Báo cáo khoa học : CÁC BIỆN PHÁP LÀM KHÔ CỎ, NÂNG CAO GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỎ KHÔ VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CƠ KHÍ ĐÓNG BÁNH CỎ KHÔ (HỌ ĐẬU) - Pdf 15


ĐỖ VIẾT MINH – Các biện pháp làm khô cỏ

1

CÁC BIỆN PHÁP LÀM KHÔ CỎ, NÂNG CAO GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỎ KHÔ VÀ
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CƠ KHÍ ĐÓNG BÁNH CỎ KHÔ (HỌ ĐẬU).
Đỗ Viết Minh*
1
, Nguyễn Thị Mùi
1
Lê Thị Hồng Thảo
1
, Lê Văn Huyên
1
,
Lại Thị Nhài
1
, Nguyễn Văn Quang
1
và Phạm Văn Thức
2
1
Viện chăn nuôi;
2
Trại thỏ giống Ninh Bình
*Tác giả liên hệ: Đỗ Viết Minh . Phòng khoa học Kế hoạch và Hợp tác Quốc tế,
Viện Chăn nuôi - Thụy Phương - Từ Liêm - Hà Nội
Tel: (04) 38.389.770 / 0912.020.070; Fax: (04) 38.389.775; E-mail:
ABSTRACT
Hay making methods, nutritive value improvement of (graminaceous) hay and mechanical technology

nâng cao giá trị dinh dưỡng cỏ khô (hòa thảo) là cần thiết.
Hơn nữa, TĂ thô xanh (họ đậu và hoà thảo) ở nước ta thường sản xuất theo mùa, dồi dào
trong mùa mưa, nhưng lại khan hiếm trong mùa khô ở miền Nam và mùa đông ở miền Bắc
(Nguyễn Thị Mùi và cs, 2005). Giá thành vận chuyển TĂ ở nước ta rất cao, bởi vì giá
nhiên liệu cao (xăng, dầu, điện ) các vùng có tiềm năng chăn nuôi lại không có tiềm năng
sản xuất (SX) TĂ thô xanh, bởi vậy việc NC đóng bánh, đóng kiện để tăng thời gian bảo

VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 18-Tháng 6-2009 2

quản và hạ giá thành vận chuyển cũng góp phần đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn các
phương pháp bảo quản truyền thống. Nhiều NC trong và nước ngoài đã tiến hành xác định
độ ẩm tối ưu để chế biến cỏ khô là dưới 15%.
Tuy nhiên, để đóng kiện-đóng bánh nhiều NC chỉ ra độ ẩm phù hợp là 18-22% (Jimy và cs,
2007). Chất lượng cỏ khô ảnh hưởng bởi (i) độ ẩm của nguyên liệu khi đóng bánh, thời
điểm thu hoặch cỏ (ii), điều kiện và thời gian bảo quản (iii) và (iv) chủng loại cỏ. Nhiều
NC đã khẳng định cỏ thu hoặch trước lúc ra hoa là tốt để chế biến cỏ khô, tuy nhiên, độ ẩm
ảnh hưởng đến quá trình sinh nhiệt, thời gian bảo quản. Ở Việt Nam cỏ khô thường được
bảo quản bằng phương pháp truyền thống là đánh đống ngoài trời có mái che, hoặc để
trong nhà kho bảo quản vì thế sự hao hụt chất dinh dưỡng do nấm mốc và chất lượng cỏ
thay đổi do điều kiện nóng ẩm là đáng kể. Mặt khác, cỏ thường để rối nên công vận chuyển
lớn và cỏ họ đậu là loại khan hiếm ở Việt Nam, thường phải nhập khẩu với giá thành cao
(Vũ Chí Cương và cs, 2004) như cỏ Alfalfa được nhập về từ Mỹ (giá 300-400 USD/tấn tại
cảng). Bởi vậy, để giảm chi phí vận chuyển, giảm giá thành cỏ họ đậu thì NC đóng bánh-
kiện cỏ khô ở Việt Nam là cần thiết, đặc biệt với điều kiện nóng ẩm ở nước ta.
Mục tiêu đề tài nhằm: Đưa ra được các giải pháp làm khô cỏ (họ đậu, hòa thảo) đảm bảo ít
hao hụt và nâng cao giá trị dinh dưỡng cỏ khô (hòa thảo) làm tăng giá trị dinh dưỡng cỏ
khô, tăng hiệu quả sử dụng TĂ cho gia súc nhai lại, đặc biệt trong mùa khô và mùa đông.

ĐỖ VIẾT MINH – Các biện pháp làm khô cỏ

3

Tham khảo số liệu khí tượng vùng Ninh Bình và vùng đồng bằng sông Hồng của Trung
tâm nghiên cứu Khí tượng thuỷ văn Quốc gia tại Trạm khí tượng thủy văn Láng, Hà Nội,
để theo dõi nhiệt độ và ẩm độ không khí và theo dõi khả năng mất hơi nước sau khi phơi 0,
1, 2, 3 và 4 ngày (0, 24, 48, 72, 96 giờ), hiệu quả làm khô và mức độ hao hụt các chất dinh
dưỡng trong quá trình chế biến theo mùa vụ (mùa mưa và mùa khô).
Mỗi mùa lấy mẫu phân tích theo lứa, thu cắt 2 lần/mùa, mùa mưa thu cắt 2 lần vào (tháng 6
và 8) mùa khô (tháng 10 và 12) và lặp lại 3 lần theo sơ đồ Bảng 1
Bảng 1. Sơ đồ bố trí Thí nghiệm 1
Mùa vụ Mùa mưa Mùa khô
Biện pháp làm khô
Mái
nilông
Mái bạt

Ngoài
trời
Mái
nilông
Mái bạt

Ngoài
trời
Số lượng cỏ 300 300 300 300 300 300
Số lần lặp lại 3 3 3 3 3 3
Số lứa cắt (lứa) 2 2 2 2 2 2
Tổng số cỏ tưoi (kg) 1800 1800 1800 1800 1800 1800

VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 18-Tháng 6-2009 4

kết hợp bổ sung urê với tỷ lệ khác nhau và vôi (CaO), muối. Thí nghiệm này được triển
khai tại Trạm thực nghiệm đồng cỏ và phòng thí nghiệm Viện Chăn nuôi .
Phương pháp tiến hành: Cỏ Ghinê thu cắt tại đồng cỏ Viện Chăn nuôi phơi và chế biến ở
các độ ẩm khác nhau theo phương pháp của Jimy và cs (2006), cỏ phơi thu sau 2 - 3 ngày
dưới ánh nắng mặt trời có lật đảo 4 lần/ngày để đạt ẩm độ khác nhau, sau đó bổ sung hoá
chất và các chất dinh dưỡng theo công thức sau (Bảng 2)
Bảng 2. Công thức thử nghiệm xử lý cỏ khô bằng urê, vôi và muối ăn để bảo quản cỏ khô
ở các độ ẩm khác nhau.
Ẩm độ (%) Ẩm độ <15

Ẩm độ >15
Nguyên liệu UR0 UR1,5 UR2,5 UR0 UR1,5 UR2,5
Urê (%),(UR)CO(NH
2
)
2
0 1,5 2,5 0 1,5 2,5
Vôi bột, (CaO) (%) 0,5 0,5 0,5 0,5 0,5 0,5
Muối ăn (NaCl) (%) 0,5 0,5 0,5 0,5 0,5 0,5
Với Urê ở các mức khác nhau là 0, 1,5 và 2,5% được thử nghiệm trước đó ở quy mô nhỏ
với các công thức urê khác nhau, tiếp cận phương pháp đó và sử dụng mức urê cao hơn với
mục tiêu nâng tỷ lệ protein thô của cỏ khô. Tiếp cận phương pháp chế biến rơm bằng urê
và vôi của Bùi Văn Chính và cs (1995).
Theo dõi cảm quan nấm mốc (có và không có urê) theo các thời gian khác nhau (0, 30,
60,90 và 180 ngày). Đánh giá giá trị dinh dưỡng cỏ khô sau khi chế biến. Đóng bánh-kiện


hơn so với mùa khô (tháng 10 và 12) năm 2007, khi thí nghiệm được tiến hành, nhiệt độ trung
bình là 30,5
o
C và ẩm độ là 77% trong mùa mưa và tương ứng là 21,1
o
C và ẩm độ 71% trong
mùa khô. Kết quả thu hồi vật chất khô cỏ họ stylo bằng các phương pháp và mùa vụ khác
khác nhau thể hiện ở Bảng 3.
Bảng 3. Ảnh hưởng của phương pháp làm khô và mùa vụ đến thu hồi vật chất khô
cỏ họ đậu stylo
Mùa vụ

Mùa mưa (hè) Mùa khô (đông) SEM
P/pháp làm
khô
Mái
nilông
Mái bạt

Ngoài
trời

Mái
nilông

Mái bạt

Ngoài
trời

VCK 72 giờ 86,70
a
75,98
b
92,40
c
64,28
ab
44,27
bc
71,14
cd
0,64 *
VCK 96 giờ 92,10
a
87,50
b
92,80
a

71,13
ab

55,17
bc
85,13
b
0,51 *

a, b, c,,d

87,50
a
86,17
a
83,56
b
0.68 **
Protêin thô(%) 16,71
a
16,03
a
15,23
b
16,26
a
16,05
a
15,64
b
0,27 *
Đường (%) 6,71
a
6,41
a
4,76
c
5,75
b
5,30
b

*
ADF (%) 39,90
a
47,89
b
48,27
b
39,70
a
44,14
b
46,15
b
1,18 *
Mỡ (%) 1,26
a
1,01
b
0,96
b
1,06
b
0.99
b
0.94
b
0,05 **
Khoáng TS(%) 6,02 6,77 6,57 6,06 6,01 6,04 0,25 *
Ca (%) 1,80 1,90 1,88 1,67 1,89 1,87 0,15 *
P (%) 0,51

nấm mốc (theo dõi cảm quan trên phòng thí nghiệm)
Ẩm độ (%) Ẩm độ < 15% Ẩm độ >15%
Urê UR0 UR1,5 UR2,5 UR0 UR1,5 UR2,5
TG bảo quản (ngày) - - - - - -
0 0 0 0 0 0 0
30 0 0 0 0 0 0
60 0 0 0 có 0 0
90 Có 0 0 có 0 0
180 ngày Có 0 0 có 0 0
Bảng 5 là kết quả bước đầu về phương pháp bảo quản cỏ khô bằng sử dụng bổ sung urê kết
hợp vôi bột (CaO) và muối ăn. Kết quả nấm mốc ít phát triển ở mức bổ sung urê là 1,5%
và an toàn ở mức 2,5%, kể cả sau thời gian bảo quản 6 tháng, ở độ ẩm cao >15% (sau 2
ngày phơi). Nếu độ ẩm thấp (<15%) và không bổ sung urê, cỏ vẫn có thể mốc sau 6 tháng
ở điều kiện nóng ẩm ở Việt Nam.
Kết quả còn cho thấy, hàm lượng protêin thô, khoáng tổng số và can xi (Ca) tăng rõ rệt khi
bổ sung urê và khoáng hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của Bùi Văn Chính và cs, (1995)
khi chế biến các phụ phẩm nông nghiệp khác như rơm lúa. Tuy nhiên, đã có nhiều nghiên
cứu bổ sung nitơ phi protêin để nâng cao giá trị dinh dưỡng thức ăn giàu xơ. Theo Van
Soest,(1994) khi dùng urê kết hợp vôi (CaO) thì urê có thể phân giải nhanh hơn và tăng sự
phản ứng giữa NH
3
với thức ăn xơ thô. Mặt khác, việc kết hợp này cho phép bổ sung cả ni
tơ phi protein (NPN) và canxi (Ca) cùng một lúc, cũng như tác dụng tăng thời gian bảo
quản và chống mốc (Nguyễn Xuân Trạch, 2003), đồng thời giảm lượng urê khi chế biến
thức ăn xơ thô so với dùng riêng rẽ urê.
Theo Mason và cs, (1985) dùng hoá chất sinh amoniac như urê thì dùng 30-50 kg urê +5kg
vôi bột (CaO) cho 1 tấn cỏ khô, thì có thể nâng cao giá trị dinh dưỡng protêin của 1kg cỏ
khô lên tới 16,5% protein thô/kgVCK tương đương cỏ họ đậu.Theo Bùi Văn Chính và cs,
(1995) dùng ni tơ phi protein (urê) bổ sung cho rơm lúa kết hợp vôi hàm lượng protêin có
thể tăng từ 2-6% protêin thô, hàm lượng khoáng tăng đáng kể, phương pháp này hiệu quả

400 đồng/kg), trọng lượng một kiện từ 5-10kg sẽ chi phí mất 4.000 đồng tiền bao gói. Tuy
nhiên, theo dõi ta thấy làm tăng thời gian bảo quản 6-9 tháng và đảm bảo ít hao hụt dinh
dưỡng do nấm mốc.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Kết luận
Kết quả cho biết, tỷ lệ thu hồi VCK trong mùa hè và phơi ngoài trời không có mái che chỉ cần
48 giờ (2 ngày) đã thu hồi VCK đạt tới 87% và ẩm độ <15%), nhưng mùa khô phải sau 96
giờ, và nếu có mái che nilông thì trong mùa hè phải sau 72 giờ và mái bạt sau 96 giờ mới
được. Hao hụt VCK của cỏ khô họ đậu bảo quản trong mùa mưa là (9%) cao hơn đáng kể so
với mùa khô (3%). Các chất dinh dưỡng cũng hao hụt theo thời gian bảo quản, đặc biệt lượng
đường giảm 29% trong mùa mưa và 12% trong mùa khô, sau 90 ngày bảo quản.
Ăm độ Ẩm độ < 15% Ẩm độ > 15% SEM Sai
Mức urê UR0 UR1,5 UR2,5 UR0 UR1,5 UR2,5 khác
VCK (%) 88,19 86,14 86,84 83,72 84,36 83,76 0,66 NS
Protêin thô(%) 7,53
a
11,76
b
13,01
c
7,30
a
10,54
b
13,14
c
0,20 *
Xơ thô (%) 37,94

39,27

1,61
b
0,78
a
1,84
b
1,60
b
0,12 *
P (%) 0,12 0,15 0,20 0,12 0,22 0,31 0,16 NS

VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 18-Tháng 6-2009 8

Kết quả bước đầu ở phòng thí nghiệm cho biết, với điều kiện nóng ẩm ở nước ta, có thể dung
tỷ lệ urrê là 1,5% và 2,5%, 0,5% vôi bột (CaO) và 0,5% muối để bảo quản cỏ khô trong 6
tháng không có hiện tượng bị mốc. Như vậy, có thể đóng bánh cỏ khô họ đậu bằng máy nén
thủy lực ở ẩm độ 20%, tỷ lệ hao hụt vật chất khô sau 6 tháng bảo quản là 5-7% giảm thể tích
kho chứa 5-6 lần so với bảo quản không đóng bánh.
Đề nghị
Sản phẩm đóng bánh cỏ khô stylo thương mại có thể cho áp dụng vào sản xuất, tuy nhiên giá
thành sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào thiết bị và mùa vụ thu hoạch cỏ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bùi Văn Chính, Lê Viết Ly, Nguyễn Hữu Tào và Đỗ Viết Minh, (1995). Kết quả nghiên cứu chế biến và sử dụng
phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn gia súc. Viện Chăn nuôi 50 năm xây dựng và phát triển. tr. 225-23.
Bùi Đức Lũng, (2005). Dinh dưỡng, sản xuất và chế biến thức ăn cho bò. NXB Lao động - Xã hội, 2005, tr.111-
120.
Buxton D R and Fales S L, (1994). Plant environment and quality in: Forage Quality, Evaluation and Utilization


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status