trọng nhất đối với việc sản xuất của nhà nông.
Tài nguyên sinh vật là những cơ thể sống. Chỉ trong những điều kiện tự nhiên về đất
đai, thổ nhưỡng, khí hậu thích hợp thì chúng mới phát triển và cho kết quả. Con người
không thể bất chấp các điều kiện sống của sinh vật trong hoạt động sản xuất. Do sự phân bố
ngẫu nhiên nguồn lực tự nhiên cho các vùng, địa bàn mà việc lựa chọn sản xuất mặt hàng
nông nghiệp của các DN không thể tùy tiện. Ở đây, yếu tố lợi thế về tự nhiên là một điều
kiện rất quan trọng để việc sản xuất có được những sản phẩm đặc trưng như có năng suất
cao hơn, có chất lượng tốt hơn, chi phí sản xuất thấp hơn nhưng giá bán lại cao hơn so với
cùng loại sản phẩm được sản xuất ở các vùng khác. Chẳng hạn, việc DNNN lựa chọn việc

do tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp mà thời kỳ vật sản xuất chịu sự tác động của tự
nhiên phổ biến và kéo dài hơn so với việc sản xuất kinh doanh của các DN công nghiệp và
DN dịch vụ. Hoạt động sản xuất của DNNN thường gắn với các dạng tài nguyên sinh vật cụ
thể (cây, con). Ngoài hoạt động sản xuất mang thuần túy tính kinh tế - kỹ thuật như các DN
thuộc các ngành khác (có lao động mới có sản phẩm), sản xuất nông nghiệp còn chịu tác
động bởi chu kỳ sinh vật. Chu kỳ này bao gồm giai đoạn tạo giống; giai đoạn lên mầm, cấy
giống, nuôi con giống; giai đoạn sinh vật trưởng thành; và giai đoạn thu hoạch. Các giai
đoạn này chịu sự chi phối rất lớn bởi thời gian, không gian, chất đất sản xuất (thổ nhưỡng)
và điều kiện thời tiết, khí hậu. Tức là sản xuất nông nghiệp có tính chất thời vụ. Nói cách
khác, thời gian vật sản xuất chịu sự tác động của tự nhiên là tương đối dài. Người lao động
sau khi cấy giống hoặc nuôi con giống, mặc dù không lao động, nhưng sinh vật vẫn phải có

một thời gian nhất định để trưởng thành. Thời gian này kéo dài hàng tháng, thậm chí có loại
nông sản phải đến cả năm mới cho kết quả. Nếu việc quyết định sản xuất không đúng thời
vụ thì nhất định không thể có kết quả, mà nếu có thì năng suất và chất lượng không cao.
Sự phát triển của khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học kể từ giữa thế
kỷ XX lại đây, đã tạo ra được những đột phá về giống mới có năng suất và chất lượng cao
hơn, thời gian cho thu hoạch cũng nhanh hơn. Tuy nhiên, không thể “đốt cháy giai đoạn”,
bất chấp chu kỳ sinh vật để rút ngắn đến mức không còn thời gian vật sản xuất chịu sự tác
động của tự nhiên như hoạt động của một số DN thuộc ngành công nghiệp và dịch vụ.
Thêm vào đó, do đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống. Chúng
phát sinh, phát triển và phát dục theo qui luật sinh học. Trong quá trình sản xuất, chúng
luôn luôn yêu cầu những vấn đề kinh tế, tổ chức, kỹ thuật và môi trường sống mà người và
tự nhiên tác động đến sao cho phù hợp. Do là những cơ thể sống, nên ngoài các hoạt động
thông thường như sản xuất ở các ngành khác, người sản xuất còn phải phải nghiên cứu lựa
chọn, bảo quản, lai tạo, gây nhân giống; phải theo dõi biến động của thời tiết, khí hậu, thiên
tai để có quyết định chăm sóc, bảo vệ và thu hoạch.
Đặc điểm này chi phối quá trình sản xuất - kinh doanh của DNNN. Sản xuất nông
nghiệp chịu phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và thời gian để có sản phẩm nông
nghiệp thường phải kéo dài, không hoàn toàn ăn khớp với thời gian sản xuất.

mà quyết định lựa chọn việc sản xuất kinh doanh.
Đầu ra của DNNN là những hàng nông sản. Đây là những hàng hóa vật thể được tạo
ra từ hoạt động sản xuất nông nghiệp. Loại sản phẩm này có thể là hàng hóa đáp ứng nhu
cầu trực tiếp của con người – sử dụng cho ăn, uống, sinh hoạt hàng ngày, hoặc có thể là các
hàng hóa phục vụ nhu cầu gián tiếp như dùng làm thức ăn chăn nuôi, làm nguyên liệu cho
các DN công nghiệp chế biến Tuy cũng là sản phẩm hữu hình, nhưng khác với công
nghiệp, sản phẩm nông nghiệp thường là những mặt hàng tươi sống. Nếu sinh vật bị chết
hoặc không được tươi và thu hoạch không đúng độ chín thì chất lượng sẽ giảm xuống, thậm
chí không thể tiêu dùng, không thể bán được.
Hơn thế nữa, do sản xuất có tính thời vụ và phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, nhất là các
hàng rau, quả, nên khi đến kỳ thu hoạch thì lượng cung lại rất lớn, người sản xuất phải chịu
bán với giá rẻ, chi phí nhân công cao. Còn khi có giá cao thì họ lại không có sản phẩm để
cung ra trên thị trường. Rủi ro trong kinh doanh nông nghiệp nói chung là rất lớn. Do tính
rủi ro này, nên đầu tư vào sản xuất nông nghiệp có nhiều mạo hiểm so với đầu tư vào các
ngành công nghiệp và dịch vụ. Không chỉ có ít chủ DN dám đầu tư kinh doanh nông

nghiệp, mà qui mô của các DN cũng thường nhỏ và vừa; ít có DN qui mô lớn. Mức rủi ro
lại càng lớn hơn khi các DNNN không lường được mức sản lượng sản xuất, không tìm
được đầu ra, thiếu công nghệ chế biến bảo quản sau thu hoach và trên thị trường thiếu vắng
các DN chế biến nông sản phẩm, do đầu tư lớn nhưng thời gian sử dụng rất ít ( theo vụ )
nên phải chịu khấu hao nhiều và kéo dài dể bị lạc hậu công nghệ.
1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp nông nghiệp trong phát triển kinh tế - xã hội
trên một địa bàn
DNNN cũng là một lực lượng cung ứng hàng hóa trên thị trường. Nhưng do đặc
điểm sản xuất của nó mà hoạt động của DN này đóng vai trò quan trọng trong phát triển
kinh tế - xã hội trên một địa bàn, nhất là đối với khu vực nông thôn. Vai trò của nó được thể
hiện:
Thứ nhất, đây là hình thức tổ chức sản xuất mang tính chất chuyên môn hóa trong
nông nghiệp. Một DN chỉ có thể sản xuất một hoặc một số loại cây, con nhất định thích ứng
với điều kiện tự nhiên nơi tổ chức sản xuất để cung ứng sản phẩm ra thị trường. Do chuyên

thành lực lượng đi đầu đóng vai trò động lực cho phát triển kinh tế hàng hóa trong nông
nghiệp.
Thứ tư, sự phát triển của DNNN sẽ tạo ra điều kiện để tăng thu nhập cho xã hội và
xây dựng nông thôn mới. Nhờ hình thức tổ chức sản xuất này, việc làm của người lao động
ổn định hơn, có thu nhập cao hơn. Trong nông thôn, xuất hiện người công nhân mới – công
nhân nông nghiệp. Nó không chỉ là nhân tố thúc đẩy chuyên môn hóa, tăng năng suất lao
động, mà còn là nhân tố tạo lập tính kỷ luật, tác phong công nghiệp trong sản xuất nông
nghiệp.
Sự phát triển của DNNN tạo điều kiện thúc đẩy việc phát triển và hoàn thiện kết cấu
hạ tầng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như hệ thống thủy lợi, hệ thống cấp điện, đường
giao thông; thúc đẩy nhu cầu học hỏi của người lao động. Nhờ đó, thúc đẩy việc xây dựng
nông thôn mới.
DNNN còn là cầu nối quan trọng góp phần khơi thông chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước với nông dân, góp phần vào việc xoá đói, giảm nghèo, cải thiện mức
sống của người dân. Nếu DNNN được hoạt động tốt, thì nó còn là đơn vị cơ sở rất quan
trọng trong việc giữ vững ổn định xã hội, bảo vệ quốc phòng và an ninh.
Như vậy, sự phát triển của DNNN đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã
hội ở nông thôn. Nhận thức vai trò này, Nghị quyết Đại hội X của Đảng nhấn mạnh: “Phát
triển mạnh các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa; phát triển bền

vng cỏc lng ngh
1
. Ngh quyt s 26-NQ/TW, ngy 5 thỏng 8 nm 2008 Hi ngh ln
th by Ban Chp hnh Trung ng khoỏ X ca ng v nụng nghip, nụng dõn, nụng thụn
cũn nờu: Tip tc tng kt, i mi v xõy dng cỏc mụ hỡnh kinh t, hỡnh thc t chc
sn xut cú hiu qu nụng thụn. Cú chớnh sỏch khuyn khớch phỏt trin cỏc mi liờn kt
gia h nụng dõn vi cỏc doanh nghip, hp tỏc xó, t chc khoa hc, hip hi ngnh hng
v th trng tiờu th sn phm h tr kinh t h phỏt trin theo hng gia tri, trang tri
cú quy mụ phự hp, sn xut hng hoỏ ln To mụi trng thun li hỡnh thnh v
phỏt trin mnh cỏc loi hỡnh doanh nghip nụng thụn.

nông tr-ờng và nhà máy chè này cao hơn hẳn so với thu nhập của nhân dân địa ph-ơng
sản xuất thuần nông, trồng lúa và hoa màu.
Ngoài sự phù hợp, độ màu mỡ của đất đai cũng có tác động mạnh đến năng suất
cây trồng, vật nuôi. Vì vậy, nó tác động trực tiếp đến việc nâng cao sức cạnh tranh của
sản phẩm và hiệu quả kinh tế của DN.
Bên cạnh đất đai, địa hình là nhân tố quan trọng tác động đến hoạt động của
DNNN. Địa hình là điều kiện do sự phân bổ ngẫu nhiên của tự nhiên cho mỗi vùng. Nó
tạo ra cho DN những khả năng lựa chọn để phát triển loại vật nuôi, cây trồng. Mỗi một
dạng địa hình sẽ cho một lựa chọn nhất định. Địa hình miền núi th-ờng chỉ phù hợp với
phát triển lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp và chăn nuôi gia súc. Địa hình đồng bằng
lại phù hợp với việc trồng lúa, hoa màu và chăn nuôi gia súc nhỏ, gia cầm. Địa hình đa
dạng th-ờng tạo điều kiện cho một DNNN sản xuất đa canh, nh-ng th-ờng với quy mô nhỏ.
Địa hình đồng nhất thì phù hợp cho việc phát triển nông nghiệp độc canh nh-ng có thể
với quy mô lớn. Những đặc điểm này sẽ quy định ph-ơng h-ớng sản xuất, cơ cấu và
chất l-ợng hàng nông sản của mỗi DNNN.
Trong điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý là một nhân tố có ảnh h-ởng mạnh đến
sản xuất nông nghiệp. Vị trí địa lý của một địa ph-ơng đã tạo ra cho DNNN hoạt động
tại địa ph-ơng đó những thuận lợi hoặc những khó khăn nhất định. Đối với những địa
ph-ơng nằm ở cùng sâu, vùng xa, hạ tầng cơ sở th-ờng thấp kém, giao thông đi lại khó
khăn, thì lực cản cho phát triển DN sẽ lớn. ở những vùng nh- thế, hoạt động kinh tế của
ng-ời nông dân còn mang nhiều yếu tố tự cung tự cấp, kinh tế hàng hoá phát triển khó
khăn, vì thế DN rất khó tìm đ-ợc nguồn nhân lực tại chỗ phục vụ cho hoạt động kinh
doanh của mình. DN phải thuê nhân công từ nơi khác đến, do đó có thể làm tăng chi
phí sản xuất, vì phải bảo đảm cả chỗ ở và sinh hoạt cho ng-ời lao động. Việc phát triển
DNNN sẽ gặp khó khăn. Do tính chất tự cấp, tự túc còn nhiều, nên thu nhập của ng-ời
dân không cao, sức mua thấp. Điều này không chỉ cản trở phát triển DN khi tìm kiếm
các nguồn lực đầu vào cho mình mà còn khó khăn cho DN khi tiêu thụ sản phẩm đầu ra.

Ng-ợc lại, nếu địa ph-ơng nằm ở một vị trí thuận tiện cho việc giao thông thì
hoạt động sản xuất kinh doanh của DN có nhiều cơ hội phát triển. DN không chỉ khai

hiệu quả kinh doanh cao hơn. Đây là điều kiện rất quan trọng để DNNN mở rộng qui mô
sản xuất và thị tr-ờng.
Tiến bộ khoa học và công nghệ sẽ tạo ra những ph-ơng tiện, ph-ơng pháp sản xuất
mới với những ng-ời lao động có chuyên môn kỹ thuật cao. Đây cũng là điều kiện để
nâng cao năng suất lao động nông nghiệp và làm cho hàm l-ợng công nghệ trong giá trị
sản phẩm tăng lên, tăng lợi thế của DN khi cạnh tranh trên thị tr-ờng trong n-ớc và thế giới.
Ngày nay, khoa học và công nghệ đang có những b-ớc phát triển mạnh, khoa học
trở thành lực l-ợng trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất. Việc triển khai phát triển
khoa học và công nghệ cũng nh- việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ sản xuất tiên
tiến từ bên ngoài là một yếu tố rất quan trọng cho phát triển DNNN.
Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ khụng ch to ra iu kin cho DNNN phỏt
trin loi cõy, con mi, m cũn thỳc y vic hỡnh thnh vựng sn xut hng hoỏ tp trung,
DN u t thõm canh, ỏp dng cỏc ging v quy trỡnh sn xut mi cú nng sut, cht
lng cao hn. S tin b ca khoa hc v cụng ngh cũn l iu kin DNNN ch ng
hn trong vic b trớ li c cu cõy trng, mựa v v ging gim thit hi do thiờn tai,
dch bnh phự hp vi iu kin ca tng vựng.
Thực tế cho thấy, cùng một điều kiện tự nhiên nh- nhau, nh-ng DNNN nào chăm
lo phát triển khoa học và công nghệ vào sản xuất hơn thì DN đó có hiệu quả kinh doanh
cao hơn.
Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ còn mở ra điều kiện để DNNN tiếp cận
thị tr-ờng và bạn hàng, tiếp cận nguồn vốn, có thông tin, bán sản phẩm. Các DN công
nghiệp có thêm nhiều hơn nhu cầu bảo quản, chế biến, do đó nhu cầu về nguyên liệu
của các DN này tăng lên, tạo điều kiện cho mở rộng qui mô sản xuất của nông nghiệp nói
chung, DNNN nói riêng.
Túm li, tc CNH, HH cú nh hng rt ln n hot ng kinh doanh ca
DNNN. Bi vy, Ngh quyt s 26-NQ/TW, ngy 5 thỏng 8 nm 2008 Hi ngh ln th by
Ban Chp hnh Trung ng khoỏ X v nụng nghip, nụng dõn, nụng thụn ó xỏc nh:
Phỏt trin nhanh nghiờn cu, chuyn giao v ng dng khoa hc, cụng ngh, o to
ngun nhõn lc, to t phỏ hin i hoỏ nụng nghip, cụng nghip hoỏ nụng thụn.
1.2.3. Trình độ phát triển của kinh tế thị tr-ờng

qua thị tr-ờng mà DNNN tìm ra lợi thế so sánh để phát triển sản phẩm. Qui mô thị
tr-ờng càng lớn thì DN càng có điều kiện để mở rộng qui mô sản xuất.

1.2.4. Trình độ hiện có của ng-ời lao động và năng lực quản lý doanh nghiệp
- Trong số các nguồn lực sản xuất, lao động là nhân tố quyết định nhất hoạt động
của DN nói chung, DNNN nói riêng. Nó là điều kiện để tái tạo, sử dụng và phát triển các
nguồn lực còn lại. Nguồn lực này đ-ợc nhìn nhận cả hai khía cạnh số l-ợng và chất l-ợng
lao động. Chất l-ợng nguồn nhân lực đ-ợc thể hiện ở thể lực, trí lực, tính kỷ luật, tính
trách nhiệm và lòng nhiệt tình của ng-ời lao động. Để phát triển sản xuất, kinh doanh có
hiệu quả, ảnh h-ởng của yếu tố chất l-ợng nguồn nhân lực là rất lớn. Nếu không dựa trên
nền tảng phát triển cao của nguồn nhân lực thì không thể sử dụng hợp lý các nguồn lực
sản xuất còn lại. Thậm chí, thiếu nguồn nhân lực chất l-ợng cao có thể làm lãng phí,
cạn kiệt và huỷ hoại các nguồn lực sản xuất khác.
Trong yếu tố chất l-ợng nói trên, thì trình độ về chuyên môn kỹ thuật, trình độ
tay nghề, mức độ am hiểu của họ về giống vật nuôi, cây trồng, về cách chăm sóc trong
quá trình sản xuất có ảnh h-ởng rất lớn đến kết quả hoạt động của DNNN. Trình độ của
ng-ời làm nông còn thể hiện ở kinh nghiệm, kỹ năng sản xuất của họ. Thực tế cho thấy,
những ng-ời lao động cùng một điều kiện đất đai, con giống nh- nhau, nh-ng ng-ời lao
động nào có trình độ cao hơn thì nhất định sẽ thu đ-ợc năng suất và chất l-ợng sản
phẩm cao hơn ; việc sản xuất nông nghiệp cũng trở nên đơn giản hơn.
Trên địa bàn nào có nguồn lao động dồi dào, ng-ời lao động đ-ợc đào tạo cơ bản
phù hợp với yêu cầu của sản xuất nông nghiệp, thì nơi đó sẽ hấp dẫn các nhà đầu t- vào
nông nghiệp và DNNN khi sử dụng nguồn nhân lực này sẽ có sức cạnh tranh lớn hơn so với
các DNNN sử dụng lao động giản đơn, thiếu trình độ chuyên môn kỹ thuật.
- Năng lực của ng-ời quản lý là một nhân tố ảnh h-ởng rất quan trọng đến việc
xây dựng, quản lý, tổ chức mọi hoạt động kinh doanh của DN. Nó thể hiện ở trình độ
điều khiển chỉ huy để tác động phối hợp, điều hòa hoạt động của những cá nhân,
những bộ phận (tức là chỉ huy những con ng-ời, những đơn vị) trong một quá trình sản
xuất hoặc trong những quá trình có liên quan với nhau để thực hiện các mục tiêu đã xác
định trong những điều kiện và ph-ơng pháp kinh doanh cụ thể.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status