Doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai - Pdf 69

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chư Sê là huyện miền núi của tỉnh Gia Lai có tổng diện tích đất tự
nhiên 64.296 ha, trong đó đất nông nghiệp 34.467 ha, chiếm 53,6%, đất chưa
sử dụng 8.160 ha, chiếm 12,6%, với trên 80% số lao động là nông dân, trong
đó hơn 85% là người dân tộc thiểu số.
Trong những năm gần đây, dưới tác động của công cuộc đổi mới,
trong kinh tế nông nghiệp, ngoài các hình thức tổ chức sản xuất vốn có như
hộ gia đình, hợp tác xã và trang trại, trên địa bàn huyện Chư Sê còn xuất hiện
hình thức doanh nghiệp (DN) sản xuất nông nghiệp. Hiện toàn huyện đã có 12
DN nông nghiệp, trong đó có 4 DN nhà nước, 5 DN tư nhân và 3 DN cổ phần.
Hiện nay, các DN nhà nước đang tiến hành cổ phần hóa, để trở thành Công ty
trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên. Đây là các DN nông nghiệp có quy mô đất
đai tương đối lớn, được trang bị cơ sở vật chất - kỹ thuật khá tốt, có hướng
chuyên môn hóa rõ và áp dụng phương pháp công nghiệp. Có điều kiện kết
hợp với công nghiệp chế biến và các hoạt động dịch vụ. Các DN nông nghiệp
trên địa bàn đã sử dụng 19.900 ha đất sản xuất và thu hút 3.517 lao động.
Việc phát triển các DN nông nghiệp trên địa bàn trong thời gian qua
đã đưa lại những kết quả kinh tế - xã hội quan trọng. Các DN nông nghiệp đã
và đang là động lực cho phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Sự phát
triển các DN đã tạo ra những tiền đề cần thiết để sử dụng hợp lí các điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương, tạo điều kiện để đưa vào khai thác
và sử dụng các nguồn lực cho nông nghiệp. Hoạt động sản xuất nông nghiệp
ngày càng dựa nhiều hơn vào việc ứng dụng khoa học và công nghệ mới để
có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao hơn. Nông nghiệp được phát triển
gắn với quá trình đa dạng hóa hình thức tổ chức sản xuất, đa dạng hóa cây
trồng, vật nuôi, phát triển nghề rừng, tạo thêm việc làm và thu nhập cho bà
1
con nông dân. Các DN nông nghiệp còn tạo ra môi trường để thực hiện việc
liên kết 4 nhà (nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học) cho phát
triển nông nghiệp. Tạo thuận lợi hơn để thu hút đầu tư của các DN, các thành

nông dân tham gia tự giác, có hiệu quả, sớm thoát khỏi tình trạng sản xuất
nhỏ lẻ, tự phát từ nhiều năm nay. Nó đã được một số nhà khoa học và hoạch
định chính sách ở nước ta quan tâm nghiên cứu. Dưới đây là những công trình
tiêu biểu đã được công bố về vấn đề này.
- Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Việt Nam, của Ban tư tưởng văn hóa Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, NXB Chính trị quốc gia phát hành năm 2002;
- Nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, do TS Nguyễn Từ chủ
biên, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, 2002;
- Những biện pháp thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long, do Phạm Ngọc Thạch chủ
biên, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội ấn hành năm 2002;
- Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp và nông thôn, của TS Đặng
Kim Sơn, Hoàng Thu Hòa, NXB Thống kê, Hà Nội 2002;
- CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam, con đường và bước
đi, Đề tài KX-02-07 do GS,TS Nguyễn Kế Tuấn, trường Đại học Kinh tế quốc
dân làm chủ nhiệm, năm 2007;
- Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới, do PGS.TS
Nguyễn Sinh Cúc chủ biên, NXB Thống kê, Hà Nội, 2003.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai,
Đề tài luận văn Cao học chuyên ngành Kinh tế chính trị của Hoàng Nguyễn
Trí Dương bảo vệ tại Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội, 2003.
3
Các đề tài này đã hướng nghiên cứu vào con đường công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; đánh giá kết quả thực hiện chính sách
phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước; đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế nông nghiệp, nông thôn; giải quyết vấn đề nông nghiệp Việt
Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế; và có công trình nghiên cứu về
phát triển nông nghiệp tại một số vùng trọng điểm hay tại một tỉnh, thành phố

3.1. Mục đích nghiên cứu:
Xác định cơ sở lý luận để phân tích, đánh giá thực tiễn hoạt động của
các DN nông nghiệp trên địa bàn huyện Chư Sê thuộc tỉnh Gia Lai trong thời
gian gần đây để hoàn thiện việc hoạch định chính sách phát triển mạnh mẽ và
có hiệu quả nhằm phát huy vai trò của chúng trong quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa lý luận, thực tiễn về DN nông nghiệp trong điều kiện
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Nêu, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động các DN nông
nghiệp trên địa bàn huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai. Trên cơ sở đó, đề xuất
phương hướng và giải pháp nhằm phát triển bền vững loại DN này đáp ứng
yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên
địa bàn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Các DN được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp bao gồm
DN nhà nước, DN tư nhân, công ty cổ phần hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp, trong đó chủ yếu là các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp (cà phê,
cao su, hồ tiêu).
5
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Các DN nông nghiệp được thành lập trên địa bàn
huyện Chư Sê thuộc tỉnh Gia Lai.
- Về thời gian: từ năm 2005 đến nay và hướng phát triển đến năm
2015, tầm nhìn đến năm 2020.
6
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được kết cấu thành 3 chương.
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DOANH NGHIỆP
NÔNG NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP
Phát triển nông nghiệp, nông thôn trong điều kiện của nền kinh tế thị
trường ở nước ta hiện nay đòi hỏi phải có một lực lượng doanh nghiệp sản
xuất nông nghiệp (DN SXNN) mạnh làm trụ cột. Để có lực lượng đó, một
trong những vấn đề đặt ra là phải tìm được cơ chế và phương thức tổ chức DN
SXNN có hiệu quả.
1.1.1. Khái niệm và tính quy luật hình thành, phát triển doanh
nghiệp nông nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp nông nghiệp.
Để hiểu khái niệm DNNN, trước hết cần phải bắt đầu từ cái chung, đó
là khái niệm Doanh nghiệp.
Chúng ta biết rằng, nền kinh tế quốc dân được cấu thành bởi hàng vạn
DN sản xuất ra các hàng hóa và dịch vụ cung ứng cho sản xuất và đời sống
của xã hội. Có những tổ chức kinh doanh quy mô lớn, sử dụng hàng ngàn
công nhân, sản xuất hàng loạt sản phẩm. Nhưng cũng có những tổ chức kinh
tế chỉ là một cửa hàng tạp hóa, quầy bán bánh kẹo qui mô nhỏ, chỉ thuê một
vài lao động do một cá nhân hay hộ gia đình sở hữu. Những tổ chức đó, dù
lớn hay nhỏ, khi tồn tại và hoạt động trong nền kinh tế thị trường, theo luật
DN đều có chung một tên gọi là DN.
DN là một khái niệm được khởi nguồn từ tiếng Pháp "Entreprendre",
có nghĩa là "đảm nhận" hay "hoạt động". Theo nhiều sách báo, DN (Firm) là
tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng
9
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt

các DN nhỏ và vừa.
Nếu căn cứ theo ngành kinh tế - kỹ thuật để phân loại DN, thì có: DN
nông nghiệp, DN công nghiệp và DN dịch vụ. Người ta còn có thể chia nhỏ
mỗi loại DN nêu trên thành các loại DN, ví dụ trong DN sản xuất nông nghiệp
có DN nông nghiệp, DN lâm nghiệp và DN ngư nghiệp theo nghĩa rộng hoặc
chia theo nghĩa hẹp thì có: DN trồng trọt và DN chăn nuôi.
DNNN là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở, tức là một đơn vị hoạt
động kinh doanh và phân phối của nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hợp tác
và phân công lao động xã hội, gồm một số người lao động, được đầu tư vốn,
trang bị tư liệu sản xuất để tiến hành hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực phù
hợp với yêu cầu của thị trường, được Nhà nước quản lý và bảo vệ theo luật
định.
DNNN là một hình thức tổ chức cơ sở, tức là tế bào của nền kinh tế
quốc dân. Nó vừa là chiếc cầu nối liền các khoa học, vừa là nơi thực hiện - áp
dụng những thành tựu khoa học về tự nhiên, kinh tế, xã hội và kỹ thuật nông
nghiệp để đạt được các mục tiêu về sản xuất nông sản hàng hóa và dịch vụ
cho xã hội theo yêu cầu của thị trường, đảm bảo kinh doanh có lợi nhuận cao
cho DN và góp phần phát triển tốt môi trường sinh thái cho sự sống.
DNNN là một đơn vị hoạt động kinh doanh và phân phối, tức là nơi
sáng tạo ra của cải vật chất và dịch vụ, đồng thời là nơi phân phối giá trị của
cải và dịch vụ cho các thành viên tương ứng với sự đóng góp sáng tạo ra của
cải và dịch vụ.
Là một đơn vị hoạt động sản xuất, DNNN hướng vào sử dụng các
nguồn lực tự nhiên như đất, nước, khí hậu và vốn, lao động, công nghệ và tư
liệu sản xuất khác được mua vào từ những thị trường khác nhau. DN kết hợp
11
những yếu tố đó để tạo ra các hàng nông sản để bán, tức là biến đổi đầu vào
thành đầu ra, sao cho có giá trị gia tăng, có lợi nhuận.
1.1.1.2. Tính quy luật hình thành và phát triển DN nông nghiệp.
Sự ra đời và phát triển của DN nông nghiệp không phải là sản phẩm

mà còn diễn ra giữa các chủ sản xuất độc lập với nhau không kể đó là chủ của
việc sản xuất loại sản phẩm gì. Nền kinh tế đã có những điều kiện để ra đời và
phát triển sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên, đây là giai đoạn đầu, trình độ kinh tế
hàng hóa còn sơ khai. Về sau, các nhà kinh tế gọi đó là nền kinh tế hàng hóa
giản đơn. Cùng với sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hóa là sự xuất hiện
các cơ sở sản xuất chuyên môn hóa và các chủ kinh tế độc lập. Kinh tế hàng
hóa giản đơn đã từng tồn tại trong lịch sử qua nhiều thế kỷ, từ khi ra đời
phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ cho đến giai đoạn cuối của phương
thức sản xuất phong kiến. Nhưng do hoạt động sản xuất vẫn dựa vào công cụ
lao động thủ công với nguồn năng lượng tự nhiên (sức người, sức ngựa, sức
nước, sức gió...), nên năng suất lao động tuy có tăng cao hơn trước, song qui
mô của các cơ sở sản xuất còn nhỏ bé.
Sự phân công lao động đã tạo ra người lao động chuyên môn hóa và
những công cụ lao động chuyên dùng. Đây lại là điều kiện để người lao động
cải tiến và hoàn thiện công cụ lao động của họ. Quá trình này diễn ra liên tục,
nó bắt nguồn từ bản chất tính tích cực của con người. Quá trình này tất yếu
đến một giai đoạn chuyển việc sản xuất dựa vào công cụ lao động thủ công
lên sản xuất bằng máy. Công nghiệp hóa được diễn ra.
Sự phát triển của quá trình công nghiệp hóa vừa đòi hỏi nông nghiệp
phải cung cấp ngày càng nhiều lương thực, thực phẩm, nguyên liệu chế biến
và lao động cho công nghiệp, vừa tạo ra cơ sở hạ tầng, trang bị thêm nhiều cơ
sở vật chất - kỹ thuật cho nông nghiệp phát triển. Chuyên môn hóa sản xuất
13
ngày càng sâu hơn. Hình thức tổ chức sản xuất được thay đổi, từ hiệp tác giản
đơn lên công trường thủ công, rồi phát triển thành đại công nghiệp. Qui mô
sản xuất của các tổ chức sản xuất cũng ngày càng lớn hơn. Nền kinh tế hàng
hóa giản đơn chuyển sang nền kinh tế hàng hóa phát triển (hiện nay được gọi
là nền kinh tế thị trường).
Với sự kích thích của kinh tế hàng hóa và cơ chế thị trường, với sự
tiến bộ của khoa học và công nghệ sản xuất nông nghiệp, các hộ nông dân,

nhưng việc sản xuất khó khăn hơn và đòi hỏi một trình độ cơ
sở vật chất - kỹ thuật nhất định và nguồn vốn đầu tư lớn hơn.
Trong tăng trưởng, tốc độ của các DN lâm nghiệp và ngư
nghiệp ngày càng nhanh hơn, còn của nông nghiệp thì ngày
càng chậm hơn; theo đó, tỷ trọng giá trị của các DNNN ngày
càng nhỏ hơn trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp (theo
nghĩa rộng).
- Trong nông nghiệp theo nghĩa hẹp, khi đầu là phát triển DN
trồng trọt phục vụ cho nhu cầu lương thực, thực phẩm ăn uống
hàng ngày của con người. Tiếp đến, trên cơ sở phát triển các
DN trồng trọt trước hết là sản xuất thức ăn gia súc, chăn nuôi
phát triển nhanh hơn, tỷ trọng của nó lớn dần lên và đến mức
lớn hơn tỷ trọng trồng trọt để đáp ứng nhu cầu ăn ngày càng
ngon hơn, đủ dinh dưỡng hơn cho con người và cũng tương
ứng với nhu cầu ngày càng cao của ngành chăn nuôi về kỹ
thuật và vốn đầu tư.
- Trên cơ sở phát triển các DN sản xuất lương thực nhất là từ
khi vượt quá ngưỡng cửa của nhu cầu lương thực, việc phát
triển các DN sản xuất các loại rau, đậu cao cấp, cây ăn quả và
cây công nghiệp được phát triển nhanh và trở thành một lĩnh
15
vực kinh doanh lớn. Trong đó, có nhiều DN phát triển sản
phẩm trở thành hàng xuất khẩu quan trọng. Tỷ trọng của các
DN thuộc các ngành đó không ngừng lớn lên và của ngành sản
xuất lương thực thì giảm tương ứng.
- Gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập và đời
sống của người dân nâng cao, nhu cầu về ăn, ở, vui chơi, giải
trí, du lịch, nghỉ mát của con người ngày càng tăng lên. Do
vậy, các DN chuyên sản xuất các loại cây, con làm nguyên
liệu món ăn, món đặc sản, sản xuất hoa, cây cảnh, chim, thú,

xuất nông nghiệp. Đất là nguồn lực quan trọng nhất đối với việc sản xuất của
nhà nông.
Tài nguyên sinh vật là những cơ thể sống. Chỉ trong những điều kiện
tự nhiên về đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu thích hợp thì chúng mới phát triển và
cho kết quả. Con người không thể bất chấp các điều kiện sống của sinh vật
trong hoạt động sản xuất. Do sự phân bố ngẫu nhiên nguồn lực tự nhiên cho
các vùng, địa bàn mà việc lựa chọn sản xuất mặt hàng nông nghiệp của các
DN không thể tùy tiện. Ở đây, yếu tố lợi thế về tự nhiên là một điều kiện rất
quan trọng để việc sản xuất có được những sản phẩm đặc trưng như có năng
suất cao hơn, có chất lượng tốt hơn, chi phí sản xuất thấp hơn nhưng giá bán
lại cao hơn so với cùng loại sản phẩm được sản xuất ở các vùng khác. Chẳng
hạn, việc DNNN lựa chọn việc trồng cao su, cà phê, hồ tiêu ở tỉnh Gia Lai nói
riêng, các tỉnh ở Tây Nguyên nói chung là hoàn toàn phù hợp, bởi ở đó có lợi
thế về loại đất bazan rất thích hợp cho sự phát triển của loại cây này, có biên
độ nhiệt ngày và đêm tương đối lớn là điều kiện để cho năng suất và chất
lượng cao hơn so với nếu đưa cây cao su, cà phê, hồ tiêu vào trồng ở các vùng
khác như đồng bằng Bắc Bộ hoặc Nam Bộ.
Điều này cho thấy điều kiện tự nhiên với ý nghĩa là một nguồn lực
"đầu vào" là một yếu tố tạo sức cạnh tranh của DNNN trên thị trường. Nó
17
hoàn toàn khác biệt với nhu cầu nguồn lực đầu vào của DN công nghiệp hay
DN dịch vụ. Đồng thời, nó cũng làm cho cơ cấu sản xuất các hàng nông sản là
rất khác nhau giữa các vùng sinh thái và các địa phương. Nếu DNNN không
thấy được đặc điểm này thì không thể có hiệu quả cao trong kinh doanh nông
nghiệp.
- Đặc điểm của quá trình sản xuất trong nông nghiệp.
Quá trình sản xuất kinh doanh của bất cứ DN nào cũng đều phải có
các giai đoạn: 1) nghiên cứu thị trường để quyết định lựa chọn sản xuất mặt
hàng gì; 2) chuẩn bị các yếu tố đầu vào để thực hiện quyết định sản xuất bao
gồm vốn, lao động, vật tư, công nghệ, mặt bằng sản xuất...; 3) tổ chức quản lý

nhưng sinh vật vẫn phải có một thời gian nhất định để trưởng thành. Thời
gian này kéo dài hàng tháng, thậm chí có loại nông sản phải đến cả năm mới
cho kết quả. Nếu việc quyết định sản xuất không đúng thời vụ thì nhất định
không thể có kết quả, mà nếu có thì năng suất và chất lượng không cao.
Sự phát triển của khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học
kể từ giữa thế kỷ XX lại đây, đã tạo ra được những đột phá về giống mới có
năng suất và chất lượng cao hơn, thời gian cho thu hoạch cũng nhanh hơn.
Tuy nhiên, không thể "đốt cháy giai đoạn", bất chấp chu kỳ sinh vật để rút
ngắn đến mức không còn thời gian vật sản xuất chịu sự tác động của tự nhiên
như hoạt động của một số DN thuộc ngành công nghiệp và dịch vụ.
Thêm vào đó, do đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể
sống. Chúng phát sinh, phát triển và phát dục theo qui luật sinh học. Trong
quá trình sản xuất, chúng luôn luôn yêu cầu những vấn đề kinh tế, tổ chức, kỹ
thuật và môi trường sống mà người và tự nhiên tác động đến sao cho phù hợp.
Do là những cơ thể sống, nên ngoài các hoạt động thông thường như sản xuất
ở các ngành khác, người sản xuất còn phải phải nghiên cứu lựa chọn, bảo
quản, lai tạo, gây nhân giống; phải theo dõi biến động của thời tiết, khí hậu,
thiên tai... để có quyết định chăm sóc, bảo vệ và thu hoạch.
19
Đặc điểm này chi phối quá trình sản xuất - kinh doanh của DNNN.
Sản xuất nông nghiệp chịu phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và thời
gian để có sản phẩm nông nghiệp thường phải kéo dài, không hoàn toàn ăn
khớp với thời gian sản xuất.
Ngoài ra, sản xuất nông nghiệp phần lớn tiến hành ngoài trời, trên
không gian ruộng đất rộng lớn, lao động và tư liệu sản xuất luôn di động, thay
đổi theo thời gian và không gian. Đặc điểm này có ảnh hưởng lớn đến việc tổ
chức sản xuất, điều khiển sản xuất, kiểm tra, nghiệm thu công việc trong mỗi
quá trình lao động để tạo ra sản phẩm cuối cùng trong DNNN. Điều này đòi
hỏi người quản lý phải tìm kiếm và hoàn thiện những công nghệ mới như
khoán công việc, những biện pháp tổ chức - kinh tế cho việc trang bị kỹ thuật,

Đầu ra của DNNN là những hàng nông sản. Đây là những hàng hóa
vật thể được tạo ra từ hoạt động sản xuất nông nghiệp. Loại sản phẩm này có
thể là hàng hóa đáp ứng nhu cầu trực tiếp của con người - sử dụng cho ăn,
uống, sinh hoạt hàng ngày, hoặc có thể là các hàng hóa phục vụ nhu cầu gián
tiếp như dùng làm thức ăn chăn nuôi, làm nguyên liệu cho các DN công
nghiệp chế biến... Tuy cũng là sản phẩm hữu hình, nhưng khác với công
nghiệp, sản phẩm nông nghiệp thường là những mặt hàng tươi sống. Nếu sinh
vật bị chết hoặc không được tươi và thu hoạch không đúng độ chín thì chất
lượng sẽ giảm xuống, thậm chí không thể tiêu dùng, không thể bán được.
Hơn thế nữa, do sản xuất có tính thời vụ và phụ thuộc nhiều vào tự
nhiên, nhất là các hàng rau, quả, nên khi đến kỳ thu hoạch thì lượng cung lại
rất lớn, người sản xuất phải chịu bán với giá rẻ, chi phí nhân công cao. Còn
khi có giá cao thì họ lại không có sản phẩm để cung ra trên thị trường. Rủi ro
trong kinh doanh nông nghiệp nói chung là rất lớn. Do tính rủi ro này, nên
đầu tư vào sản xuất nông nghiệp có nhiều mạo hiểm so với đầu tư vào các
ngành công nghiệp và dịch vụ. Không chỉ có ít chủ DN dám đầu tư kinh
21
doanh nông nghiệp, mà qui mô của các DN cũng thường nhỏ và vừa; ít có DN
qui mô lớn. Mức rủi ro lại càng lớn hơn khi các DNNN không lường được
mức sản lượng sản xuất, không tìm được đầu ra, thiếu công nghệ chế biến bảo
quản sau thu hoạch và trên thị trường thiếu vắng các DN chế biến nông sản
phẩm, do đầu tư lớn nhưng thời gian sử dụng rất ít (theo vụ) nên phải chịu
khấu hao nhiều và kéo dài dễ bị lạc hậu công nghệ.
1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp nông nghiệp trong phát triển kinh
tế - xã hội trên một địa bàn
DNNN cũng là một lực lượng cung ứng hàng hóa trên thị trường.
Nhưng do đặc điểm sản xuất của nó mà hoạt động của DN này đóng vai trò
quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội trên một địa bàn, nhất là đối với
khu vực nông thôn. Vai trò của nó được thể hiện:
Thứ nhất, đây là hình thức tổ chức sản xuất mang tính chất chuyên

trong nông nghiệp. Trong nông nghiệp, chủ thể sản xuất bao gồm hộ nông
dân, các chủ trang trại, hợp tác xã và DNNN. Xét trên góc độ tổ chức quản lý
sản xuất kinh doanh, thì các trang trại và hợp tác xã có thể được coi là
DNNN. Những DN này có ưu thế hơn hẳn về vốn, công nghệ, qui mô sản
xuất và phát triển mặt hàng so với các hộ nông dân. DNNN là những đơn vị
chuyên môn hóa và cung ứng hàng hóa theo nhu cầu thị trường. Do chuyên
môn hóa sản xuất và có năng suất lao động cao hơn so với kinh tế hộ, hoạt
động của DNNN sẽ đưa lại hiệu quả cao hơn. Nhờ đó, nó có thể tồn tại và
phát triển trong cơ chế thị trường; có thể trở thành lực lượng đi đầu đóng vai
trò động lực cho phát triển kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp.
Thứ tư, sự phát triển của DNNN sẽ tạo ra điều kiện để tăng thu nhập
cho xã hội và xây dựng nông thôn mới. Nhờ hình thức tổ chức sản xuất này,
việc làm của người lao động ổn định hơn, có thu nhập cao hơn. Trong nông
thôn, xuất hiện người công nhân mới - công nhân nông nghiệp. Nó không chỉ
23
là nhân tố thúc đẩy chuyên môn hóa, tăng năng suất lao động, mà còn là nhân
tố tạo lập tính kỷ luật, tác phong công nghiệp trong sản xuất nông nghiệp.
Sự phát triển của DNNN tạo điều kiện thúc đẩy việc phát triển và
hoàn thiện kết cấu hạ tầng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như hệ thống
thủy lợi, hệ thống cấp điện, đường giao thông; thúc đẩy nhu cầu học hỏi của
người lao động. Nhờ đó, thúc đẩy việc xây dựng nông thôn mới.
DNNN còn là cầu nối quan trọng góp phần khơi thông chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước với nông dân, góp phần vào việc xóa đói,
giảm nghèo, cải thiện mức sống của người dân. Nếu DNNN được hoạt động
tốt, thì nó còn là đơn vị cơ sở rất quan trọng trong việc giữ vững ổn định xã
hội, bảo vệ quốc phòng và an ninh.
Như vậy, sự phát triển của DNNN đóng vai trò quan trọng trong phát
triển kinh tế xã hội ở nông thôn. Nhận thức vai trò này, Nghị quyết Đại hội X
của Đảng nhấn mạnh: "Phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp, nhất là
doanh nghiệp nhỏ và vừa; phát triển bền vững các làng nghề"

nguyên đất đai, mặt nớc, thời tiết, khí hậu thuận lợi thì ở đó sản xuất nông
nghiệp đợc phát triển. ở đâu đất cằn, nếu không biết tìm ra một loại cây, con
thích hợp thì không thể có hoạt động sản xuất nông nghiệp, mà nếu có thì năng
suất, chất lợng và hiệu quả không cao. Đất đai là nhân tố tự nhiên có tác động
mạnh đến sự lựa chọn việc sản xuất của DNNN. Những loại đất phù hợp với
trồng cây lơng thực, cây công nghiệp hoặc để chăn nuôi, nếu có một diện tích
lớn sẽ là điều kiện thuận lợi để phát triển loại cây, con đó và tiếp theo đó là sự
phát triển nhà máy chế biến sản phẩm của nó.
Ví dụ, huyện tỉnh Ch Prụng tnh Gia Lai do có t đai, thổ nhỡng phù
hợp với cây chè, nên ngay từ năm 1960 đã hình thành một nông trờng trồng chè
(một hình thức DN) và sau đó là một nhà máy chế biến chè đen xuất khẩu. Sự
có mặt của cơ sở sản xuất này không chỉ thu hút hàng ngàn lao động sở tại mà
còn ở các vùng quê khác nh Hng Yên, Thái Bình, Nam Định. Nó không chỉ làm
cho qui mô sản xuất của DNNN tăng lên, mà còn thúc đẩy gia tăng qui mô của
các DN có quan hệ. Thu nhập của công nhân nông trờng và nhà máy chè này
25

Trích đoạn Điều kiện tự nhiên cho sản xuất nơng nghiệp Tốc độ triển khai cơng nghiệp hĩa, hiện đại hĩa Trình độ phát triển của kinh tế thị trờng Trình độ hiện cĩ của ngời lao động và năng lực quản lý doanh nghiệp Luật pháp, chính sách của Nhà nớc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status