LUẬN VĂN: Nghiên cứu thống kê hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh của Tổng công ty thuỷ sản Hạ Long chi nhánh tại Hà Nội pot - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Nghiên cứu thống kê hiệu quả vốn sản
xuất kinh doanh của Tổng công ty thuỷ
sản Hạ Long chi nhánh tại Hà Nội Lời nói đầu

Từ khi nước ta chuyển đổi cơ cấu kinh tế – chuyển từ nền kinh tế tập trung bao
cấp sang nền kinh tế thị trường đã tạo ra những bước phát triển nhảy vọt cho nền kinh tế
đất nước. Cơ chế thị trường đã tạo ra những cơ hội cũng như thách thức cho nền kinh tế
nói chung và các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng. Để có thể tồn tại
và phát triển được trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, đồng thời tạo
ra chỗ đứng vững chắc cho mình, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có các chiến lược, kế
hoạch sản xuất kinh doanh và cạnh tranh đúng đắn, đạt hiệu quả kinh tế cao.
Một trong những vấn đề quan trọng mà các doanh nghiệp cần quan tâm nhất là
việc sử dụng các đầu vào một cách hiệu quả nhất, đặc biệt là nguồn vốn của doanh
nghiệp. Vì thế để đạt được lợi nhuận cao, thực hiện mở rộng sản xuất và tạo được sức
mạnh cạnh tranh thì buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn có hiệu quả.

Quy mô VCĐ tại thời
điểm thống kê
=

Tổng giá trị TSCĐ và đầu tư dài
hạn tại thời điểm đó

Hoặc =



Nguyên giá (hay giá
đánh giá lại) của
TSCĐ
-

Giá trị hao
mòn luỹ kế



+
Tổng giá trị các
khoản đầu tư dài
hạn

1.1.1. Khái niệm tài sản cố định

Để tiến hành sản xuất, kinh doanh, bên cạnh sức lao động và đối tượng lao động,
các doanh nghiệp còn phải có tư liệu lao động. Trong đó, bộ phận các tư liệu lao động có

sản thuê.
TSCĐ thuê tài chính cũng coi như TSCĐ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có
trách nhiệm quản lý, sử dụng và trích khấu hao như các TSCĐ tự có của mình.
- Tài sản cố định thuê hoạt động: Là TSCĐ của doanh nghiệp nhưng không thoả
mãn một điều khoản nào của hợp đồng thuê tài chính. Bên đi thuê chỉ được quản lý, sử
dụng tài sản trong thời hạn của hợp đồng và phải hàon trả cho bên cho thuê khi kết thúc
hợp đồng.
Ngoài ra, TSCĐ cảu doanh nghiệp cốnc thể được phân loại theo thời hạn sử dụng,
theo hình thái sử dụng, theo cong dụng, theo nguồn gốc hình thành …
* TSCĐ từng loại tính theo đơn vị hiện vật là cơ sở để lập kế hoạch đầu tư mua
sắm, xây dựng bổ sung, sửa chữa TSCĐ và đánh giá hiệu quả của từng loại TSCĐ.
Nhưng trong nhiều nghiên cứu khác người ta lại cần dùng đến chỉ tiêu giá trị toàn bộ
TSCĐ. Trong trường hợp này, TSCĐ của doanh nghiệp phải được tính theo đơn vị tiền
tệ. Vì vậy, cần phải đánh giá TSCĐ theo các loại giá khác nhau để nắm được tổng giá trị
TSCĐ đã đầu tư ban đầu, tổng giá trị TSCĐ đã hao mòn và tổng giá trị TSCĐ còn lại.
a. Nguyên giá (giá ban đầu) của tài sản cố định.
Là toàn bộ chi phí đã chi ra để mua sắm, xây dựng TSCĐ, kể cả các chi phí vận
chuyển, lắp đặt, chạy thử và các chi phí hợp lý, cần thiết khác trước khi sử dụng. Nguyên
giá (hay giá ban đầu) của TSCĐ trong từng trường hợp cụ thể được xác định như sau:
Đối với TSCĐ hữu hình:

- Nguyên giá (hay giá ban đầu) của TSCĐ mua sắm (kể cả mua sắm mới và đã sử
dụng) bằng (=) Giá mua thuần (đã khấu trừ các khoản chiết khấu, giảm giá) cộng (+)
Thuế nhập khẩu và các loại thuế không thể thu hồi (thuế giá trị gia tăng không được khấu
trừ, thuế trước bạ …) cộng (+) Chi phí vận chuyển và các chi phí hợp lý, cần thiết liên
quan đến việc đưa TSCĐ vào hoạt động.
- Nguyên giá (hay giá ban đầu) của TSCĐ doanh nghiệp tự chế tạo, xây dựng cũng
được xác định tương tự như đối với TSCĐ mua sắm, gồm toàn bộ các chi phí liên quan
đến việc chế tạo, xây dựng và đưa tài sản đó vào hoạt động.
- Nguyên giá (hay giá ban đầu) của TSCĐ nhận của đơn vị khác góp vốn liên

- Chi phí lơi thế doanh nghiệp: Là khoản chi cho phần chênh lệch doanh nghiệp
công nghiệp phải trả thêm (=) Giá mua – Giá trị các tài sản theo đánh giá thực tế) ngoài
giá trị nhận sáp nhập, hợp nhất một doanh nghiệp khác. Lợi thế này được hình thành bởi
ưu thế về vị trí kinh doanh, về danh tiếng và uy tín với bạn hàng, về trình độ tay nghề của
lao động, về tài điều hành, tổ chức của Ban quản lý doanh nghiệp đó…
Đối với tài sản thuê tài chính:
Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính phản ánh ở đơn vị thuê TSCĐ là giá trị hiện tại
của các khoản chi trong tương lai, được xác định như sau:
- Nếu hợp đồng thuê TSCĐ có quy định tỷ lệ lãi suất phải trả theo năm thì nguyên
giá TSCĐ thuê tài chính được phản ánh ở đơn vị thuê TSCĐ chính là giá trị hiện tại của
các khoản chi trong tương lai, được xác định theo công thức:
 
n
r
GNG


1
1Trong đó NG là nguyên giá TSCĐ thuê tài chính
G là giá trị các khoản chi bên thuê phải trả mỗi năm theo hợp đồng.
r là lãi suất vay vốn tính theo năm ghi trong hợp đồng thuê tài sản
n thời hạn thuê TSCĐ theo hợp đồng.
Trường hợp trong hợp đồng khong quy định tỷ lệ lãi suất thì tỷ lệ lãi suất được xác
định theo lãi suất vay vốn trên thị trường nhưng không được vượt quá trần lãi suất do
ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố cho tường kỳ hạn vay vốn tương ứng.
- Nếu trong hợp đồng thuê TSCĐ đã xác định tổng số tiền bên đi thuê phải trả cho
cả giai đoạn thuê, trong đó có ghi rõ số tiền lãi phải trả cho mỗi năm thì nguyên giá của



Tỷ lệ còn lại
của TSCĐ
Đối với TSCĐ vô hình, khi đánh giá lại người ta cũng dùng ba loại giá nói trên.
Trong đó, nguyên giá của TSCĐ là tổng số tiền chi trả hoặc chi phí thực tế về thành lập
doanh nghiệp, về công tác nghiên cứu phát triển doanh nghiệp, về mua bằng phát minh,
sáng chế …
* Các cách đánh giá tài sản cố định.

a. Đánh giá tài sản cố định theo nguyên giá (hay giá ban đầu).
Cách đánh giá này cho biết quy mô của các nguồn vốn đã đầu tư vào TSCĐ từ khi
doanh nghiệp mới thành lập đến nay. Tuy nhiên, do thời kỳ mua sắm hoặc xây dựng khác
nhau nên cùng một loại TSCĐ trong doanh nghiệp nhưng có nhiều giá ban đầu khác
nhau, gây khó khăn trong công việc so sánh và nghiên cứu các chỉ tiêu về sử dụng TSCĐ.
b. Đánh giá tài sản cố định theo giá ban đầu còn lại.
Cách đánh giá này phản ánh tổng giá trị TSCĐ danh nghĩa còn lại tại thời điểm
đánh giá sau khi đã trừ đi giá trị hao mòn hữu hình luỹ kế của chúng
c. Đánh giá tài sản cố định theo giá đánh giá lại (giá khôi phục).
Cách đánh giá này giúp nắm được quy mô nguồn vốn để trang bị lại TSCĐ ở tình
trạng mới nguyên. Đó cũng là tổng giá trị ban đầu của các TSCĐ tương tự được sản xuất
ở thời kỳ đánh giá lại.
d. Đánh giá tài sản cố định theo giá khôi phục còn lại.
Cách đánh giá này phản ánh tổng giá trị TSCĐ thực tế còn lại tại thời điểm đánh
giá sau khi đã trừ đi giá trị hao mòn của chúng. Chỉ tiêu này phản ánh đúng đắn nhất hiện
trạng của TSCĐ vì nó đã loại trừ cả hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình.
Trường hợp cần nghiên cứu tình hình tăng, giảm TSCĐ theo thời gian, có thể dùng
cách đánh giá TSCĐ theo giá so sánh để loại trừ ảnh hưởng của sự thay đổi giá cả.
1.1.2. Khái niệm về đầu tư dài hạn.
Đầu tư dài hạn của doanh nghiệp là các khoản đầu tư có tính chất lâu dài (từ 1 năm

vào giá trị sản phẩm. Tính chất này làm cho việc tính giá thành được thuận tiện, đưa toàn
bộ giá trị nguyên, nhiên, vật liệu đã sử dụng vào chi phí sản xuất, kinh doanh mà không
cần phải trích khấu hao từng phần.

Một đặc điểm khác nữa là TSLĐ phải trải qua nhiều khâu, nhiều giai đoạn, ở
nhiều bộ phận quản lý khác nhau. ở mỗi khâu và giai đoạn đó TSLĐ bị thay đổi hình thái
(từ các loại nguyên, vật liệu cho đến khi trở thành thành phẩm), nên việc đảm bảo đầy đủ
và cân đối các bộ phận của TSLĐ có ý nghĩa rất quan trọng, tạo điều kiện cho quá trình
sản xuất, kinh doanh được tiến hành thường xuyên và liên tục.
TSLĐ trong doanh nghiệp có nhiều loại. Để thuận tiện cho công tác quản lý, công
tác hạch toán và các nghiên cứu về TSLĐ ở doanh nghiệp cần phải phân loại chúng theo
một số tiêu thức chủ yếu sau :
a. Theo các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh.
- Tài sản trong khâu dự trữ là tài sản hiện vật đã được mua sắm như nguyên,
nhiên, vật liệu để chuẩn bị đưa vào giai đoạn sản xuất.
- Tài sản trong khâu sản xuất là những chi phí cho sản phẩm trung gian còn đang
tiếp tục chế biến trong giai đoạn sản xuất.
- Tài sản trong khâu lưu thông là những chi phí sản xuất và tiêu thụ của thành
phẩm của hàng hoá trước khi tiêu thụ xong và tài sản dười dạng tiền.
Phân loại theo tiêu thức này nhằm nghiên cứu sự phân bố TSLĐ giữa các khâu sản
xuất, kinh doanh, sự thay đổi về cơ cấu tài sản trong các khâu và đặc điểm của từng loại
hình sản xuất, kinh doanh .
b. Theo trạng thái tồn tại của tài sản lưu động.
- Các khoản tiền nằm trong quỹ hay ngân hàng.
- Các khoản phải thu từ khách hàng, từ nội bộ .
- Các khoản ứng và trả trước .
- Hàng tồn kho là tài sản dự trữ cho quá trình sản xuất, kinh doanh dưới dạng
nguyên, nhiên, vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm trung gian, thành phẩm và hàng hoá.
TSLĐ được phân tổ theo tiêu thức này nhằm phục vụ cho việc lập bảng cân đối tài
sản, nghiên cứu mục tiêu và phương hướng sử dụng.

CNV, cho cơ quan quản lý cấp trên và các khoản phải ttrả khác). Theo tính chất và thời
hạn thanh toán, các khoản nợ phải trả được phân thành: Nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và nợ
khác.
2.1.1. Nợ ngắn hạn.
Là các khoản tiền nợ doanh nghiệp phải trả cho các chủ nợ trong một thời gian
ngắn (không quá 1 năm). Nợ ngắn hạn bao gồm:
- Vay ngắn hạn.
- Nợ dài hạn đến hạn trả.
- Phải trả cho người bán, người nhận thầu.
- Người mua trả tiền trước.
- Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước.
- Lương, phụ cấp phải trả cho CNV.
- Các khoản phải trả nội bộ.
- Các khoản phải trả, phải nộp khác.
2.1.2. Nợ dài hạn.
Là các khoản tiền doanh nghiệp nợ các đơn vị, cá nhân, cá tổ chức kinh tế – xã hội
sau một năm trở lên mới phải hoàn trả. Nợ dài hạn của doanh nghiệp bao gồm:
- Vay dài hạn cho đầu tư phát triển.
- Nợ thuê mua TSCĐ (thuê tài chính).
2.1.3. Nợ khác (nợ không xác định).

Là các khoản phải trả như nhận ký quỹ, ký cược dài hạn, tài sản thừa chờ sử lý và
các khoản chi phí phải trả.
2.2. Nguồn vốn chủ sở hữu.
Là nguồn hình thành nên các loại tài sản của doanh nghiệp do chủ doanh nghiệp,
các nhà đầu tư góp vốn hoặc hình thành từ kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của
doanh nghiệp.
Trong một doanh nghiệp, nguồn vốn chủ sở hữu có thể được hình thành từ một
hoặc nhiều chủ sở hữu.
- Đối với doanh nghiệp Nhà nước, do mọi loại hoạt động của loại hình doanh

- Quỹ quản lý của cấp trên.
- Nguồn kinh phí sự nghiệp.
- Nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ.
3. Vai trò của vốn sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nnghiệp là các tổ chức được thành lập
nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh sao cho đạt hiệu
quả kinh tế cao, xây dựng doanh nghiệp mình ngày càng vững mạnh, đồng thời góp phần
phát triển kinh tế đất nước.
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào
cũng cần phải có một số lượng vốn nhất định để thực hiện các khoản đầu tư như: Chi phí
thành lập doanh nghiệp, chi phí mua nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, trả lãi tiền vay,

tiền lương, nộp thuế,… đồng thời, đầu tư để thực hiện tái sản xuất mở rộng, phát triển
doanh nghiệp.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn của doanh nghiệp không ngừng vận
động và doanh nghiệp phải hoạt động sao cho thu được lợi nhuận cao sau khi trừ đi các
khoản chi phí cần thiết để đảm bảo được nguồn vốn và ngày càng tăng nguồn vốn, đảm
bảo cho việc phát triển sản xuất kinh doanh.
Như vậy, vốn là một phạm trù kinh tế cơ bản trong doanh nghiẹp, “vốn là biểu
hiện bằng tiền của tất cả các tài sảndùng cho sản xuất kinh doanh, là một trong các yếu
tố quan trọng đem lại giá trị thặng dư cho doanh nghiệp, nó là điều kiện tiền đề cho sự
ra đời và là cơ sở để mở rộng sản xuất kinh doanh”.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ thì nhu cầu về vốn đầu tư cho sản
xuất kinh doanh ngày càng lớn. Việc đảm bảo đủ nguồn vốn sẽ giúp cho doanh nghiệp
tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách thường xuyên và liên tục, mặt
khác doanh nghiệp có thể chớp được thời cơ trong kinh doanh và lợi thế trong cạnh tranh.
Trước đây, trong nền kinh tế tập trung bao cấp, vốn sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp Nhà nước đều được Nhà nước cấp phát, nếu lỗ thì Nhà nước sẽ bù lỗ. Hơn
nữa, các doanh nghiệp đều hoạt động sản xuất kinh doanh theo các chỉ tiêu ké hoạch mà
Nhà nước đề ra. Bởi vậy, vai trò của vốn không được coi trọng, điieù này làm mất đi tính

giữa đầu ra và đầu vào hay là quan hệ giữa toàn bộ kết quả kinh doanh với vốn bỏ ra cho
quá trình kinh doanh đó. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh nghĩa là
với một khối lượng vốn không tăng (hoặc tăng với một tỉ lệ nhỏ) so với kỳ trước nhưng
kết quả sản xuất kinh doanh tăng lên (hoặc tăng với tỉ lệ lớn hơn) so với tốc độ tăng của
vốn sản xuất kinh doanh.

2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh ở các
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Mục đích cuối cùng của các doanh nghiệp là đạt được lợi nhuận tối đa, có lợi
nhuận doanh nghiệp mới có thể tồn tại, phát triển và ngược lại. Một doanh nghiệp muốn
thực hiện tốt mục đích của mình thì phải hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Trong đó,
yếu tố tác động có tính chất quyết định là hiệu quả sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp.
Mặt khác, do phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan nên hiệu quả kinh
doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố.
Trong cơ chế cũ doanh nghiệp Nhà nước coi nguồn vốn cấp phát từ ngân sách Nhà nước
đồng nghĩa với " cho không" nên khi sử dụng nhiều doanh nghiệp không quan tâm đến
hiệu quả, kinh doanh thua lỗ thì đã được Nhà nước bù đắp nên đã gây ra tình trạng vô
chủ, vô trách nhiệm trong việc quản lý và sử dụng vốn, dẫn đến lãng phí và thất thoát rất
lớn.
Theo số liệu thống kê thì vốn sản xuất kinh doanh trong khu vực quốc doanh
không nhiều, hiệu quả sử dụng vốn thấp. Đối với tài sản cố định mới chỉ sử dụng được
50% - 60% công suất hiện có, phổ biến chỉ hoạt động 1ca/ ngày. Vì vậy hệ số sinh lời của
đồng vốn rất thấp.
Khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo
định hướng XHCN các doanh nghiệp phải chuyển mình theo cơ chế mới để có thể tồn tại
và phát triển. Cạnh tranh là quy luật của thị trường, nó cho phép tận dụng triệt để mọi
nguồn lực của doanh nghiệp và của toàn xã hội vì nó buộc doanh nghiệp phải luôn tự đổi
mới, hạ giá thành, tăng năng suất lao động cải tiến mẫu mã và chất lượng sản phẩm để có
thể thắng được trên thương trường và nhằm thực hiện mục tiêu tối ưu hóa lợi nhuận. Bởi
vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm ra phương hướng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

tế cần bao nhiêu đơn vị vốn sản xuất kinh doanh.
Hai chỉ tiêu này có vai trò khác nhau nhưng có liên hệ mật thiết với nhau, cũng
được dùng để phản ánh hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu H
dùng để xác định ảnh hưởng của hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh đến hiệu quả
kinh tế, còn chỉ tiêu H' là cơ sở để xác định quy mô tiết kiệm hay lãng phí vốn sản xuất
kinh doanh

Các chỉ tiêu như trên gọi là chỉ tiêu toàn phần vì dựa vào toàn bộ thông tin của
mỗi đầu vào (vốn) và đầu ra (kết quả kinh tế). Ngoài ra, để đánh giá và phân tích hiệu
quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp, người ta còn sử dụng các chỉ tiêu cận biên sau:
Dạng thuận:
H =
Q
V

Dạng nghịch:
H' =
Q
V

Chỉ tiêu thuận cho biết khi tăng thêm một đơn vị vốn vào sản xuất kinh doanh có
thể tạo ra bao nhiêu đơn vị kết quả kinh tế. Còn chỉ tiêu nghịch cho biết để tăng thêm một
đơn vị kết quả kinh tế thì cần bổ sung thêm tạo nhiều đơn vị vốn.
Tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp được phản ánh thông qua phân tích và so
sánh các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng từng bộ phận của vốn và hiệu quả sử dụng
tổng số. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là một nội dung quan trọng phản ánh chất
lượng của hoạt động tài chính doanh nghiệp. Để phản ánh hiệu quả sử dụng vốn sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp một cách đầy đủ chính xác cần phải xác định rõ nhiệm vụ
của việc đo lương hiệu quả này. Điều này có ý nghĩa quan trọng vì nó ảnh hưởng đến
việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu, cũng như việc sử dụng các phương pháp khác nhau trong

xuất kinh doanh (vốn cố định, vốn lưu động, tổng vốn).
Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:
3.1. Nhóm chỉ tiêu hiệu quả vốn cố định.
Hiệu quả sử dụng vốn cố định được phản ánh qua tính và so sánh các chỉ tiêu sau:
a. Hiệu năng vốn cố định (H
vc
):
Là chỉ tiêu được xác định bằng thương số giữa các chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh
doanh và vốn cố định bằng bình quân trong kỳ

H
vc
=
Q
V

Trong đó: Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh
nghiệp, Q bao gồm các chỉ tiêu DT, LN, GO, VA, NVA
c
V
vốn cố định bình quân trong kỳ
Trong đó: Q - Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh
nghiệp, Q bao gồm các chỉ tiêu: DT, LN, GO, VA, NVA
2
cc
c
VdkV
V



V
cĐây là chỉ tiêu tương đối cường độ, thời kỳ. Đơn vị tính của chỉ tiêu là (đơn vị tiền
tệ/ đơn vị tiền tệ)
Chỉ tiêu cho biết cứ một đơn vị tiền tệ vốn cố định đầu tư vào sản xuất kinh doanh
trong kỳ thì tạo ra được mấy đơn vị tiền tệ lợi nhuận.
Nguồn số liệu: Từ các chỉ tiêu về lợi nhuận và vốn cố định bình quân của doanh
nghiệp.
3.2. Nhóm chỉ tiêu hiệu quả vốn lưu động
a. Hiệu năng vốn lưu động.
Là chỉ tiêu được xác định bằng thương số giữa kết quả sản xuất kinh doanh với
vốn lưu động có bình quân trong kỳ.
H
vl
=
Q
V

Đây là chỉ tiêu tương đối cường độ, thời kỳ. Đơn vị tính của chỉ tiêu là (đơn vị tiền
tệ/ đơn vị tiền tệ)
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đơn vị tiền tệ vốn lưu động mà doanh nghiệp bỏ vào
sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra được mấy đơn vị tiền tệ kết quả sản xuất kinh
doanh.
Nguồn số liệu: Từ các chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh và vốn lưu động
bình quân của doanh nghiệp.
b. Mức đảm nhiệm vốn lưu động
Là chỉ tiêu được xác định bằng thương số giữa vốn lưu động có bình quân trong
kỳ với kết quả sản xuất kinh doanh

công ty quay được mấy vòng hay chu chuyển được mấy lần.
Nguồn số liệu: Từ các chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh và vốn lưu động
bình quân trong kỳ của doanh nghiệp.
3.3. Nhóm chỉ tiêu hiệu quả tổng vốn.
a. Hiệu năng (hay năng suất) tổng vốn .
Là chỉ tiêu được xác định bằng thương số giữa kết quả sản xuất kinh doanh với
tổng vốn bình quân trong kỳ.
TV
Q
H
TV

Đây là chỉ tiêu tương đối cường độ, thời kỳ. Đơn vị tính của chỉ tiêu là (đơn vị tiền
tệ/ đơn vị tiền tệ)
Chỉ tiêu cho biết cứ một đơn vị tiền tệ tổng vốn đầu vào sản xuất kinh doanh
trong kỳ thì tạo ra được mấy đơn vị tiền tệ tổng vốn.
Nguồn số liệu: Từ các chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh và tổng vốn bình
quân của doanh nghiệp
b. Mức đảm nhiệm tổng vốn.

Là chỉ tiêu được xác định bằng thương số giữa tổng vốn sản xuất kinh doanh bình
quân và kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Q
TV
H
TV

Đây là chỉ tiêu tương đối cường độ, thời kỳ. Đơn vị tính là (đơn vị tiền tệ/đơn vị
tiền tệ).
chỉ tiêu cho biết để tạo ra một đơn vị tiền tệ kết quả sản xuất kinh doanh thì cần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status