LUẬN VĂN: Những giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay - Pdf 15



LUẬN VĂN: Những giải pháp tăng cường thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Đà Nẵng
trong giai đoạn hiện nay MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Thực tế 20 năm đổi mới vừa qua, nhất là 10 năm gần đây cho thấy, với chính sách
thu hút ngày càng cởi mở và minh bạch, vốn FDI đã trở thành một trong những yếu tố
quan trọng để phát triển kinh tế ở nước ta nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng. FDI
đã có đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng
thu ngân sách, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo trên quy mô toàn bộ nền kinh tế
nói chung cũng như trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng. Tuy nhiên, ở Đà Nẵng, các
biện pháp thu hút vốn FDI thời gian qua cũng đã bộc lộ nhiều mặt yếu kém, hạn chế. Kết
quả là tốc độ tăng vốn FDI chưa đạt như mong đợi. Số lượng các nhà đầu tư nước ngoài
đến tìm hiểu môi trường đầu tư, số dự án đăng ký dự định đầu tư khá nhiều nhưng số dự
án đầu tư được cấp phép và đi vào hoạt động vẫn còn thấp, số vốn thực sự đầu tư còn thấp
về số lượng. Cơ cấu đầu tư chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, nhu cầu CNH, HĐH
của thành phố với tư cách là thành phố trọng điểm của miền Trung và đầu mối quan trọng
của hành lang kinh tế Đông - Tây. Ngoài những nguyên nhân khách quan như điều kiện tự
nhiên không thuận lợi, thị trường nhỏ hẹp, sức mua yếu, chi phí vận chuyển bằng đường
biển cao, thời gian vận chuyển lớn, nguồn nguyên liệu và các ngành công nghiệp phụ trợ
còn thiếu và yếu, chất lượng kém, cơ chế chính sách của Trung ương còn bất cập…, những
nguyên nhân chủ quan từ phía chính quyền Đà Nẵng cũng đã làm ảnh hưởng tiêu cực đến
thu hút vốn FDI trên địa bàn.
Tình hình đó đòi hỏi phải nghiên cứu, tìm kiếm những giải pháp đổi mới mạnh mẽ
hơn nữa để tăng cường thu hút vốn FDI có hiệu quả hơn, xem đó là vấn đề quan trọng, đột
phá để phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2006 - 2010 và các giai đoạn tiếp theo.
Đó là lý do đề tài: “Những giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài ở Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay” được chọn làm luận văn thạc sĩ của tác giả.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về FDI nói chung cũng như những giải pháp thu
hút FDI nói riêng. Sau đây là những công trình tiêu biểu: - “Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các nước ASEAN và vận
dụng vào Việt Nam”, Nguyễn Huy Thám, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn của FDI, làm rõ vai trò của nó đối với sự
phát triển kinh tế đối với các vùng, địa phương.
- Phân tích thực trạng đầu tư và đánh giá chính sách thu hút vốn FDI ở Đà Nẵng thời
gian từ năm 1997 đến 2006
- Luận chứng những giải pháp tăng cường thu hút vốn FDI ở Đà Nẵng trong thời
gian tới
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các biện pháp chính sách thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài ở Đà Nẵng. Các biện pháp này bao gồm 2 bộ phận: bộ phận triển khai
thực hiện các chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung ương; bộ phận thực hiện gồm
các biện pháp của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp về chính sách. Góc
độ tiếp cận của luận văn chủ yếu là khảo sát các giải pháp của Nhà nước.
4.2. Đối tượng khảo sát của luận văn
Khảo sát các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Đà Nẵng như là đối tượng tác
động (kết quả) của các biện pháp chính sách. Ngoài ra, luận văn khảo sát hoạt động của các cơ
quan quản lý nhà nước của chính quyền Đà Nẵng.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: thời gian nghiên cứu giới hạn từ năm 1997 đến nay. Những giải pháp
và kiến nghị được đề xuất cho giai đoạn tương lai đến khoảng 2010.
Về không gian: giới hạn trong phạm vi các hoạt động FDI tại Đà Nẵng. Để nghiên cứu so
sánh, có mở rộng không gian khảo sát ở những chỗ cần thiết.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; các thành tựu khoa học trong kinh tế nói chung và
trong lĩnh vực chính sách FDI nói riêng. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng

Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam cũng có định nghĩa về FDI như sau:
Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn
bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư [28, tr.8].
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham
gia quản lý hoạt động đầu tư [28, tr.8].
Như vậy, FDI, xét theo định nghĩa pháp lý của Việt Nam, là hoạt động bỏ vốn đầu
tư của nhà đầu tư nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam với điều kiện họ phải tham gia quản
lý hoạt động đầu tư đó.
Xét về bản chất FDI khác (đối lập) với đầu tư gián tiếp nước ngoài; đồng thời FDI
là đầu tư thuộc kênh tư nhân, khác hẳn với đầu tư tài trợ (ODA) của Chính phủ hoặc các tổ
chức quốc tế.
1.1.1.2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, gắn liền với việc di chuyển vốn đầu tư, tức là tiền và các loại tài sản khác
giữa các quốc gia, hệ quả là làm tăng lượng tiền và tài sản của nền kinh tế nước tiếp nhận
đầu tư và làm giảm lượng tiền và tài sản nước đi đầu tư.
Thứ hai, được tiến hành thông qua việc bỏ vốn thành lập các doanh nghiệp mới (liên
doanh hoặc sở hữu 100% vốn), hợp đồng hợp tác kinh doanh, mua lại các chi nhánh hoặc
doanh nghiệp hiện có, mua cổ phiếu ở mức khống chế hoặc tiến hành các hoạt động hợp nhất
và chuyển nhượng doanh nghiệp.
Thứ ba, nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hoàn toàn vốn đầu tư hoặc cùng sở hữu
vốn đầu tư với một tỷ lệ nhất định đủ mức tham gia quản lý trực tiếp hoạt động của doanh
nghiệp.
Thứ tư, là hoạt động đầu tư của tư nhân, chịu sự điều tiết của các quan hệ thị trường
trên quy mô toàn cầu, ít bị ảnh hưởng của các mối quan hệ chính trị giữa các nước, các
chính phủ và mục tiêu cơ bản luôn là đạt lợi nhuận cao.
Thứ năm, nhà đầu tư trực tiếp kiểm soát và điều hành quá trình vận động của dòng
vốn đầu tư.

việc mua lại và sáp nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài hoặc mua cổ phần của các
công ty cổ phần. Hình thức này chủ yếu là chuyển sở hữu của các doanh nghiệp đang tồn
tại ở nước chủ nhà sang sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài. Về lâu dài, hình thức M &
As sẽ thu hút được nguồn vốn từ bên ngoài do mở rộng qui mô hoạt động của doanh
nghiệp. Kênh đầu tư này chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển, các nước mới công
nghiệp hóa, đặc biệt là trong những lĩnh vực công nghệ cao và có xu hướng tăng mạnh
trong những năm gần đây. Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam cũng đã thừa nhận và pháp lý
hoá kênh đầu tư này ở Việt Nam. Tuy nhiên, hình thức đầu tư này vẫn chưa phổ biến ở
nước ta do đây là kênh đầu tư FDI mới, nhà đầu tư còn dè chừng; hơn nữa, Nhà nước vẫn
hạn chế về tỷ lệ cổ phần của người nước ngoài trong các công ty cổ phần trong nước. Như
vậy, nếu chỉ thu hút FDI theo kênh GI thì không đón bắt được xu hướng đầu tư quốc tế
ngày nay, sẽ làm hạn chế khả năng thu hút FDI vào nước ta. Tương lai, với chính sách đổi
mới và hội nhập kinh tế quốc tế, M & As sẽ là kênh đầu tư quan trọng của FDI ở Việt Nam
[31, tr.37]. Với hai kênh đầu tư chính như đã nêu trên, tùy theo mức độ nắm giữ quyền quản lý,
sẽ có các hình thức đầu tư khác nhau. Những hình thức đầu tư này được quy định bởi thể
chế pháp luật về đầu tư, làm cơ sở để các nhà đầu tư triển khai các hoạt động đưa vốn vào
và thực hiện các biện pháp quản lý của họ.
Luật Đầu tư 2005 đã quy định 5 hình thức FDI cơ bản ở Việt Nam [28, tr.22]. Các hình
thức này cũng đã được thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Sau đây sẽ trình bày 5 hình thức
này.
a. Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức truyền thống và phổ
biến của FDI. Với hình thức này, các nhà đầu tư, cùng với việc chú trọng khai thác những
lợi thế của địa điểm đầu tư mới, đã nỗ lực tìm cách áp dụng các tiến bộ khoa học công
nghệ, kinh nghiệm quản lý trong hoạt động kinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất. Hình thức
này phổ biến ở quy mô đầu tư nhỏ nhưng cũng rất được các nhà đầu tư ưa thích đối với các
dự án quy mô lớn. Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia thường đầu tư theo hình thức

trình độ của các đối tác liên doanh của nước sở tại Hình thức DNLD có những ưu điểm
là góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn, nước sở tại tranh thủ được nguồn vốn lớn để
phát triển kinh tế nhưng lại được chia sẻ rủi ro; có cơ hội để đổi mới công nghệ, đa dạng
hóa sản phẩm; tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và học tập kinh nghiệm quản lý
của nước ngoài; Nhà nước của nước sở tại dễ dàng hơn trong việc kiểm soát được đối tác
nước ngoài. Về phía nhà đầu tư, hình thức này là công cụ để thâm nhập vào thị trường
nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả, tạo thị trường mới, góp phần tạo điều kiện cho
nước sở tại tham gia hội nhập vào nền kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, hình thức này có nhược
điểm là thường dễ xuất hiện mâu thuẫn trong điều hành, quản lý doanh nghiệp do các bên
có thể có sự khác nhau về chế độ chính trị, phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa,
ngôn ngữ, luật pháp. Nước sở tại thường rơi vào thế bất lợi do tỷ lệ góp vốn thấp, năng
lực, trình độ quản lý của cán bộ tham gia trong DNLD yếu.
c. Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm
hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp
nhân [28, tr.10]. Hình thức đầu tư này có ưu điểm là giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, công nghệ;
tạo thị trường mới, bảo đảm được quyền điều hành dự án của nước sở tại, thu lợi nhuận tương
đối ổn định. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước sở tại không tiếp nhận được kinh nghiệm
quản lý; công nghệ thường lạc hậu; chỉ thực hiện được đối với một số ít lĩnh vực dễ sinh lời
như thăm dò dầu khí.
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhân riêng và mọi
hoạt động BCC phải dựa vào pháp nhân của nước sở tại. Do đó, về phía nhà đầu tư, họ rất
khó kiểm soát hiệu quả các hoạt động BCC. Tuy nhiên, đây là hình thức đơn giản nhất,
không đòi hỏi thủ tục pháp lý rườm rà nên thường được lựa chọn trong giai đoạn đầu khi
các nước đang phát triển bắt đầu có chính sách thu hút FDI. Khi các hình thức 100% vốn
hoặc liên doanh phát triển, hình thức BCC có xu hướng giảm mạnh.
d. Hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT

Hình thức mua cổ phần hoặc mua lại toàn bộ doanh nghiệp có ưu điểm cơ bản là để
thu hút vốn và có thể thu hút vốn nhanh, giúp phục hồi hoạt động của những doanh nghiệp
bên bờ vực phá sản. Nhược điểm cơ bản là dễ gây tác động đến sự ổn định của thị trường
tài chính. Về phía nhà đầu tư, đây là hình thức giúp họ đa dạng hoá hoạt động đầu tư tài
chính, san sẻ rủi ro nhưng cũng là hình thức đòi hỏi thủ tục pháp lý rắc rối hơn và thường
bị ràng buộc, hạn chế từ phía nước chủ nhà.
1.1.3. Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với quá trình phát triển
kinh tế của các nước đang phát triển (nước tiếp nhận đầu tư)
FDI tác động rất lớn, trực tiếp đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia, tác
động đến mọi mặt của đời sống về kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị của nước tiếp nhận
đầu tư. Trong đó, về kinh tế, FDI tác động đến tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP),
cán cân thanh toán, thu nhập của người lao động và các chỉ tiêu kinh tế khác. Để phục vụ
cho việc luận chứng các chính sách thu hút FDI, người ta thường nhìn nhận các tác động
kinh tế này thành hai nhóm: tác động tích cực và tác động tiêu cực.
1.1.3.1. Những tác động tích cực
Thứ nhất, FDI bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế. Một nền kinh tế đang phát
triển, nếu có nguồn vốn đầu tư càng cao thì tăng trưởng sẽ càng cao. Vốn đầu tư hình
thành từ nguồn vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm vốn vay thương mại, đầu tư gián tiếp và FDI. Các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển, nhu cầu vốn
đầu tư rất lớn và FDI là một trong những nguồn vốn rất quan trọng. Vốn FDI có nhiều lợi
thế vì không tạo ra khoản nợ giữa nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư, khi dự án tạo ra
lợi nhuận thì được chuyển về nước và một phần được dùng để tái đầu tư, có tính ổn định
cao hơn so với các khoản đầu tư khác.
Thứ hai, FDI góp phần vào sự phát triển công nghệ, kỹ thuật mới, góp phần cải thiện
đáng kể kết cấu hạ tầng. Đồng thời, FDI tạo nền tảng vững chắc về khoa học và công nghệ
để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch
vụ; giảm tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu GDP.
Các nước đang phát triển có đặc điểm là sử dụng công nghệ lạc hậu, do đó năng

Thực tiễn cho thấy, FDI ở Việt Nam cũng tập trung vào hai ngành chủ yếu là công nghiệp và
dịch vụ, ít đầu tư vào nông nghiệp, do đó, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ
trọng công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng nông nghiệp.
Hầu hết các doanh nghiệp FDI về lĩnh vực sản xuất chủ yếu là sản xuất hàng hóa
xuất khẩu, do vậy góp phần tăng năng lực xuất khẩu. Đồng thời, thông qua các chi nhánh
của các công ty nước ngoài hoặc các công ty xuyên quốc gia để mở rộng thị trường xuất
khẩu. Hầu hết các nước đang phát triển đều nhập khẩu máy móc thiết bị và xuất khẩu các
sản phẩm thô, do đó cán cân thương mại thường thâm hụt, mất cân đối trong cán cân thanh
toán. FDI góp phần làm tăng thu ngoại tệ, góp phần cải thiện cán cân thanh toán.
Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra nhanh chóng và cạnh tranh rất quyết
liệt, đầu tư là một trong những lĩnh vực được các quốc gia cam kết tự do hóa. FDI làm cho
sự phân công lao động quốc tế diễn ra theo chiều sâu, những cam kết về tự do hóa FDI
được coi như là những quan điểm hội nhập kinh tế quốc tế của từng quốc gia.
1.1.3.2. Những tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, FDI còn có những tác động tiêu cực đến
nước tiếp nhận đầu tư. Sau đây là những tác động tiêu cực mang tính phổ biến:
- Đối với các nền kinh tế có quy mô thị trường nhất định, các nhà đầu tư nước ngoài,
sau một thời gian hoạt động, có khả năng sẽ kiểm soát thị trường địa phương, như vậy làm
suy yếu các doanh nghiệp trong nước, làm cho nền kinh tế của nước nhận đầu tư ngày
càng phụ thuộc vào các nhà sản xuất nước ngoài. Ngày nay, trong điều kiện mở cửa và hội nhập quốc tế, tác động này có xu hướng ngày càng mạnh nhưng các nước tiếp nhận đầu tư
cũng đã có đối sách thích hợp nhằm hạn chế tác động này.
- Về chuyển giao công nghệ, FDI có khả năng chuyển giao các công nghệ lạc hậu
sang các nước đang phát triển, biến các nước tiếp nhận đầu tư thành "bãi thải công nghệ".
Mặt khác, có một số công ty xuyên quốc gia lại chuyển giao những công nghệ quá hiện
đại, không thích hợp với trình độ, tay nghề nhân lực của nước nhận đầu tư.
- Lợi nhuận của các doanh nghiệp FDI có xu hướng chuyển ra nước ngoài, do vậy
FDI tuy tác động đẩy mạnh tăng trưởng ngắn hạn và trung hạn nhưng có khả năng làm

có FDI lớn, vốn trước đây là các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi.
Năm 2005, FDI tiếp tục mở rộng nhanh chóng. Các nước phát triển vẫn là những
nước đầu tư, đồng thời là nước tiếp nhận FDI nhiều nhất. Các nước này tiếp nhận khoảng
542 tỷ USD, tăng 37% so với năm 2004; trong khi đó, các nước đang phát triển, FDI gia tăng
ở mức kỷ lục, đạt 334 tỷ USD. Xét về tỷ lệ phần trăm, các nước phát triển chiếm 59% tổng
dòng FDI của thế giới. Các nước đang phát triển chiếm 36%, và các nước khu vực Đông –
Nam Châu Âu và các quốc gia thuộc khối thịnh vượng chung (CIS) chiếm khoảng 4% [58].
Vương quốc Anh là nước tiếp nhận đầu tư lớn nhất thế giới trong năm 2005 với 165
tỷ USD. Mặc dù có giảm về mức độ tiếp nhận FDI nhưng Hoa Kỳ vẫn là nước đứng thứ
nhì. Đối với các nền kinh tế đang phát triển, so với năm 2004, danh sách các quốc gia và
vùng lãnh thổ tiếp nhận FDI lớn nhất vẫn không thay đổi: Trung Quốc (bao gồm cả Hồng
Kông) đứng đầu, tiếp theo là Singapore, Mexico và Brazil. Tính theo khu vực, EU với 25
thành viên là địa điểm hấp dẫn đầu tư nhất, với dòng đầu tư vào năm 2005 đạt 422 tỷ USD,
gần bằng 50% tổng dòng vào FDI thế giới. Các nước khu vực Đông Á, Nam Á và Đông
Nam Á tiếp nhận 165 tỷ USD, vào khoảng 1/5 toàn thế giới, trong đó Đông Á chiếm 3/4
của khu vực. Tiếp theo là Bắc Mỹ với 133 tỷ USD, và Trung, Nam Mỹ với 65 tỷ USD. Khu
vực Tây Á có mức tiếp nhận không cao nhưng lại đạt tỷ lệ tăng trưởng FDI cao nhất với 85%,
vào khoảng 34 tỷ USD. Châu Phi đạt 31 tỷ USD, cũng là mức lớn nhất từ trước đến nay [58].
Xét về chủ đầu tư, năm 2005, dòng FDI đầu tư của thế giới khoảng 779 tỷ USD. Các
nước phát triển vẫn đứng đầu về đầu tư ra nước ngoài. Năm 2005, nếu trừ Hoa Kỳ thì Hà
Lan đứng đầu, với 119 tỷ USD, tiếp theo là Pháp và Vương Quốc Anh. Tuy vậy, dòng đầu
tư ra nước ngoài tăng đáng kể ở các nền kinh tế đang phát triển. Dẫn đầu nhóm này là Hồng Kông (Trung Quốc) với 33 tỷ USD. Thật sự, vai trò của các nền kinh tế đang phát
triển và nền kinh tế chuyển đổi đối với hoạt động FDI được tăng lên. Từ chỗ có dòng đầu
tư ra FDI không đáng kể và rất nhỏ bé ở những năm 80, đến nay dòng ra FDI ở các nền
kinh tế này đạt 133 tỷ USD (năm 2005), tương đương khoảng 17% tổng dòng FDI đầu tư
ra nước ngoài của thế giới [58].
Xu hướng năm 2005 cũng cho thấy, hình thức M & As được thúc đẩy mạnh mẽ bởi

phố. Đối với một số ngành trọng điểm, FDI còn có vai trò là nguồn vốn quyết định đến
quy mô và tốc độ phát triển ngành.
FDI còn góp phần tăng trưởng kinh tế, là bộ phận đóng góp chủ yếu cho ngân sách
thành phố, góp phần đáng kể giải quyết việc làm, người lao động làm việc trong các doanh
nghiệp FDI có thu nhập bình quân tương đối cao và ổn định.
FDI còn có vai trò làm cho nền kinh tế thành phố thâm nhập vào thị trường quốc tế,
các doanh nghiệp địa phương buộc phải thích ứng để tồn tại và phát triển, đồng thời phải
có các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên tất cả các mặt liên quan đến
sản xuất kinh doanh, như vậy làm cho kinh tế thành phố nói chung năng động hơn, có sức
cạnh tranh tốt hơn.
Các doanh nghiệp có vốn FDI góp phần nâng cao trình độ và tạo điều kiện cho
người lao động tiếp cận với công nghệ, kỹ thuật cao. Đến nay, các dự án FDI trên địa bàn
thành phố giải quyết việc làm cho gần 25.000 lao động trực tiếp và hàng chục ngàn lao
động thời vụ khác.
Cơ cấu vốn FDI phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố từ nay
đến năm 2010 là công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp theo đúng quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội của thành phố. Mặt khác, FDI còn góp phần vào việc khai thác và sử
dụng các nguồn tài nguyên của thành phố một cách hiệu quả.

1.2. NHU CẦU THU HÚT VỐN VÀ SỰ CẦN THIẾT ĐẨY MẠNH ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở ĐÀ NẴNG
1.2.1. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng từ 2006 đến 2010
1.2.1.1. Điều kiện, vị trí của Đà Nẵng Đà Nẵng là thành phố được phát triển mạnh từ thời Pháp thuộc, trở thành đơn vị
hành chính trực thuộc Trung ương từ 1/1/1997. Đà Nẵng có diện tích tự nhiên 1.256,4 km
2
,
dân số năm 2005 là 779.017 người. Đà Nẵng hiện nay có 6 quận và 2 huyện (huyện Hoà

sẽ phát huy vai trò là đô thị trung tâm của miền Trung, đầu mối giao thông quan
trọng và cửa ngõ chính ra biển của các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và hành
lang Đông – Tây; cùng với Khu kinh tế mở Chu Lai, Khu kinh tế Dung Quất,
đóng vai trò động lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung; là địa bàn
có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng – an ninh của khu vực và cả nước.
Trong cơ cấu kinh tế của Đà Nẵng vào năm 2020, ngành dịch vụ sẽ chiếm tỷ
trọng trên 60% GDP. GDP bình quân đầu người đến năm 2020 phấn đấu đạt
mức 5000USD/người. Đà Nẵng phấn đấu để trở thành thành phố công nghiệp
vào năm 2015 [40, tr.53-54].
a. Mục tiêu chung
Nghị quyết 33 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong
thời kỳ CNH, HĐH nêu rõ mục tiêu chung về phát triển thành phố:
Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cả
nước, là trung tâm kinh tế - xã hội lớn của miền Trung với vai trò là trung tâm
công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ; là thành phố cảng biển, đầu mối
giao thông quan trọng về trung chuyển vận tải trong nước và quốc tế; trung tâm
bưu chính - viễn thông và tài chính - ngân hàng; một trong những trung tâm văn
hoá - thể thao, giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ của miền Trung; là địa
bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh của khu vực miền
Trung và cả nước [16, tr.332].
b. Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu giai đoạn 2006 - 2010
Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIX đề ra một số chỉ tiêu chủ yếu sau [40]:
- Nhịp độ tăng GDP trung bình: 14% - 15%.
- GDP bình quân đầu người đến năm 2010 đạt: 2.000 USD.
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp: 22% - 23%.
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất các ngành dịch vụ: 14% - 15%. - Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp: 5% - 6%.
- Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân: 23% - 24% /năm.

- Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển; nâng
cao trình độ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, tham mưu chính sách, đội ngũ cán bộ quản lý
doanh nghiệp và công nhân kỹ thuật; có chính sách phát triển, sử dụng nhân tài. Coi trọng
ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới. Phát huy truyền thống văn hoá, dũng
cảm, cần cù của nhân dân Đà Nẵng và hoà nhập với các thành phố lớn trong nước và khu
vực.
- Phát triển kinh tế - xã hội bền vững gắn kết với nhiệm vụ bảo vệ quốc phòng, giữ
vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
1.2.2. Nhu cầu vốn đầu tư phát triển của Đà Nẵng và nhu cầu vốn đầu tư trực
tiếp nuớc ngoài
1.2.2.1. Tổng vốn đầu tư phát triển cần thiết cho giai đoạn 2006 - 2010
Báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của UBND thành phố trình bày tại Đại
hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIX nêu rõ: Để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện thắng
lợi các nhiệm vụ, mục tiêu đã đề ra, thành phố Đà Nẵng cần phải có một nguồn vốn đầu tư
rất lớn. Để đạt mức tăng trưởng GDP bình quân 14% - 15%/năm cần huy động tổng vốn
đầu tư toàn xã hội khoảng 63.200 tỷ đồng, bình quân tăng 15,8%/năm (hệ số suất đầu tư
ICOR dự kiến là 3,86 lần). Trong đó, nhu cầu vốn đầu tư thời kỳ 2006 - 2010 cho ngành
nông nghiệp là 1.303,8 tỷ đồng; ngành công nghiệp, xây dựng là 19.018,9 tỷ đồng và
ngành dịch vụ là 42.877,3 tỷ đồng [49].
So sánh với thời kỳ 2001 - 2005, dự kiến tổng vốn đầu tư phát triển thời kỳ 2006 -
2010 gấp 2,6 lần; trong đó vốn đầu tư phát triển ngành dịch vụ là lớn nhất (bảng 1.1).
Bảng 1.1. Cơ cấu vốn đầu tư phát triển của Đà Nẵng thời kỳ 2001 - 2005
và nhu cầu thời kỳ 2006 - 2010
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2001 - 2005 2006 - 2010
Tổng số 23.912,0 63.200,0 Nông nghiệp 493,3 1.303,8
Công nghiệp 7.195,9 19.018,9

các điều ước quốc tế có liên quan đến FDI, bao gồm các cam kết thực hiện điều ước quốc
tế, các hiệp định song phương, các cam kết về đầu tư đa phương. Nước ta đã tham gia một
số hiệp định đầu tư đa phương như: Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN, chương
trình hành động về xúc tiến đầu tư trong khuôn khổ diễn đàn hợp tác Á-Âu - ASEAN và
nhất là các qui định của WTO có liên quan đến đầu tư khi nước ta đã trở thành thành viên
chính thức của tổ chức này. Đến nay, khi nước ta trở thành viên chính thức của WTO, các cam
kết gia nhập WTO, trong đó có các cam kết về đầu tư, đang được thực hiện theo lộ trình đã
cam kết.
Đảng ta luôn có nhận thức đúng đắn về vai trò, vị thế của thành phần kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài. Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước luôn nhất quán. Ngày 29
tháng 12 năm 1987, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua Luật Khuyến
khích đầu tư nước ngoài. Vào thời điểm đó, Luật này được dư luận quốc tế đánh giá là một
luật đầu tư thông thoáng nhất trong khu vực [20, tr.186].
Điều 1 của Luật này qui định:
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoan nghênh và khuyến
khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn và kỹ thuật vào Việt Nam trên
cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam, tuân thủ pháp luật của Việt
Nam, bình đẳng và các bên cùng có lợi. Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền sở
hữu đối với vốn đầu tư và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước
ngoài, tạo những điều kiện thuận lợi và qui định các thủ tục dễ dàng cho tổ chức,
cá nhân đó đầu tư vào Việt Nam [27].
Hơn nữa, hoạt động FDI còn được đưa vào Hiến pháp của nước ta. Điều 25 của Hiến
pháp hiện hành qui định:
Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công
nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc
tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác

Trích đoạn Kinh nghiệm của Vĩnh Phúc Bài học kinh nghiệm rút ra đối với Đà Nẵng THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1 Tình hình dự án đăng ký Tình hình triển khai thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoà Động thái về số lượng dự án
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status