Luận văn: Thực trạng và một số kiến nghị về giải pháp nhằm nâng cao tính bắt buộc trong nghiệp vụ BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phần bảo hiểm PJICO - Pdf 15



Luận văn
Thực trạng và một số kiến
nghị về giải pháp nhằm
nâng cao tính bắt buộc
trong nghiệp vụ BHTNDS
của chủ xe cơ giới đối với
người thứ ba tại công ty cổ
phần bảo hiểm
PJICO
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển ngày càng cao của khoa học kỹ thuật, phương
tiện sử dụng trong ngành giao thông vận tải cũng được cải tiến đến chóng
mặt cả về số lượng lẫn chất lượng. Hàng năm có hàng nghìn phương tiện
hoạt động được điều khiển từ con người thu: xe đạp, xe máy, ôtô
Song sóng với sự tiến bộ này là tình hình giao thông đường bộ ngày
càng phức tạp, tai nạn giao thông ngày càng nhiều gây thiệt hại lớn về tài
sản tính mạng cho con người cũng như cho toàn xã hội.
Để giảm bớt những thiệt hại đó nnhằm đảm bảo an toàn cho xã hội
đồng thời bảo vệ lợi ích hoạt động kinh doanh, công ty cổ phần bảo hiểm
Petrolimexx gọi tắt PJICO đã triển khai loại hình “bảo hiểm trách nhiệm dân

hạn. Em rất mong được sự góp ý chân thành của thầy cô giúp em hoàn thiện
tốt hơn cho đề tài này.

CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BHTNDS CỦA
CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA.

I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TRIỂN KHAI BHTNDS CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI
VỚI NGƯỜI THỨ BA.
1. Đặc điểm hoạt động của xe cơ giới trong giao thông đường bộ.
Trong nhịp độ phát triển không ngừng về kinh tế thì giao thông đóng
vai trò quan trọng trong mọi sự phát triển, là huyết mạch, là một ngành kinh
tế kỹ thuật có vị then chốt. Giao thông ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp
đến các ngành kinh tế, kỹ thuật, an ninh, quốc phòng
a. Tình hình phát triển pưhơng tiện cơ giới.
Những năm gần đây, giao thông nước ta có sự phát triển vượt bậc với
các hình thức vận chuyển ngày càng phong phú, từ vận chuyển bằng phương
tiện thô sơ đến vận chuyển bằng phương tiện vận tải cơ giới. Do sự phát
triển của cơ chế thị trường, hàng loại xe cơ giới các loại được tham gia lưu
hành trong giao thông. Có thể nhận xét sự gia tăng phương tiện cơ giới
đường bộ của Việt Nam trong 10 năm qua ở những nét cơ bản sau:
- Phương tiện tăng tương đối nhanh đặc biệt là ô tô từ năm 1990 đến
năm 2000 bình quân hàng năm phương tiện cơ giới đường bộ tăng 17,8%
trong đó ô tô tăng 7,6%, xe máy là xấp xỉ 19,5. Năm 2000 so với 1990
phương tiện cơ giới đường bộ tăng 4,5 lần; ôtô tăng 2,14 lần; xe máy tăng
4,63 lần trong đó năm 1993 phương tiện tăng cao nhất. Từ năm 1998 đến
nay tỷ lệ này giảm khoảng 7%.
- Tuy nhiên năm gần đây mức tăng pưhơng tiện cơ giới đường bộ khá
cao nhưng mức cơ giới hoá của Việt Nam vẫn còn thấp so với các nước
trong khu vực.

- Từ năm 1992 - 19996 từ khi có nghị định 36/CP Chính phủ có
nhiều biện pháp tăng cường đảm bảo an toàn giao thông thì bình quân gia
tăng tai nạn giao thông năm nay so với năm trước như sau: 7,97% về số vụ;
5,53% số người chết; 9,5% về số người bị thương. Năm 1999 tỉ lệ số người
bị thương chết vì tai nạn giao thông tăng nhanh và 8 tháng đầu năm 2.000 tỉ
lệ này vẫn tiếp tục gia tăng có tới 15.370 vụ tai nạn giao thông làm 5.274
người chết, 16.19 người bị thương.
Tám tháng đầu năm 2.000 có xảy ra 47 vụ tai nạn ôtô chở khác làm
chết 12 người, bị thương 479 người ví dụ ở Thanh Chương Nghệ An trên
quốc lộ 46 làm chết 17 người, vụ Khánh Hoà làm chết 12 người Trong đó
cả năm 1999 xảy ra 52 vụ tai nạn ôtô hành khách làm chết 146 người, bị
thương 474 người.
Như vậy tai nạn ôtô hành khách đang trở thành một vấn đề cần quan
tam đặc biệt, nhữgn vụ tai nạn này không chỉ làm chết người mà cònlàm cho
mọi người dân thực sự lo ngại.
2. Sự cần thiết khách quan phải triển khai BHTNDS của chủ xe
cơ giới đối với người thứ ba.
Lịch sử phát triển bao đời nay đã cho thấy những rủi ỏ bất ngờ luôn
xảy ra ngoài ý muốn của con người. Mà tính mạng con người là vô giá
không thể tính toán bằng tiền cụ thể, cũng khó có thể đánh giá được thiệt hại
về sức khoẻ một cách chính xác.
Trong công cuộc phát triển về giao thông vận tải đã đem lại sự phồn
vinh cho toàn xã hội nhưng nó lại cũng chính là nguyên nhân gây ra tai nạn,
làm thiệt hại đến tính mạng sức khoẻ, tinh thần, tài sản của con người và của
toàn xã hội, gây nên khó khăn về kinh tế, tình cảm cho người bị nạn.
Như vậy tai nạn giao thông là mối đe doạ từng ngày từng giờ đối với
các chủ phương tiện, mặc dù nhà nước đã có nhiều biện páhp ngăn ngừa,
hạn chế tai nạn một cách tích cực song vẫn không thể tránh khỏi. Khi tai nạn
xảy ra thì việc giải quyết hậu quả thường phức tạp, kéo dài, cho dù nhà nước
có quy định rõ chủ phương tiện phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về

chủ xe.
- Góp phần xoa dịu, làm giảm bớt căng thẳng giữa chủ xe và người bị
nạn. Đây là mục đích cao cả trong nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ xe
đối với người thứ ba.
b. Đối với người thứ ba.
- Thay mặt người thứ ba bảo vệ quyền lợi chính đáng cho họ. Vì khi
chủ xe gây tai nạn thì công ty thay mặt của xe bồi thường những thiệt hại
cho nạn nhân một cách nhanh chóng, kịp thơì mà không phụ thuộc vào tài
chính của xe.
- BHTNDS cũng giúp cho người thứ ba ổn định về mặt tài chính và về
mặt tinh thần, trành gẩya căng thẳng hay sự cố bất thường từ phía của nhà
người bị hại (trong trường hợp người thứ ba bị chết).
c. Đối với xã hội.
- Từ công tác giám định cũng như công tác bồi thường sau mỗi một
vụ tai nạn, công ty bảo hiểm sẽ thống kê được các rủi ro và nguyên nhân gây
ra rủi ro để từ đó đề ra biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất một cách hiệu
quả nhất, giảm bớt những đáng kể do hậu quả tai nạn giao thông gây ra cho
mỗi người, giảm bớt thiệt hại cho toàn xã hội. Đây là một hoạt động thể hiện
phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh.
- BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba còn làm giảm nhẹ
gánh nặng cho ngân sách nhà nước, đồng thời làm tăng thu cho ngân sách
cho nhà nước. Việc đóng phí sẽ là nguồn chủ yếu để chi trả bồi thường cho
người thứ ba.
Đây là mục đích chủ yếu của nghiệp và của nhà nước Việt Nam, nó
thể hiện vai trò trung gian hoà giải có tính chất pháp lý của công ty bảo
hiểm.
Với tư cách là một nghiệp vụ bảo hiểm, BHTNDS của chủ xe cơ giới
đối với người thứ ba vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội, thể hiện
tiníh nhân đạo, nhân văn cao cả trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Một
lần nữa BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba lại khẳng định sự

của xe cơ giới mà không hoàn toàn do lỗi của chủ xe. Ví dụ ôtô đang chạy
với tốc độ lớn trên đường thì bị làm văng lốp xe ra ngoài làm bắn vào người
đi đường gây tai nạn chết người. Trong trường hợp này trách nhiệm dân sự
có thể phát sinh nếu có đủ 3 điều kiện đầu tiên.
Trong BHTNDS chủ xe cơ giới đối với người thứ ba, khi xảy ra tai
nạn thiệt hại cho người thứ ba thì người được bảo hiểm bồi thường là chủ xe
hoặc người đi diện chi chủ xe được pháp luật công nhận.
Người thứ ba của BHTNDS chủ xe cơ giới có thể là người đi bộ hay
đi xe đạp hoặc các phương tiện cơ giới khác nhưng không bao gồm những
trường hợp sau đây:
- Thiệt hại xảy ra do bản thân phương tiện được bảo hiểm.
- Thiệt hại về tính mạng sức khoẻ xảy ra do bản thân người được bảo
hiểm, người điều khiển xe hay bất kỳ người nào khác đi trên cư.
- Thiệt hại mà phương tiện gây ra cho những người mà chủ xe có
nghĩa vụ nuôi dưỡng.
- Thiệt hại do hai xe cùng chủ đâm va.
- Trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự của lái xe.
- Các khoản phạt mà lái xe hoặc chủ xe phải chịu.
2. Phạm vi bảo hiểm.
a. Các rủi ro được bảo hiểm.
Người bảo hiểm nhận bảo hiểm cho các rủi ro bất ngờ không lường
trước được gây ra tai nạn và làm phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe.
Công ty bảo hiểm bồi thường những thiệt hại về vật chất, về người, về tài
sản được tính toán theo những nguyên tắc nhất định. Theo mục 3 điều 11
chương II thì công ty bảo hiểm còn phải thanh toán cho chủ xe những chi
phí mà họ đã chi ra nhằm phòng ngừa hạn chế thiệt hại. Những chi phí này
chỉ được bồi thường khi nó phát sinh sau khi tai nạn xảy ra và được coi là
chi phí cần thiết và hợp lý.
Trách nhiệm bồi thường của công ty boả hiểm được hạn mức trong
mức trách nhiệm ghi trong hợp đồng hay giấy chứng nhận bảo hiểm. Như

- Lái xe sử dụng không được sự đồng ý của chủ xe.
- Xe được sử dụng để chuyên chở chất cháy, chất nổ trái phép.
- Xe trở quá trọng tải hoặc quá số khách quy định.
- Xe có hệ thống lái ben phải.
- Xe sử dụng để tập lái hoặc đua thể thao.
- Xe đang sửa chữa hay đang trong thời gian chạy thử sau khi sửa
chữa.
- Xe không đủ điều kiện kỹ thuật và thiết bị an toàn để lưu hành.
- Đồ vật trở trên xe rơi xuống đường gây thiệt hại cho người thứ ba.
- Thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp, bị cướp trong tai nạn.
- Thiệt hại đối với người không phải là người thứ ba như đã nêu ở
phần đối tượng bảo hiểm.
- Thiệt hại gián tiếp do xe bị tai nạn làm ngưng trệ hoạt động sản xuất
kinh doanh, giảm giá thương mại.
- Chiến tranh và các nguyên nhân tương tự khác chiến tranh.
- Tai nạn xảy ra ngoài phạm vi lãnh thổ nước sở tại tham gia bảo hiểm
(trừ một số trường hợp có thoả thuận từ trước)
- Lái xe gây tai nạn bỏ trốn.
Ngoài ra người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với tài sản đặc
biệt như: vàng, bạc, đá, quý, tiền đồ cổ, tranh ảnh quý, thi hài, hài cốt
Sở dĩ các công ty bảo hiểm phải đưa ra các điều khoản loại trừ như
vậy là để tránh tình trạng nhưngx lái xe ẩu, vô trách nhiệm coi thường páp
luật đặc biệt là giao thông của các chủ xe và lái xe. Hơn nữa các công ty
bảo hiểm còn tránh tình trạng trục lợi bảo hiểm, làm như vậy thì bảo hiểm
mới có tác dụng theo đúng nguyên tắc “chỉ bảo hiểm cho những rủi ro ngẫu
nhiên”.
3. Phí bảo hiểm.
a. Phí bảo hiểm.
Phí bảo hiểm là một khoản tiền mà chủ xe phải nộp cho nhà bảo hiểm
để thành lập nên một quỹ tiền tệ tập trung đủ lớn để bồi thường thiệt hại xảy

n - số năm thống kê thường từ 3 -5 năm i = (1,n)
Như vậy thực chất là số tiền bồi thường bình quân trong thời kỳ n
năm cho mỗi đầu phương tiện tham gia bảo hiểm trong thời kỳ đó.
Ở Việt Nam thì phụ phí thường từ 20% - 30% phí cơ bản.
d = Error!
Đây là cách tính bảo hiểm cho các phương tiện giao thông thông dụng
trên cơ sở quy luật số đông. Đối với các phương tiện không thông dụng,
mức độ rủi ro lớn hơn như kéo rơmooc, xe chở hàng nặng thì tính thêm tỷ
lệ phụ phí so với mức phí cơ bản.
Đối với các phương tiện hoạt động ngắn (dưới 1 năm) thời gian tham
gia bảo hiểm được tính tròn tháng và phí bảo hiểm được xác định như sau:
Pngắn hạn = Error!
Trường hợp đã tham gia đóng phí cả năm nhưng vào một thời điểm
nào đó xe không hoạt động nữa hoặc chuyển quyền sở hữu cho người khác
mà không chuyển bảo hiểm thì chủ phương tiện sẽ được hoàn trả lại phí bảo
hiểm tương ứng với số thời gian còn lại của năm (làm trong tháng) với điều
kiện như sau:
Phoàn lại = Error!
Nộp phí bảo hiểm là trách nhiệm của chủ phương tiện, tuỳ theo số
lượng phương tiện, người bảo hiểm sẽ quy định thời gian, số lần nộp mức
phí tương ứng có xét giảm phí theo tỷ lệ tổn thất và giảm phí theo số lượng
phương tiện tham gia bảo hiểm (tối đa thường giảm 20%). Nếu không thực
hiện đúng quy định sẽ bị phạt ví dụ như:
- Chậm từ 1 ngày đến 2 tháng phải nộp thêm 100% mức phí cơ bản.
- Chậm từ 2 tháng 4 tháng phải nộp thêm 200% mức phí cơ bản.
- Chậm từ 4 tháng trở lên nộp thêm 300% phí cơ bản.
- Hoặc huỷ hợp đồng bảo hiểm.
c. Các yếu tố làm tăng phí.
Phí bảo hiểm là một khoản tiền mà chủ xe cơ giới phải đóng cho nhà
bảo hiểm khi tham gia bảo hiểm và phí bảo hiểm được tính theo đầu phương

đầu ).
+ Không được di chuyển tháo dỡ hoặc sửa chữa tài sản khi chưa có ý
kiến của doanh nghiệp bảo hiểm, trừ trường hợp làm như vậy là cần thiết để
đảm bảo an toàn coh người và tài sản hoặc phải thi hành theo yêu cầu của cơ
quan có thẩm quyền.
- Thứ ba: Bảo lưu quyền khiếu nại và chuyển quyền đòi bồi thường
cho doanh nghiệp bảo hiểm trong phạm vi số tiền đã bồi thường kèm theo
toàn bộ chứng từ có cần thiế liên quan tới trách nhiệm của người thứ ba.
- Thứ tư: Chủ xe cơ giới phỉa trung thực trong việc thu thập và cung
cấp các tài liệu, chứng từ và hồ sơ yêu cầu bồi thường và tạo điều kiện
thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trinìh xác minh tính chân
thực của các tài liệu chứng từ đó.
- Thứ năm: Trong trường hợp thay đổi mục đích sử dụng xe, chủ xe
cơ giới phải thông báo ngay cho doanh nghiệp bảo hiểm biết được điều
chỉnh lại tỷ lệ phí cho phù hợp.
Nếu chủ xe cơ giới không thực hiện đầy đủ các trách nhiệm quy định
trên thì doanh nghiệp bảo hiểm có thể từ chối một phần hoặc toàn bộ số tiền
tèn tương ứng với thiệt hại do lỗi của chủ xe cơ giới gây ra.
* Quyền lợi của chủ xe.
- Có quyền yêu cầu công ty bảo hiểm bổ sung hay sửa đổi hợp đồng,
đề xuất công ty mở rộng phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
- Khi tai nạn xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm, chủ xe được công ty bảo
hiểm bồi thường tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại thực tế và mức độ lỗi của
chủ xe.
- Chủ xe có quyền yêu cầu đòi bồi thường trong vòng 6 tháng kể từ
ngày xảy ra tai nạn trừ trường họp do nguyên nhân khách quan hay bất khả
kháng theo quy định của pháp luật.
- Chủ xe có quyền khiếu nại nhà bảo hiểm trong trường hợp bồi
thường không thoả đáng hay không bồi thường mà không rõ lý do.
Thời hạn thanh toán của công ty bảo hiểm là 15 ngày kể từ khi nhận

hoạt động đầu tư).
- Nhà bảo hiểm có quyền giám sát thực hiện đề phòng, ngăn ngừa tai
nạn chủ xe hoặc các bên có liên quan trong việc tục lơi bảo hiểm (lập hồ sơ
giả, khai báo không trung thực ).
5. Công tác giám định và giải quyết bồi thường.
a. Thiệt hại của ben thứ ba: theo quy định của pháp luật việc xác định
mức độ thiệt hại về tài sản, tính mạgn và sức khoẻ của con người trong tai
nạn xe cơ giới căn cứ vào nguyên tắc và cách thức xác định trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
* Đối với thiệt hại về tài sản.
- Trường hợp thứ nhất: tài sản bị mất, bị hư hỏng hạc bị huỷ hoại mà
không thể sửa chữa đườc. Trong trường hợp này thiệt hại về tài sản được
xác định bằng giá mua của tài sản cùng loại tương đương trên thị trường tự
do hoặc chi phí hợp lý để làm lại tài sản đó.,
- Trường hợp thứ hai: tài sản bị hư hỏng có thể sửa chữa được, thiệt
hại ở đây là chi phí thực tế hợp lý để sửa chữa tài sản đó, đưa nó về trạng
thái trước khi bị hỏng. Nếu trong quá trình sửa chữa tài sản đó, phải thay
mới một hoặc nhiều bộ phận thì phải trừ đi giá trị hao mòn của bộ phận
được thay thế. Thiệt hại về tài sản không tính đến những thiệt hại vê những
hư hỏng phát sinh trong quá trình sửa chữa mà không liên quan gì đến tai
nạn.
Tuy nhiên trong cả hai trường hợp trên thiệt hại còn phải tính đến lợi
ích của người thứ ba gắn liền với việc sử dụng , khai thác tài sản cùng với
những chi phí hợp lý để ngăn ngừa và khắc phục thiệt hại.
* Đối với thiệt hại về người.
- Trong trường hợp bị thương:
+ Các chi phí hựp lý cho công việc ứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sứcd
khoẻ và chức năng bị mất hoặc giảm sút như: chi phí cấp cứu, tiền hao phí
vật chất và của chi phí y tế khác (thuốc men, dịch truyền, chi phí chiếu chụp
X quang).

Trong trường hợp chủ xe còn có một bên thứ khác cùng có lỗi gây ra
tai nạn đó:
Số tiền bồi thường = (lỗi của chủ xe + lỗi của chủ xe khác) x thiệt hại
của bên thứ ba.
Việc bồi thường được tính theo thực tế thiệt hại bao nhiêu thì bồi
thường bấy nhiêu, nhưng số tiền bồi thường tối đa không vượt quá số tiền
bảo hiểm đã ghi trên giấy chứng nhận bảo hiểm.
- Nếu hai cùng một chủ đâm và nhau và hai xe đều bị thiệt hại đồng
thời gây thiệt hại cho người đi đường thì phần thiệt hại của hai xe không
phát sinh trách nhiệm bồi thường của bảo hiểm. Nhưng phần thiệt hại của
người đi đường lại phát sinh trách nhiệm dân sự do đó bảo hiểm sẽ bồi
thường theo thiệt hại thực tế.
- Nếu hai hay nhiều xe cùng gây thiệt hại cho một hoặc một số người
thì các công ty bảo hiểm phải liên đới bồi thường cho nạn nhân theo mức độ
lỗi của họ gây ra.
Trách nhiệm bồi thường của mỗi bên = thiệt hại của nạn nhân x mức
độ lỗi của từng bên.
Trường hợp tai nạn xảy ra hoàn toàn do chất liệu, kết cấu, khuyết tật
của chủ xe hoặc lái xe gây ra vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ
thiệt hại cho dù họ không có lỗi.
c. Giải quyết bồi thường của công ty bảo hiểm.
* Tiếp nhận và hoàn chỉnh hồ sơ.
Khi xảy ra tai nạn thuộc trách nhiệm bồi thường của công ty, nhà bảo
hiểm phải hướng dẫn và giúp chủ xe hoàn chỉnh hồ sơ đòi bồi thường, đồng
thời chủ xe phải cung cấp cho nhà bảo hiểm giấy tờ liên quan đến vụ tai nạn.
Thông thường một bộ hồ sơ đòi bồi thường như sau:
- Tờ khai tai nạn của chủ xe.
- Giấy yêu cầu đòi bồi thường.
- Biên bản khám nghiệm xe.
- Bản kết luận điều tra tai nạn (nếu có).

bảo hiểm như:
+ Lái xe không có bằng lái hợp lệ.
+ Xe chở quá trọng tải hoặc sóo hành khách quy định
Nói chung, trách nhiệm của các công ty bảo hiểm là giúp đỡ các đơn
vị, chủ xe có tai nạn xảy ra, động viên thường xuyên có khen thưởng xứng
đáng đối với những đơn vị thực hiện tốt công tác phòng ngừa, hạn chế tổn
thất. Đồng thời công ty bảo hiểm là người đảm bảo thanh toán, bồi thường
chính xác đầy đủ, kịp thời. Bảo hiểm luôn phối hợp cùng với các cơ quan
chức năng thực hiện tuyên truyền giác ngộ người tham gia bảo hiểm cũng
như việc chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ giao thông, thực hiện.

CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BHTNDS CỦA CHỦ XE CƠ
GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO
HIỂM PETROLIMEX-PJICO GIAI ĐOẠN 1996-2000

I. VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PJICO
Thực hiện Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 của Chính phủ về kinh
doanh bảo hiểm, ngày 15/6/1995 Công ty cổ phần bảo hiểm PJICO, sự hội
tụ của 7 thành viên sáng lập gồm:
+ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
+ Tổng Công ty Xăng Dầu Việt Nam
+ Công ty Tái Bảo hiểm Quốc gia
+ Tổng Công ty Thép Việt Nam
+ Công ty Vật tư và thiết bị toàn bộ
+ Công ty Điện Tử Hà Nội
+ Công ty TNHH Thiết Bị An Toàn
Đã chính thức ra đời và tham gia thị trường bảo hiểm.
Công ty cổ phần bảo hiểm PJICO ra đời trong nền kinh tế thị trường
phát triển, PJICO trở thành mẫu hình trong việc thực hiện chủ trương cổ

hoà nhập với thị trường chung bảo hiểm Việt Nam. PJICO phá vỡ thế độc
quyền của Bảo Việt, giúp cho khách hàng có sự lựa chọn để mua bảo hiểm
theo yêu cầu chính đáng của mình.
II. THỰC TẾ CÔNG TÁC TRIỂN KHAI
Tuy mới được thành lập trên 6 năm nhưng PJICO đã vươn lên đứng
thứ 4 với thị phần nghiệp vụ bảo hiểm PJICO ngày một tăng
+ Bảo Việt chiếm khoảng 53% thị phần bảo hiểm
+ Bảo Minh chiếm khoảng 26% thị phần bảo hiểm

Trích đoạn Nguyên nhân hạn chế Công ty cổ phần bảohiểm bưu điện (PTI) Giải pháp của Công ty bảohiểm thành phố Hồ Chí Minh Giải pháp của The Tokyo Marine and fire insurace Co, Ltd nhằm bắt buộc các chủ phương tiện xe máy Giải pháp của PJICO trong việc thực hiện nghiệp vụ bảohiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status