LUẬN VĂN:Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ phát triển kinh tế - xã hội doc - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh
Phúc - Thực trạng và giải pháp

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trước đây, khi đề cập đến các nguồn tài nguyên cho phát triển, người ta thường cho
rằng, đó là các yếu tố nằm trong 4 chữ M: Men, Machines, Materials và Money (con
người, máy móc, vật liệu và vốn). Thế nhưng, trong thời đại ngày nay, khi nói đến tài
nguyên phát triển, không thể không nhắc đến yếu tố thứ năm rất quan trọng đó là thông tin
(Information). Sự xuất hiện của yếu tố thứ năm là thông tin đã tạo ra sự thay đổi lớn mang
tính cách mạng về phương thức làm việc và mô hình phát triển trong thế giới công nghiệp
hoá với yếu tố dẫn đạo là kinh tế tri thức. Khi thông tin đã thực sự trở thành một lực lượng
sản xuất vật chất quan trọng được thừa nhận ở tất cả các quốc gia, được sử dụng thường
xuyên trong các hoạt động kinh tế - xã hội (KT-XH) thì bước chuyển từ xã hội công

nghĩa là chúng ta đã cam kết đồng thuận triển khai các hoạt động của hiệp định, từng bước
xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm thực hiện mô hình CPĐT, TMĐT, cộng đồng điện tử ở Việt
Nam. Một khi CPĐT, TMĐT, cộng đồng điện tử được vận hành có hiệu quả, các thao tác
kỹ thuật được chuẩn hoá và thực hiện nhanh chóng, thì mức độ chi phối chủ quan của yếu
tố con người vào nhiều khâu của quá trình quản lý sẽ được giảm đáng kể. Cộng đồng điện
tử, TMĐT sẽ bảo đảm phát triển nhanh một xã hội tri thức, thu hẹp sự khác biệt về kỹ
thuật số, sự thông thoáng và hiệu quả khi người dân được tiếp cận với hệ thống hành
chính, luật pháp và thông tin hiện đại trong nhiều lĩnh vực.
Cũng như các tỉnh, thành phố khác trong cả nước, trong điều kiện đổi mới, Vĩnh
Phúc chủ trương tiếp tục nâng cao sức cạnh tranh về thu hút vốn đầu tư trong nước và
nước ngoài. Cơ sở hạ tầng về thông tin và trình độ ứng dụng CNTT là một trong những
vấn đề được nhà đầu tư rất quan tâm khi tìm kiếm cơ hội đầu tư. Ngoài ra, các nhà đầu tư
cũng rất quan tâm đến sự sẵn sàng và tính mau lẹ của chính quyền địa phương trong việc
giải quyết vướng mắc cho doanh nghiệp. Ứng dụng, CNTT và vận hành có hiệu quả
CPĐT, TMĐT, cộng đồng điện tử sẽ làm tăng sức hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư, đặc
biệt là nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, mặt bằng CNTT của tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
vẫn ở trình độ thấp kém, phát triển chậm, chưa đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, tụt hậu xa

hơn so với nhiều địa phương khác. Đó là: ứng dụng CNTT chưa đáp ứng được yêu cầu của
tiến trình CNH, HĐH và yêu cầu về hội nhập khu vực và quốc tế; vai trò động lực và tiềm
năng to lớn của CNTT chưa được phát huy mạnh mẽ; nguồn nhân lực CNTT chưa được
chuẩn bị và phát triển kịp thời cả về số lượng và chất lượng; mạng viễn thông và Internet
chưa thuận lợi, chưa đáp ứng các yêu cầu về tốc độ, chất lượng cho ứng dụng CNTT; đầu
tư cho CNTT chưa tương xứng với tiềm năng; QLNN về lĩnh vực này vẫn còn mơ hồ, yếu
kém; ứng dụng CNTT ở một số nơi còn hình thức, chưa thiết thực và hiệu quả chưa cao
Có nhiều yếu tố tác động, nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến thực
trạng trên. Tình hình đó đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, cả
dưới góc độ lý luận lẫn góc độ thực tiễn. Chính vì vậy, đề tài: “Ứng dụng công nghệ
thông tin phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc - Thực trạng và giải pháp”
đã được tác giả chọn làm luận văn thạc sĩ.

3.1. Mục đích
Đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT ở tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đề xuất những giải
pháp để đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong việc phục vụ phát triển KT - XH của tỉnh Vĩnh
Phúc.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục tiêu của đề tài, luận văn xác định các nhiệm vụ sau đây.
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về CNTT và ứng dụng CNTT.
- Đánh giá thực trạng và những yếu tố tác động đến ứng dụng CNTT của tỉnh Vĩnh
Phúc.
- Xác định những yếu tố định hướng liên quan đến phát triển CNTT của tỉnh Vĩnh
Phúc.
- Làm rõ kinh nghiệm một số tỉnh, thành phố trong việc ứng dụng CNTT phục vụ
phát triển KT-XH, rút ra bài học cho tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy ứng dụng CNTT phục vụ phát triển KT-XH
của tỉnh Vĩnh Phúc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng

Quá trình ứng dụng CNTT phục vụ phát triển KT-XH tại các cơ quan trong hệ thống
chính trị của tỉnh Vĩnh Phúc gồm các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và các tổ chức xã
hội.
4.2. Phạm vi
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu ứng dụng CNTT của các cơ quan quản lý nhà
nước tỉnh Vĩnh Phúc từ ngày tái lập tỉnh 01/01/1997 đến nay. Luận văn không nghiên cứu
về phát triển công nghiệp CNTT, thị trường, kinh doanh sản phẩm CNTT và các giải pháp
liên quan đến kỹ thuật CNTT; luận văn cũng không đề cập đến các đối tượng ứng dụng
CNTT như: nhân dân, doanh nghiệp và các đơn vị tương đương như: trường học, bệnh
viện…
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử như công cụ

CNTT ngày nay đã và đang tạo đà cho những thay đổi cơ bản trong công tác quản lý
và các hoạt động sản xuất kinh doanh ở khu vực công và khu vực tư trên phạm vi toàn cầu.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về CNTT, chúng ta sẽ tìm hiểu một số khái niệm
về CNTT có tính phổ biến.
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (địa chỉ trên mạng Internet:
thì
CNTT là công nghệ ứng dụng cho việc xử lý thông tin.
Theo GS. Liest Eathington và GS. Dave Swanson, Khoa Kinh tế học, Đại học Iowa,
Hoa Kỳ, thì CNTT là một chuỗi sản phẩm và dịch vụ mà thông qua đó, việc biến đổi số
liệu thành thông tin có thể tiếp cận được và trở nên có ích. Sản phẩm và dịch vụ CNTT này
bảo đảm cho doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân có thể kiểm soát được các giao dịch
kinh doanh hiệu quả hơn và nhanh hơn [30, tr.1].
Theo GS. Phan Đình Diệu, “CNTT là ngành công nghệ về xử lý thông tin bằng các
phương tiện điện tử, trong đó nội dung xử lý thông tin bao gồm các khâu cơ bản như thu
thập, lưu trữ, chế biến và truyền nhận thông tin” [17, tr.7].
PGS. Hàn Viết Thuận cho rằng: “CNTT là sự kết hợp của công nghệ máy tính với
công nghệ liên lạc viễn thông được thực hiện trên cơ sở công nghệ vi điện tử” [43, tr.16].
Dự thảo lần thứ 15 Luật CNTT đã được chỉnh lý theo ý kiến của các vị đại biểu quốc
hội tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XI thì: “CNTT là tập hợp các hoạt động có sử dụng
công nghệ máy tính trong quá trình sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi
thông tin số phục vụ KT-XH, quốc phòng, an ninh và phát triển công nghiệp CNTT” [56,
tr.2].

Như vậy, CNTT là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan
đến thông tin và quá trình xử lý thông tin. Theo cách nhìn đó, CNTT bao gồm các phương
pháp khoa học, các phương tiện, công cụ và giải pháp kỹ thuật hiện đại, chủ yếu là máy
tính và mạng truyền thông cùng với hệ thống nội dung thông tin điện tử nhằm tổ chức, lưu
trữ, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động
KT-XH, văn hoá, quốc phòng, an ninh, đối ngoại
Đây có thể được coi là một định nghĩa hoàn chỉnh về CNTT vì nó đã bao quát được

gồm các chương trình cơ bản sau.
i) Các chương trình ứng dụng tổng quát, chuyên cho quản lý, xử lý văn bản, tính toán
công nghiệp hay tính toán khoa học mà người sử dụng cuối cùng có thể viết những ứng
dụng dễ dàng hay cũng có thể sử dụng ngay mà không cần viết thêm chương trình.
ii) Các chương trình “phần mềm trung gian”, cho phép các chương trình ứng dụng
phân tán sử dụng tới mạng thông tin, thông qua hệ điều hành mạng. Đây là những chương
trình có vai trò ứng dụng quan trọng nhất vào lĩnh vực quản lý hiện nay.
iii) Các chương trình gắn liền với một sản phẩm đặc biệt nào đó, với những giao diện
sử dụng đặc biệt trực tiếp với người tiêu dùng như máy nghe nhạc, ti vi, máy giặt, máy
bay… Các chương trình này thường do những hãng làm sản phẩm tự viết ra hoặc đặt gia
công tại các công ty chuyên phát triển phần mềm.
- Hệ điều hành và hệ điều hành mạng là môi trường thiết yếu cho các ứng dụng hoạt
động.
- Tầng tiếp theo bao gồm tất cả các hệ máy và mạng đang hoạt động trên thế giới.
Việc sản xuất các máy này bắt đầu từ: làm ra các bảng tích hợp trong đó gắn các linh kiện
điện tử; lắp ráp với phần điện, cơ khí và các thiết bị ngoại vi,… để trở thành một máy tính
hoàn hảo, hay một bộ phận của một thiết bị công nghiệp hay một sản phẩm tiêu dùng.
- Tầng cuối cùng là việc sản xuất các linh kiện điện tử.
1.1.2.4. Công nghệ thông tin là lĩnh vực phát triển và đào thải rất nhanh
Những nghiên cứu trên thị trường cho thấy, các sản phẩm CNTT và thiết bị ngoại vi
thường có sự chuyển biến nhanh dưới sự tác động của các tiến bộ KHCN. Những chuyển biến
này chạy theo kịp đà tiến của công nghiệp điện tử cơ bản theo quy luật Moore, với giá cố định

thì khả năng các linh kiện sau 18 tháng lại tăng gấp đôi về công năng (dung lượng bộ nhớ, tốc
độ xử lý thông tin…).
Như vậy, trong CNTT, phần cứng (thiết bị, các bộ xử lý…) có tốc độ thay đổi và đào
thải nhanh nhất. Trong khi đó, việc thiết kế hệ thống có tốc độ biến chuyển chậm hơn, cuối
cùng phần mềm ứng dụng tổng quát còn biến chuyển chậm hơn nữa. Cụ thể, hàng thập kỷ,
thế giới mới nảy sinh những thiết kế hệ thống độc đáo hay những chương trình ứng dụng
tổng quát mới.

phát triển xã hội thông tin trong khu vực ASEAN.
Đến năm 2010, trên cơ sở phát triển và ứng dụng mạnh mẽ CNTT, Việt Nam đạt
trình độ trung bình khá trong khu vực ASEAN về xã hội thông tin.
Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 246/2005/QĐ-TTg ngày ngày
06/10/2005 phê duyệt chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam
đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Quyết định số 32/2006/QĐ-TTg ngày
07/02/2006 phê duyệt quy hoạch phát triển viễn thông và Internet Việt Nam đến năm
2010, thì cấu trúc của ngành CNTT của Việt Nam bao gồm một số nội dung chủ yếu sau.
1.1.3.1. Ứng dụng công nghệ thông tin
Nội dung này là nội dung cốt lõi, bao gồm bốn yếu tố sau.
Thứ nhất, xây dựng và phát triển cộng đồng điện tử: bảo đảm mức độ phổ biến rộng
của xã hội ứng dụng CNTT trong đó trên 80% thanh niên ở các thành phố, thị xã, thị trấn có
thể sử dụng các ứng dụng CNTT và khai thác Internet. Từng bước đưa CNTT vào đời sống
của nông dân, thu hẹp khoảng cách sử dụng kỹ thuật số giữa nông thôn và thành thị. Người
dân được truy cập thông tin và tri thức kịp thời thông qua hệ thống phát thanh, truyền hình,

Internet Phát triển và phổ cập hệ thống quản lý điện tử đến trên 80% số bệnh viện trên toàn
quốc. Phổ cập sử dụng tin học cho trên 70% cán bộ y tế [41, tr.3].
Thứ hai, xây dựng và phát triển CPĐT: bảo đảm hệ thống chỉ đạo, điều hành, trao đổi
thông tin quản lý nhà nước thông suốt, kịp thời từ trung ương đến các bộ, cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; trên 50% các
văn bản được lưu chuyển trên mạng; đa số cán bộ, công chức nhà nước có điều kiện sử
dụng thư điện tử và khai thác thông tin mạng trong công việc. 100% các cơ quan của
Chính phủ có trang web thông tin điện tử với đầy đủ thông tin về hoạt động của cơ quan,
pháp luật, chính sách, quy định, thủ tục hành chính, quy trình làm việc, các dự án đầu tư,
đấu thầu và mua sắm. Người dân và các doanh nghiệp có thể qua trang web tìm kiếm
thông tin liên quan đến các hoạt động của các cơ quan hành chính một cách nhanh chóng,
dễ dàng. Hệ thống thông tin tài chính, ngân hàng và hải quan đạt trình độ tương đương với
các nước tiên tiến trong khu vực. Hệ thống thông tin về dân cư, cán bộ công chức, tài
nguyên, môi trường và thống kê có thông tin cơ bản được cập nhật đầy đủ và cung cấp

trên toàn quốc có điện thoại; 100% các điểm bưu điện văn hoá xã và các trung tâm giáo dục
cộng đồng được kết nối Internet; 100% số huyện và nhiều xã trong cả nước được phục vụ
dịch vụ băng rộng với giá cước thấp hơn hoặc tương đương mức bình quân của các nước
trong khu vực ASEAN+3; 100% viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp và trung học phổ thông có truy cập Internet tốc độ cao; trên 90% các trường
trung học cơ sở, bệnh viện được kết nối Internet [41, tr.4].
1.1.3.3. Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin
Đào tạo CNTT tại các trường đại học trọng điểm đạt trình độ và chất lượng tiên tiến
trong khu vực ASEAN cả về kiến thức, kỹ năng thực hành và ngoại ngữ. 70% sinh viên
CNTT tốt nghiệp ở các trường đại học trọng điểm đủ khả năng chuyên môn và ngoại ngữ
để tham gia thị trường lao động quốc tế. 100% sinh viên tốt nghiệp tất cả các trường đại
học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp có đủ kỹ năng sử dụng máy tính và Internet trong
công việc. Đến năm 2010 có trên 100.000 người có trình độ cao đẳng và đại học trở lên về
CNTT, trong đó có khoảng 20% đạt trình độ khu vực và quốc tế. Bảo đảm 100% trường

đại học, cao đẳng, trung học phổ thông có trang thông tin điện tử. Tăng cường chất lượng
và số lượng giảng viên CNTT ở các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp
bảo đảm tỷ lệ dưới 15 sinh viên có 1 giảng viên. Các trường sư phạm cung cấp đủ số lượng
giáo viên dạy tin học cho các trường học trong cả nước. Hầu hết cán bộ, công chức, viên
chức, giáo viên các cấp, bác sĩ, y sĩ, sinh viên đại học và cao đẳng, học sinh trung học
chuyên nghiệp, trung học nghề và trung học phổ thông, 50% học sinh trung học cơ sở và
một bộ phận người dân có nhu cầu được đào tạo kiến thức ứng dụng CNTT và khai thác
Internet. Đa số các bộ, ngành, tỉnh, thành phố có cán bộ lãnh đạo quản lý thông tin, được
bổ túc, đào tạo các chương trình quản lý CNTT với trình độ tương đương trong khu vực
[41, tr.4].
1.1.3.4. Phát triển công nghiệp công nghệ thông tin
Phát triển công nghiệp phần mềm và công nghiệp nội dung thông tin đồng bộ với mở
rộng, phát triển mạng truyền thông. Duy trì tốc độ tăng trưởng công nghiệp phần mềm và
công nghiệp nội dung thông tin ở mức bình quân 40% một năm, đến năm 2010 đạt tổng
doanh thu khoảng 1,2 tỷ USD. Phấn đấu để Việt Nam trở thành một trung tâm của khu vực

để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước.
Có thể hiểu ứng dụng CNTT như sau. Ứng dụng CNTT là quá trình đưa CNTT vào
các lĩnh vực KT-XH nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của
các nguồn lực trong từng lĩnh vực, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện
đại hoá các ngành kinh tế, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng
lợi sự nghiệp CNH, HĐH.
1.2.2. Các đặc điểm của ứng dụng công nghệ thông tin
Xét theo góc độ ứng dụng CNTT trong xã hội, có thể khái quát năm đặc điểm cơ bản
sau.
- Công nghệ thông tin được ứng dụng trong mọi lĩnh vực
CNTT đang được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, làm tăng năng suất lao
động, thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế của các nước. Nhờ có CNTT, quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại các nước chậm và đang phát triển diễn ra nhanh hơn. Một

mặt, CNTT làm thay đổi đời sống kinh tế của các quốc gia, mặt khác, khi điều kiện sống,
cách làm việc thay đổi sẽ dẫn đến những thay đổi về cơ cấu xã hội, phương pháp học tập
của con người. CNTT góp phần tạo ra nhiều ngành nghề kinh tế mới, làm thay đổi sâu sắc
các ngành công nghiệp hiện tại, tăng khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp
truyền thống thông qua một hệ thống hỗ trợ như viễn thông, TMĐT, dịch vụ truyền thông
đa phương tiện…
Mức độ ứng dụng rộng và tốc độ phát triển ứng dụng CNTT nhanh đã làm đảo lộn tổ
chức nhiều ngành nghề. Theo báo cáo của Viện Chiến lược Bưu chính, Viễn thông và
CNTT tại hội thảo Quốc gia về Công nghệ thông tin và truyền thông lần thứ III phát triển
Công nghệ thông tin và truyền thông trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, số liệu sau
đây chỉ nêu một số chỉ số ấn tượng nhất.
- Hiệu suất/1USD: năm 2000/1980 66.000 lần; năm 2010/1975 10 triệu lần.
- Tháng 10/1990 mới có 300.000 máy tính kết nối Internet; đến tháng 01/2003 đã có
11 triệu máy chủ kết nối Internet.
- Trước đây cần 100 năm để đạt được 1 tỷ người sử dụng điện thoại; ngày nay với

sẽ nhận được phản hồi từ khách hàng ngay lập tức, do đó có thể nhanh chóng điều chỉnh
chiến lược tiếp thị hoặc danh mục hàng hoá trên cơ sở những phản hồi đó. Người tiêu dùng
có thể yêu cầu những mặt hàng, dịch vụ với giá cả hợp lý một cách thuận lợi nhất từ nhà
riêng, khách sạn hay văn phòng. Việc mua sắm này được thực hiện an toàn vì nó cho phép
người bán lẻ và nhà cung cấp nhận được tiền ngay lập tức. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là độ
an toàn của mạng truyền thông, của máy tính và các phần mềm ứng dụng.
Báo cáo của Viện Chiến lược Bưu chính, Viễn thông và CNTT tại hội thảo Quốc gia về
Công nghệ thông tin và truyền thông lần thứ III đã nêu đặc điểm của ứng dụng CNTT làm
tăng hiệu quả truyền tin, tăng năng suất lao động.
- Thông tin truyền qua một đường cáp đơn trong vòng 01 giây vào năm 2001 nhiều hơn
dung lượng truyền qua Internet trong vòng 01 tháng vào năm 1997;
- Chi phí để truyền 1.000 tỷ bít thông tin từ Boston đến Los Angeles giảm từ 150.000
USD trong năm 1997 xuống còn 12 cent hiện nay.

- Một cuộc điện thoại dài 03 phút từ New York tới London tốn 300 USD vào năm
1930, ngày nay chỉ mất 20 cent [7].
1.2.3. Các điều kiện cần thiết để ứng dụng công nghệ thông tin
CNTT hiện nay ở Việt Nam vẫn đang ở tình trạng lạc hậu, phát triển chậm, có nguy
cơ tụt hậu xa hơn so với nhiều nước trên thế giới và khu vực. Việc ứng dụng CNTT chưa
đáp ứng được yêu cầu của công cuộc CNH, HĐH và yêu cầu về hội nhập khu vực và quốc
tế, vai trò động lực và tiềm năng to lớn của CNTT chưa được phát huy mạnh mẽ; việc phát
triển nguồn nhân lực CNTT chưa được chuẩn bị kịp thời cả về số lượng và chất lượng, về
chuyên môn cũng như về ngoại ngữ; viễn thông và Internet cũng chưa thuận lợi, chưa đáp
ứng các yêu cầu về tốc độ, chất lượng và giá cước cho ứng dụng và phát triển CNTT; đầu
tư cho CNTT chưa đủ mức cần thiết; QLNN về lĩnh vực này vẫn phân tán và chưa hiệu
quả, ứng dụng CNTT ở một số nơi còn hình thức, chưa thiết thực và còn lãng phí.
Để khắc phục những hạn chế trên và tạo điều kiện ứng dụng CNTT một cách có hiệu
quả, cần hoàn thiện một số điều kiện cơ bản sau: xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách
cho lĩnh vực CNTT; tạo dựng cơ sở hạ tầng cho lĩnh vực CNTT; đào tạo đội ngũ nhân lực
cho lĩnh vực CNTT. Sau đây sẽ phân tích từng điều kiện.

dộng, công nghệ không dây
Muốn ứng dụng được CNTT, về phương diện kỹ thuật trước hết phải có cơ sở hạ tầng
thông tin và truyền thông bảo đảm. Tùy thuộc mục đích của việc ứng dụng CNTT phải xây
dựng hạ tầng kỹ thuật tương ứng. Không nhất thiết phải tuần tự từ thấp đến cao như trang
bị máy tính, kết nối mạng LAN, trao đổi thông tin trong mạng LAN, kết nối mạng Internet
và trao đổi thông tin với thế giới bên ngoài thông qua các dịch vụ trên Internet như: www
(World Wide Web), email, chat, ftp, telnet, mà có thể thực hiện ngay các yêu cầu hạ tầng
kỹ thuật theo yêu cầu công việc.
Ứng dụng CNTT yêu cầu cơ sở hạ tầng, công nghệ kỹ thuật phải đồng bộ, vì đây
là công cụ để liên kết mọi người, mọi tổ chức gắn bó với nhau, phụ thuộc nhau. Ứng
dụng CNTT không cho hiệu quả mang tính cộng đồng nếu chỉ giới hạn trong phạm vi
nhỏ, mà phải xác định thông tin của người này có thể là thông tin hoặc dữ liệu của

người khác, tức là liên tục có sự trao đổi, tương tác thông tin, dữ liệu. Lĩnh vực CNTT
coi sự đồng bộ về kỹ thuật là điều kiện rất quan trọng, nó cho phép dễ dàng trao đổi
thông tin qua lại. Yếu tố đồng bộ ở đây có thể phải xác định theo từng cấp độ như thế
giới, quốc gia và địa phương, tránh hạ tầng thông tin và truyền thông như một ốc đảo
đảo không có sự trao đổi, giao tiếp thông tin. Hạ tầng thông tin phải bảo đảm theo các
tiêu chuẩn quốc tế và các chuẩn quốc gia, phải có sự phù hợp về thiết bị, hệ điều hành,
hệ quản trị cơ sở dữ liệu, phần mềm ứng dụng
- Điều kiện về nguồn nhân lực
Chỉ thị số 58-CT/TW của Bộ Chính trị khoá VIII khẳng định quan điểm phát triển
nguồn nhân lực CNTT là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với thành công
ứng dụng và phát triển CNTT. Nhận thức trên xuất phát từ quan điểm: con người là
nhân tố quyết định tất cả. Cơ sở vật chất và các phương tiện dù có hiện đại đến mức
nào, nếu không có con người sử dụng, hoặc có nhưng sử dụng không tốt thì vô dụng
và đôi khi còn có hại. Tuy nhiên, phát triển nguồn nhân lực không phải là yếu tố
quyết định duy nhất, mà điều kiện cơ sở vật chất và phương tiện cũng giữ vai trò rất
quan trọng.
Để có được nguồn nhân lực cho ứng dụng và phát triển CNTT, chúng ta cần đào tạo

sản phẩm, tin học hóa các hoạt động tiếp thị, kinh doanh… Cần chú ý rằng, CNTT không
chỉ tác động đến các ngành công nghiệp công nghệ cao, mà còn có thể tạo ra hiệu quả cao
đối với các ngành thủ công nghiệp hoặc công nghiệp với công nghệ truyền thống như: dệt,
may, thêu ren,… bằng việc ứng dụng tự động hoá các khâu của quá trình sản xuất. Chẳng
hạn, một máy liên hợp thêu có ứng dụng CNTT có năng suất thêu trên vải bằng hàng trăm
thợ thủ công truyền thống. Chính CNTT đã làm thay đổi ngành công nghiệp thêu ren vốn
trước đây chỉ tổ chức theo kiểu truyền thống. Nói tóm lại, đối với công nghiệp, CNTT là
một loại công nghệ tạo khả năng, làm chủ công nghệ đó thì có thể sáng tạo ra nhiều cách
sử dụng một cách linh hoạt và đặc sắc trong nhiều lĩnh vực sản xuất.
Trong lĩnh vực dịch vụ, CNTT làm thay đổi một cách sâu sắc nội dung và cách thức
hoạt động của nhiều loại dịch vụ như trong thương mại, quảng cáo và tiếp thị, giao thông

vận tải, bảo hiểm, thông tin liên lạc,… và đặc biệt quan trọng là các dịch vụ viễn thông, tài
chính và ngân hàng. Đồng thời CNTT cũng tạo ra nhiều ngành dịch vụ mới như các dịch
vụ thông tin và tri thức, văn hoá, tư vấn, đào tạo, giáo dục từ xa, y tế từ xa… CNTT đã góp
phần làm biến đổi hoạt động dịch vụ theo hướng làm tăng tỷ trọng và hàm lượng trí tuệ
trong sản phẩm, từ đó, làm chuyển đổi vai trò của các dịch vụ từ chỗ phục vụ thụ động
sang trợ giúp quyết định đối với khách hàng.
Trong lĩnh vực đời sống xã hội, CNTT bảo đảm điều kiện cho mọi người sử dụng
thông tin như một nguồn tài nguyên vào loại quan trọng nhất để nâng cao tri thức và cải
thiện chất lượng sống (ăn, ở, đi lại, bảo vệ sức khoẻ, sinh hoạt văn hoá, làm việc, học
tập ), phát huy năng lực trí tuệ của người Việt Nam, tạo phong cách làm việc năng động,
hiệu quả.
CNTT có tác dụng đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt
là đối với vùng sâu, vùng xa và những đối tượng yếu thế.
CNTT còn giúp mạnh công tác giáo dục đào tạo, tổ chức ngày càng tốt hơn việc đào
tạo từ xa, học suốt đời để nâng cao dân trí và chủ động xây dựng nhanh một xã hội học tập.
Về y tế, CNTT giúp mở rộng phạm vi, quy mô và nâng cao chất lượng chăm sóc sức
khoẻ nhân dân, chữa bệnh từ xa, thực hiện tốt công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình.
Cuối cùng, CNTT có tác dụng thúc đẩy các hoạt động khoa học, văn hóa, thể dục, thể

phát triển BCVT Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
- Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông ngày 25/02/2002.
- Quyết định số 95/2002/QĐ-TTg ngày 17/7/2002 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế
hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển CNTT Việt Nam đến 2005.
- Quyết định số 321/QĐ-TTg ngày 06/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
chương trình phát triển nguồn nhân lực về CNTT từ nay đến năm 2010.
- Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
chiến lược phát triển Công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020 và các văn bản khác có liên quan.

- Quyết định số 32/2006/QĐ-TTg ngày 07/02/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt quy hoạch phát triển viễn thông và Internet Việt Nam đến năm 2010.
Những quyết định trên của Đảng và Nhà nước cho thấy, Đảng và Nhà nước ta rất quan
tâm đến CNTT, coi đây là ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời cũng nhấn mạnh sự cần thiết phát
triển ứng dụng CNTT trong tất cả các lĩnh vực.
Các biện pháp của Nhà nước cũng cho thấy nỗ lực của Đảng và Nhà nước đang
được thực hiện ở cả ba nội dung chính: khuôn khổ pháp lý, hạ tầng công nghệ, và
nhân lực. Tuy nhiên, đây là lĩnh vực mới nên các chủ trương, biện pháp trong hơn 5
năm qua mới chỉ là chấm phá, khởi đầu, đòi hỏi phải tiếp tục có những biện pháp mạnh
mẽ hơn, triệt để hơn.
1.4. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VỀ ỨNG DỤNG CÔNG
NGHỆ THÔNG TIN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.4.1. Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh
Từ cuối những năm 90, thành phố Hồ Chí Minh đã thử nghiệm ứng dụng CNTT vào
quản lý hành chính nhà nước (QLHCNN). Ở nước ta, điều này khi đó là một vấn đề còn rất
mới mẻ, chưa có tiền lệ. Quá trình thử nghiệm gặp không ít khó khăn, đó là, thiếu cơ chế,
chính sách, hệ thống đường truyền dữ liệu còn lạc hậu, thiếu đội ngũ nhân lực có trình độ
chuyên môn và hàng loạt vấn đề khác như bảo mật, an toàn và an ninh thông tin…
Tuy nhiên, trước yêu cầu của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu phát triển
KT-XH của thành phố Hồ Chí Minh. Lãnh đạo Thành ủy và UBND thành phố thấy rằng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status