LUẬN VĂN: Phân tích Thống kê tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty thương mại và dịch vụ vận tải Phú Sơn - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Phân tích Thống kê tình hình hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty thương
mại và dịch vụ vận tải Phú Sơn

LỜI MỞ ĐẦU Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan
liêu, bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi hoạt động của các doanh nghiệp trong tất
cả các ngành kinh tế quốc dân phải có những bước chuyển đổi mạnh mẽ.
Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang bước vào xu thế toàn cầu hoá và cạnh tranh gay
gắt. Nhiều doanh nghiệp nước ta còn nhiều bỡ ngỡ với. Để có thể đứng vững và phát triển
lâu dài là nhiệm vụ được quan tâm hàng đầu của đất nước ta nói chung và tất cả các doanh
nghiệp nói riêng. Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển trong cơ chế thị
trường khắc nghiệt hiện nay thì phải xây dựng có hiệu quả. Do vậy đạt hiệu quả kinh

Kết cấu của bài gồm có:
- Chương 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
DOANH
- Chương 2 : HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG SẢN
XUẤT KINH DOANH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VẬN TẢI.
- Chương 3 : PHÂN TÍCH THỐNG KÊ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY
GIAI ĐOẠN 2000-2006.

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
DOANH
1.1. Những vấn đề chung về hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.1. Khái niệm hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.1.1. Hoạt động sản xuất
Hoạt động sản xuất là dùng các yếu tố đầu vào kết hợp với nguồn lực sản xuất và các
yếu tố tác dụng bên ngoài khác để tạo ra sản phẩm.
Đặc điểm của hoạt động sản xuất:
- Là hoạt động có mục đích cụ thể. Có thể thực hiện được và có thể làm thay thế được.
- Hoạt động sản xuất ở đây gồm hoạt động sản xuất ra những sản phẩm vật chất và
những sản phẩm dịch vụ. Để thoả mãn nhu cầu chung của toàn xã hội nói chung và từng
cá nhân nói riêng.
Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có rất nhiều những sản phẩm đang được tiêu dùng trên thị
trường nhưng lại không được tính vào sản phẩm của hoạt động sản xuất. Sở dĩ là vì những
loại sản phẩm trên thuộc sản phẩm bất hợp pháp, các hoạt động dịch vụ tự sản tự tiêu.
* Hiểu rõ được hoạt động sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng, như:
- Giúp ta phân định được hoạt động nào là hoạt động sản xuất và hoạt độngnào là hoạt
động nào là hoạt động phi sản xuất;
- Xác định được chi phi nào thì được tính vào chi phí sản xuất và chi phí nào được tính
vào chi phí tiêu dùng trung gian, chi phí nào tính vào chi phí tiêu dùng cuối cùng;
- Xác định được kết quả sản xuất sẽ gồm những loại kết quả nào.
1.1.1.2. Hoạt động kinh doanh

cho tích luỹ vốn phát triển sản xuất, phát triển kinh tế khoa học xã hội. Mở rộng giao lưu,
trao đổi hàng hoá tạo ra phân công lao động xã hội. Tạo ra các cơ cấu cân bằng kinh tế xã
hội. Hoạt động tự túc phi kinh doanh luôn tự thoả mãn các nhu cầu bản than người sản
xuất, sản xuất kém phát triển, không có thị trường trao đổi, không cần các thông tin kinh
tế, khoa học kỹ thuật, tôn sung kinh nghiệm.

Hoạt động sản xuất kinh doanh không thể thiếu được trong cuộc sống. Vì nếu thiếu nó
thì cuộc sống con người không thể tiếp tục tồn tại và phát triển được. Với nguồn lực có
hạn, thế giới tự nhiên không thể nào đủ nuôi sống cả nhân loại cùng sự tăng lên nhanh
chóng và không ngừng cả về số lượng và cả về nhu cầu. Ngày nay hoạt động sản xuất kinh
doanh đã gắn bó chặt chẽ với cuộc sống con người, có thể nói là mọi hoạt động sinh hoạt
của con người hiện nay đều cần có những sản phẩm được tạo ra từ hoạt động sản xuất kinh
doanh. Vì vậy hoạt động sản xuất kinh doanh đã trở thành nhu cầu tất yếu và có ý nghĩa
hết sức quan trọng đối với cuộc sống con người.
Hoạt động sản xuất kinh doanh rất quan trọng và có tác dụng rất to lớn đối với nền kinh
tế quốc dân của quốc gia, đặc biệt thúc đẩy quá trình phát triển và hội nhập giữa các vùng,
miền, khu vực, quốc gia. Hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội : sinh hoạt, sản xuất, giải trí … nó phản ánh trình độ phát triển của một đất
nước. Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật kèm theo đó là nhu cầu của con người ngày
một tăng va sự công lao động đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia thì hoạt động sản xuất
kinh doanh là sự cần thiết và đòi hỏi khách quan không thể thiếu trong cuộc sống của con
người.
1.1.2.2. Vai trò của HĐSXKD
Hoạt động sản xuất kinh doanh có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống cũng như
trong xã hội. Hoạt động sản xuất kinh doanh có những vai trò chính sau đây:
- Thứ nhất, hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm tiêu dùng cho xã hội, thoả
mãn nhu cầu của xã hội.
- Thứ hai, giúp nâng cao mức sống dân cư thông qua việc thoả mãn ngày càng tốt hơn
nhu cầu của dân cư.
- Thứ ba, thúc đẩy áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất, thúc

Căn cứ vào đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh ta có :
- Hoạt động sản xuất kinh doanh chuyên nghiệp: là hoạt động kinh doanh về một ngành
hàng, nhóm hàng cụ thể dựa trên cơ sở chuyên môn hoá của phân công xã lao động xã hội.

- Hoạt động sản xuất kinh doanh tổng hợp là những hoạt động tổ chức kinh doanh đa
dạng sản phẩm, đồng thời khép kín tất cả các khâu hoạt động trong kinh doanh đến tiêu thụ
sản phẩm.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh không chuyên là những hoạt động được tổ chức kết
hợp để sản xuất kinh doanh những mặt hàng hay dịch vụ khi có điều kiện hoạt động.
Mỗi hình thức hoạt động sản xuất kinh doanh đều có những mặt lợi và mặt hạn chế.
1.1.3.3. Theo hình thức sở hữu vốn kinh doanh
Theo hình thức sở hữu vốn kinh doanh hoạt động sản xuất kinh doanh được chia thành:
- Hoạt động sản xuất do nhà nước hay chính quyền địa phương cấp vốn. Ở nước ta,
hoạt động này được tổ chức ngay từ những ngày đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Và được
coi là lực lượng chủ đạo của nền kinh tế. Hiện nay thì các loại hình hoạt động sản xuất
kinh doanh đang trong được dần được chuyển hoá do nhà nước ta đang tiến hành cổ phần
hoá dần các công ty nhà nước.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh hỗn hợp do nhà nước và tư nhân cùng góp vốn, dựa
trên cơ sở hai bên cũng có lợi, phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội. Loại hoạt động sản
xuất kinh doanh này khác hoạt động sản xuất kinh doanh theo kiểu công tư hợp danh trước
đây.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh kiểu tư nhân, do cá nhân tự bỏ vốn kinh doanh. Hoạt
động này xuất hiện do nhu cầu đa dạng và cụ thể của tiêu dùng xã hội, đồng thời có thể
huy động mọi nguồn vốn vào sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra ta còn phân hoạt động sản xuất theo nhiều cách khác nữa chẳng hạn: phân
theo quy mô của hoạt động sản xuất kinh doanh (căn cứ vào quy mô vốn kinh doanh), theo
trình độ trang bị kỹ thuật (căn cứ vào vốn kỹ thuật công nghệ) …
1.2. Một số đặc điểm chủ yếu của hoạt động sản xuất kinh doanh thương mại và dịch
vụ vận tải


rủi ro, thiệt hại cho kinh doanh.
1.2.1.3. Vai trò và tác dụng của hoạt động sản xuất kinh doanh thương mại
- Kinh doanh thương mại là lĩnh vực hoạt động chuyên nghiệp trong kinh doanh hàng
hoá, có vị trí trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng, là tiền đề để sản xuất, là hậu cần của
sản xuất, là khâu không thể thiếu được trong quá trình tái sản xuất xã hội, là một dạng của
hoạt động đầu tư, để thực hiện dịch vụ lưu thông hàng hoá trên thị trường nhằm mục đích
sinh lợi.
- Kinh doanh thương mại có tác dụng nhiều mặt đối với lĩnh vực sản xuất vật chất và
lĩnh vực tiêu dùng xã hội, cung ứng vật tư, hàng hoá cần thiết một cách đầy đủ, kịp thời,
đồng bộ về chất lượng một cách thuận lợi với quy mô ngày càng mở rộng.
1.2.2. Hoạt động kinh doanh dịch vụ
1.2.2.1. Khái niệm hoạt động kinh doanh dịch vụ
Kinh doanh dịch vụ là hoạt động cung ứng lao vụ, dịch vụ phục vụ nhu cầu sinh hoạt
và đời sống cho dân cư cũng như những nhu cầu của sản xuất, kinh doanh toàn xã hội.
Hoạt động kinh doanh dịch vụ rất đa dạng, bao gồm các hoạt động kinh doanh bưu
điện, vận tải, du lịch, may đo, sửa chữa, dịch vụ khoa học kỹ thuật, dịch vụ tư vấn, dịch vụ
công cộng, vui chơi, giải trí, chụp ảnh, cho thuê, cắt tóc, giặt là …
1.2.2.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ
- Đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thì hoạt động kinh doanh là chính, còn
đối với các tổ chức kinh tế khác có hoạt động chính là sản xuất, kinh doanh mua bán hàng
hoá… thì hoạt động dịch vụ chỉ mang tính phụ trợ, bổ sung cho hoạt động kinh doanh
chính. Sản phẩm của hoạt động kinh doanh dịch vụ tuyệt đại bộ phận là không mang hình
thái vật chất, quá trình sản xuất, tiêu thụ và phục vụ thường gắn liền nhau, không thể tách
rời. Do đó, khó có thể phân biệt một cách rõ ràng chi phí từng khâu sản xuất và tiêu thụ.
Tuỳ theo từng hoạt động dịch vụ đặc thù để có thể xác định nội dung chi phí phù hợp cấu
thành nên giá thành sản phẩm. Có những loại hình dịch vụ, để hoàn thành được một sản
phẩm phải bỏ ra nhiều loại chi phí khác nhau để quảng cáo như quảng cáo trên phương

tiện thông tin đại chúng, in ấn giấy mời, apphíc … nhưng đôi khi vẫn không hoàn thành
được số sản phẩm như mong muốn, còn kết quả nếu có thì liên quan đến rất nhiều ngành

Vận tải là một ngành sản xuất ra sản phẩm dịch vụ, bao gồm các hoạt động vận tải
hành khách và hàng hoá bằng các loại phương tiện khác nhau như: đường sắt, đường bộ,
đường thuỷ, đường hàng không … và bao gồm cả các hoạt động phụ như bốc dỡ hàng hoá,
hoạt động kho bãi, cho thuê phương tiện vận tải kèm người điều khiển.
Kinh doanh vận tải là ngành sản xuất vật chất đặc biệt, sản phẩm vận tải là quá trình di
chuyển hàng hoá, hành khách từ nơi này đến nơi khác và được đo bằng các chỉ tiêu:
tấn.km. hàng hoá vận chuyển và người.km. hành khách. Chỉ tiêu chung của ngành vận tải
là tấn.km tính đổi.
1.2.3.2. Đặc điểm kinh doanh vận tải
Kinh doanh vận tải là một loại hình kinh doanh đặc biệt, khác với các hoạt động kinh
doanh khác, và có những đặc điểm riêng. Hoạt động kinh doanh vận tải có những đặc điểm
cơ bản sau:
- Thứ nhất, doanh nghiệp vận tải phải quản lý quá trình hoạt động theo nhiều khâu khác
nhau như giao dịch, hợp đồng vận chuyển hàng hoá hoặc vận chuyển hành khách, thanh
toán các hợp đồng, lập kế hoạch điều vận và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch vận
chuyển.
- Thứ hai, kế hoạch tác nghiệp cần phải cụ thể hoá cho từng ngày, tuần, định kỳ
ngắn…, lái xe và phương tiện làm việc chủ yếu ở bên ngoài doanh nghiệp. Do đó, quá
trình quản lý phải rất cụ thể, phải xây dựng được chế độ vật chất rõ ràng, vận dụng cơ chế
khoán hợp lý.
- Thứ ba, phương tiện vận tải là tài sản cố định chủ yếu và quan trọng không thể thiếu
được trong quá trình thực hiện dịch vụ vận tải. Các phương tiện này bao gồm nhiều loại có
tính năng, tác dụng, hiệu suất và mức tiêu hao nhiên liệu, năng lượng khác nhau. Điều này
có ảnh hưởng lớn đến chi phí và doanh thu dịch vụ.
Việc khai thác vận chuyển phụ thuộc khá lớn vào cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu, phà và
điều kiện địa lý, khí hậu …

1.2.4. Các chức năng cơ bản của hoạt động kinh doanh thương mại dịch vụ vận tải
Hoạt động kinh doanh thương mại và dịch vụ vận tải có những chức năng cơ bản sau:
- Thứ nhất là hoạt động này thực hiện lưu thông sản phẩm xã hội, cụ thể là lưu thông hàng

.,LTD”, với nhiệm vụ chính là vận chuyển hàng hoá, máy móc, thiết bị sản xuất, nguyên
vật liệu, đại lý mua bán nguyên vật liệu. Văn phòng giao dịch tại 192 Nguyễn Khang - Cầu
Giấy – Hà Nội, bãi xe và kho tại xã Hoàng Liệt – Thanh Trì – Hoàng Mai – Hà Nội. Chi
nhánh tại thành phố thành phố Hồ Chí Minh : 51/13/Tân Kỳ, Tân Quý, Phường 16 quận
Tân Bình thành phố thành phố Hồ Chí Minh,ngoài ra còn các chi nhánh khác : Trạm đại
diện tại thành phố Đà Nẵng, trạm đại diện tại thành phố Vinh, trạm đại diện tại cửa khẩu
Tân Thanh- Lạng Sơn
1.3.1.2. Quá trình phát triển
Từ những năm đầu thành lập, công ty đã phát triển rất nhanh, doanh thu tăng nhanh qua
các năm và ngày càng khẳng định được vị thế của mình trên thị trường.
Nhờ chính sách mở cửa của nhà nước qua những năm qua đã tạo cơ hội cho việc phát
triển kinh tế trong lĩnh vực vận tải hành khách ngày càng được mở rộng. Nhờ Vận tải phát
triển với tốc độ khá nhanh, trong giai đoạn 2000-2002, lĩnh vực này phát triển với tốc độ
cao, đạt 30-40%/năm. Trong năm 2004 do biến động của thị trường quốc tế và trong nước,
do yêu cầu phát triển của doanh nghiệp công công ty đã quyết định tăng hợp nhất với công
ty vận tải An Dương để thành lập lên công ty TNHH 2 thành viên trở nên vẫn lấy tên là
Phú Sơn, đổi loại hình công ty thành công ty TNHH có từ hai thành viên trở nên. Nhờ có
chính sách quản lý đúng đắn mà sau đó công ty đã dần phát triển nhanh chóng.
Để phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đáp ứng được các nhu cầu
khác nhau của thị trường và nâng cao vị thế cạnh tranh cảu công công ty, công ty đã thực
hiện ký kết hàng loạt các hợp đồng hợp tác thương mại với các doanh nghiệp khác như là
các hợp đồng liên doanh với các công ty Phương Anh, công ty Phương Á, công ty vận tải
Bắc Việt…., cùng nhau khai thác chia xẻ doanh thu, chi phí, lợi nhuận… Với các chính
sách đúng đắn công ty đã tiếp tục duy trì và củng cố các quan hệ hợp tác liên doanh, liên
kết đã có sự thay đổi lịch trình vận tải cho phù hợp với kế hoạch khai thác và mục tiêu phát
triển, khả năng của doanh nghiệp và quyền lợi của mỗi bên.

Khởi đầu là một doanh nghiệp cỡ nhỏ với nguồn nhân lực chỉ có 30 người, Công ty đã
từng bước phát triển và không ngừng lớn mạnh. Là một doanh nghiệp còn non trẻ, nhưng
trong quá trình tồn tại và phát triển công ty đã tự mình đứng vững và phát triển khá ổn

+ Kinh doanh thương nghiệp và một số mặt hàng khác.
1.3.3. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty
1.3.3.1. Đặc điểm về vị trí
Từ khi thành lập Công Ty ngày càng phát huy vai trò của mình, thể hiện ưu thế trong
hoạt động vận tải và giao nhận cho các đơn vị trong nước và ngoài nước. Công Ty đã mở
thêm nhiều hình thức đại lý mới, với vai trò đại lý mới này Công Ty đã đem lại nhiều công
ăn việc làm cho người lao động và tăng lợi nhuận cho Công Ty.
Với gần một thập niên xây dựng và trưởng thành, công ty đã đạt được những thành tựu
đáng kể sau:
- Là doanh nghiệp còn non trẻ, nhưng đã nhanh chóng lớn mạnh, tạo ra một thị trường
tiêu thụ đa dạng, rộng lớn trải dài khắp đất nước.
- Doanh số hoạt động kinh doanh công ty luôn không ngừng tăng và có xu hướng ngày
càng phát triển.
- Công ty có vị trí đáng kể trên thị trường và có lượng khách hàng thường xuyên khá
lớn.
1.3.3.2. Đặc điểm về mặt hàng kinh doanh
Công ty tổ chức sản xuất kinh doanh theo chiến lược đa dạng hoá lĩnh vực kinh doanh
với mục đích tạo đủ công việc làm cho toàn bộ cán bộ công nhân viên trong công ty, trong
đó kinh doanh vận tải ô tô và đại lý vận tải là hai mặt hoạt động chính của công ty
* Các lĩnh vực hoạt động kinh doanh
Công Ty hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực:
- Vận tải hàng hoá bằng ô tô.
- Đại lý vận tải hàng hoá bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thuỷ,
container.

- Kinh doanh thương nghiệp bán buôn, bán lẻ vật tư, sản phẩm nông nghiệp, công
nghiệp thực phẩm.
Với đặc thù kinh doanh Công Ty có địa bàn hoạt động rộng trên phạm vi cả nước.
1.3.3.3. Đặc điểm về loại hình kinh doanh
* Về sản xuất kinh doanh vận tải ô tô:

Công Ty đã tích cực tổ chức kinh doanh dưới nhiều hình thức khác nhau như: khai thác
kho bãi hiện có, sản xuất tư liệu tiêu dùng, đóng kệ, giá để hàng, . . . Tuy nhiên trong công
tác kinh doanh tổng hợp công ty chưa xây dựng được bộ máy hoạt động phù hợp, nhạy bén
với thị trường nên chủ yếu mới chỉ làm vận tải hàng hoá là chính.
* Về kinh doanh xuất nhập khẩu
Trong lĩnh vực này đến năm 2004 công ty mới thành lập nhưng do chưa có kinh
nghiệm, quan hệ còn nhiều hạn chế trong kinh doanh nên kế hoạch và hiệu quả kinh doanh
thấp. Công ty đã cố gắng tìm thị trường nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
1.3.3.4. Đặc điểm về vốn
Phú Sơn là một công ty tư nhân nên nguồn vốn của công ty được hình thành chủ yếu từ
nguồn vốn tự có, do các thành viên trong công ty đóng góp và tích luỹ từ hoạt động sản
xuất kinh doanh và nguồn vốn vay ngân hàng. Ban đầu nguồn vốn công ty không lớn, song
qua nhiều năm hoạt động lượng vốn của công ty đã dần tăng lên, đến giờ công ty đã có
một nguồn vốn tương đối mạnh phong phú và đa dạng về nguồn hình thành.
Vì Công ty TNHH thương mại và dịch vụ vận tải Phú Sơn là công ty dịch vụ, nó làm
nhiệm vụ vận chuyển hàng hoá, không giống như những công ty sản xuất sản phẩm hàng
hoá khác, máy móc thiết bị của công ty chủ yếu là: thiết bị giao dịch (máy tính, máy điện
thoại) và phương tiện vận tải (ôtô, máy cẩu). Cũng giống như nhiều doanh nghiệp vận tải
khác thì vốn sản xuất kinh doanh của công ty chủ yếu là vốn cố định. Tuy chỉ là một doanh
nghiệp tư nhân nhưng cho đến nay nguồn vốn sản xuất kinh doanh của công ty đã khá lớn
và liên lục phát triển. Cụ thể là vốn sản xuất kinh doanh năm 2004 là 59 tỷ đồng, năm
2005 là 64 tỷ đồng, và đến năm 2006 thì con số đó đã tăng lên là 75 tỷ đồng.

1.3.3.5. Đặc điểm về lao động
Cơ cấu lao động của công ty ảnh hưởng trực tiếp tới kế hoạch kinh doanh của công ty.
Lao động trong công ty có thể chia thành hai bộ phận: Các cán bộ làm công tác quản lý và
các nhân viên trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đặc điểm, tính
chất của ngành vận tải nên số lượng lao động nữ chủ yếu vào nhân viên nghiệp vụ, còn
nhân viên phục vụ và lái xe toàn là nam.
Như ta đã biết lao động luôn chiếm vị trí rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh

kinh doanh của công ty.
Để đo lường chất lượng dịch vụ vận tải cung cấp công ty đã sử dụng một số chỉ tiêu đó
là:
+ Độ an toàn;
+ Thời gian vận chuyển;
+ Chi phí.

* Sự an toàn
Vì công ty làm nhiệm vụ giao nhận giống như nhiều công ty vận tải khác do vậy tiêu
thức an toàn được các bên quan tâm và thực hiện một cách rất nghiêm túc. Từ ban lãnh đạo
đến toàn bộ nhân viên nhất là các nhân viên trực tiếp tham gia vận chuyển hàng hoá thì an
toàn luôn là trách nhiệm và nghĩa vụ mà họ phải hoàn thành.
- Đối với con người
An toàn ở đây chính là an toàn cho người lao động trực tiếp, an toàn cho người áp tải
trực tiếp các chuyến hàng an toàn cho những người dân bình thường khác. Vì vận tải là
một công việc hết sức khó khăn, nõ liên quan trực tiếp không chỉ đến những người trực
tiếp tham gia vận chuyển mà còn liên quan đến những người dân bình thường. Đối với
con người công ty đặt các chỉ tiêu 100% các chuyến hàng không xảy ra tai nạn.
- Đối với hàng hoá
Công việc giao nhận và vận chuyển hàng hoá tức là thay mặt cho chủ hàng làm công
tác vận chuyển hàng hoá đảm bảo từ kho tới kho. Do vậy chỉ tiêu về an toàn hàng hoá còn
được công ty quan tâm rất sâu sắc.
Đối với những hàng hoá vận chuyển bằng đường bộ thì chỉ tiêu đưa ra hàng hoá phải
đầy đủ 100% về số lượng và chất lượng khi trao trả chủ hàng trong đó cũng trừ những
trường hợp hàng hoá cho phép hao hụt tự nhiên theo những quy định cụ thể.
Đối với những hàng hoá dễ vỡ thì 100% hàng hoá phải được đóng gói lại để đảm bảo
hàng hoá trong khi vận chuyển.
* Thời gian
Trong vận tải mặc dù có những sai số nhất định về thời gian giao hàng. Tuy nhiên chi
phí về đến chậm trong giao nhận là rất lớn. Chính vì vậy không có những chỉ tiêu định

trạm đại diện tại thành phố Vinh. Thực hiện một phần công việc đối chiếu, thanh quyết
toán các hợp đồng đại lý vận tải.
* Phòng kế toán: Công Ty đã đào tạo và thu nạp đội ngũ cán bộ làm công tác kế toán
có đủ kiến thức thực hiện tốt các chế độ kế toán mà nhà nước đã ban hành. Hạch toán kế

toán với tư cách là một bộ phận cấu thành của hệ thống các công cụ quản lý kinh tế, tài
chính giúp các nhà sản xuất kinh doanh, các tổ chức hành chính sự nghiệp thông qua công
cụ kế toán nắm được hiệhu quả sản xuất, kinh doanh tình hình tài chính của đơn vị mình
để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, các nguồn tài chính. Nó là những công cụ quan
trọng để chỉ đạo điều hành vĩ mô nền kinh tế.
Để hệ thống văn phòng công ty đi vào ổn định vấn đề bức bách đặt ra là phải triển khai
một cách nhanh chóng, hệ thống kế toán doanh nghiệp và chế độ kế toán các hộ kinh
doanh do bộ tài chính mới ban hành, để khắc phục khiếm khuyết của hệ thống chế độ kế
toán doanh nghiệp và chế độ kinh doanh cũ, để kế toán doanh nghiệp mới phát huy được
tính tích cực của nó trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Đào tạo lại đội ngũ cán bộ làm công tác kế toán để có đủ kiến
thức thực hiện tốt các chế độ kế toán nhà nước ban hành và nghiên cứu để dò ra kế toán
cho phù hợp với đặc điểm hoạt động của đơn vị. Tổ chức công tác thống kê hợp lý và khoa
học, phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của đơn vị, nhằm phát huy vai trà của kế
toán là một yêu cầu quan trọng đối với doanh nghiệp. Căn cứ vào quy mô đặc điểm sản
xuất, kinh doanh yêu cầu của công tác quản lý tài chính, căn cứ vào khối lượng công việc
kế toán và số lượng kế toán công ty đã tổ chức bộ máy kế toán thích hợp.
* Phòng kinh doanh: là phòng nghiên cứu chiến lược kinh doanh cho công ty. Có chức
năng chính là tổ chức các hoạt động về kinh doanh tổng hợp. Phòng trực tiếp quản lý cửa
hàng bán và giới thiệu sản phẩm, bộ phận sản xuất đồ gia dụng và gia công các sản phẩm
về gỗ. Phòng tham gia một phần trong hoạt động sản xuất đại lý vận tải.
* Trung tâm vận tải và đại lý vận tải: Quản lý toàn bộ phương tiện vận tải của công ty,
khai thác bến bãi và xưởng sửa chữa xe, tổ chức đại lý bán hàng, tổ chức vận chuyển ô tô
đường ngắn và đường trung, hỗ trợ đắc lực trong việc vận chuyển trung chuyển hàng của
các hợp đồng đại lý vận tải. Phương tiện vận tải được chia thành các đội xe theo tính chất

KD

Phòng
KT
Trạm
Đà
Nẵng
Chi
nhánh
tpHC
M
Cửa
hàng
bán
xe
Suzu
ki
Trạm
bảo
hiểm
xe
Suzu
ki Tổ
giao
nhận

Các
đội xe

Đại lý
bán
hàng

Trích đoạn Yêu cầu và nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Phương pháp thống kê mô tả Giải pháp thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status