LUẬN VĂN:Nâng cao chất lượng hoạt động cho vay theo dự án đầu tư - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Nâng cao chất lượng hoạt động
cho vay theo dự án đầu tư

LỜI MỞ ĐẦU
NHCT Việt Nam- NHTM lớn thứ hai nước ta hiện nay đang chuyển mình mạnh mẽ
trong các hoạt động chiến lược phát triển với hoạt động tín dụng làm trọng tâm, trong đó cho
vay khách hàng doanh nghiệp là một lĩnh vực quan trọng mang lại nhiều thuận lợi cho ngân
hàng cũng như nền kinh tế.
Chi nhánh NHCT Bến Thuỷ là chi nhánh ngân hàng cấp I trực thuộc NHCT Việt Nam và
thực hiện hạch toán độc lập. Hiện nay, Chi nhánh NHCT Bến Thuỷ đang cho vay khoảng 20

Hoạt động của NHTM thường gồm 3 nội dung chính:
+ Hoạt động huy động vốn.
+ Hoạt động cho vay, đầu tư.
+ Hoạt động thanh toán.
Đây được coi là ba hoạt động truyền thống của NHTM, chúng có mối quan hệ chặt chẽ
và tương hỗ lẫn nhau.
Hoạt động huy động vốn là hoạt động tạo nguồn cho NHTM. Ngân hàng huy động tiền
nhàn rỗi trong dân cư, trong các doanh nghiệp và các chủ thể khác trong nền kinh tế để bảo
quỹ cho vay.
Thông qua chức năng cho vay, NHTM sử dụng nguồn vốn huy động được để thực hiện
cho vay đầu tư, cung cấp vốn cho nền kinh tế, phục vụ hoat động sản xuất kinh doanh. Đây là
hoạt động chủ yếu của ngân hàng và là hoạt động đem lại nguồn thu lớn nhất cho các NHTM.
Khi NHTM cung cấp vốn cho thị trường là làm tăng lưu thông tiền tệ cho nền kinh tế. Nền
kinh tế phát triển, nhu cầu về dịch vụ tiện ích của con người tăng cao, ngân hàng mở và cung
cấp các dịch vụ tiện ích đó để thu phí_ một nguồn thu không nhỏ của các NHTM,
1.1.2 Hoạt động cho vay của NHTM:
Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam quy định “ hoạt động tín dụng bao gồm cho vay,
cho thuê tài chính, chiết khấu, bảo lãnh và một số hoạt động khác do ngân hàng nhà nước quy

định”. Tín dụng được hiểu là quan hệ vay muợn trên cơ sở hoàn trả. Nghĩa là bao gồm các
hoạt động cho vay và đi vay. Tuy nhiên, để tránh nhầm lẫn trong các văn bản pháp luật hiện
hành, khi gắn tín dụng với chủ thể nhất định như ngân hàng, ví dụ tín dụng ngân hàng thì chỉ
bao hàm nghĩa là ngân hàng cho vay.
Cho vay có thể hiểu là hoạt động sử dụng vốn của NHTM cho những người có nhu cầu
vay vốn và thu một khoản lãi nhất định trên số tiền cho vay theo nguyên tắc hoàn trả vón và
lãi với thời gian xác định, đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời. Đối tượng của hoạt động
cho vay là tiền, chủ thể đi vay là khách hàng của các tổ chức tín dụng. Hoạt động cho vay vẫn
được hiểu là một nghiệp vụ truyền thống của NHTM bên cạnh hoạt động huy động tiền gửi.
Tổ chức tín dụng xem xét cho vay khách hàng theo 3 thể loại: cho vay ngắn hạn, cho vay
trung hạn và cho vay dài hạn.

được cơ hội phát triển. Dự án là căn cứ quan trọng để quyết định bỏ vốn đầu tư, xây dựng kế
hoạch đầu tư và theo dõi quá trình thực hiện đầu tư. Dự án là căn cứ để các tổ chức tài chính
đưa ra quyết định tài trợ, các cơ quan chức năng của nhà nước phê duyệt và cấp giấy phép đầu
tư. Dự án còn được coi là công cụ quan trọng trong quản lý vốn, vật tư, lao động trong quá
trình thực hiện đầu tư. Do vậy, hiểu được những đặc điểm của dự án là một trong những yếu
tố quyết định sự thành công của dự án đó.
1.2.1. Dự án đầu tư là gì?
Dự án đầu tư có thể đựơc xem xét từ nhiều góc độ;
 Về mặt hình thức: dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết, có
hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được những kết quả và thực
hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
 Xét trên góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư,
lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài.

 Trên góc độ kế hoạch hóa: Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của
một công cuộc đầu tư sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế_ xã hội, làm tiền đề cho các
quyết định đầu tư và tài trợ.
 Xét về mặt nội dung: Dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, được
bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng
hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện các mục tiêu nhất định trong
tương lai.

1.2.2 Đặc trưng cơ bản của dự án đầu tư:
Thứ nhất, dự án có mục đích, mục tiêu rõ ràng.
Thứ 2, dự án có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn.
Thứ 3, dự án có sự tham gia của nhiều bên như: chủ đầu tư, nhà thầu, cơ quan cung cấp dịch
vụ trong đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước.
Thứ 4, sản phẩm dự án mang tính đơn chiếc, độc đáo.
Thứ 5, Môi trường hoạt động của dự án là: “va chạm”, có sự tương tác phức tạp giữa dự án
này với dự án khác, giữa bộ phận quản lý này với bộ phận quản lý khác.

 Dự án nhóm B.
 Dự án nhóm C.
1.2.3.6 Theo cấp độ nghiên cứu:
 Dự án tiền khả thi: là kết quả của giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi.
 Dự án khả thi: là kết quả của giai đoạn nghiên cứu khả thi.
1.2.3.7 Theo nguồn vốn:
 Dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước.
 Dự án đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn tín dụng do
nhà nước bảo lãnh.
 Dự án đầu tư bằng nguồn vốn huy động của doanh nghiệp và các nguồn vốn khác.
 Dự án đầu tư bằng các nguồn vốn hỗn hợp.
1.2.3.8 Theo vùng lãnh thổ: theo tỉnh, vùng kinh tế của đất nước.
1.2.4 Chu kỳ của một dự án đầu tư.
Sơ đồ 1.1 Các thời kỳ của một dự án: Ý đồ về
dự án
đầu tư Chuẩn
bị
đầu tư Thực
hiện đầu



cho vay còn quy định khách hàng phải có vốn chủ sở hữu tham gia vào dự án. Tỷ lệ vốn chủ
sở hữu tham gia vào dự án cao hay thấp tùy thuộc vào độ rủi ro và hiệu quả của dự án. Hiện

nay, một số NHTM Việt Nam quy định mức vốn chủ sở hữu của khách hàng tham gia vào dự
án là:
 Tối thiểu 10% tổng mức vốn đầu tư với dự án cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất, hợp
lý hóa sản xuất.
 Tối thiểu 30% tổng mức vốn đầu tư (sau khi trừ vốn lưu động dự kiến) đối với dự án
xây mới.
 Tối thiểu 30% tổng mức vốn đầu tư (sau khi trừ phần vốn lưu động dự kiến trong tổng
mức vốn đầu tư) đối với dự án phục vụ đời sống.
 Thời hạn trả nợ và nguồn vốn trả nợ.
Thời hạn trả nợ vay phụ thuộc vào tính chất đặc điểm của dự án đầu tư. Nhưng thời hạn trả
nợ vay cũng có thể rút ngắn trong trường hợp hiệu quả của dự án mang lại cao. Việc trả nợ
trước hạn sẽ giúp ngân hàng thu được nợ chắc chắn, nhưng đôi khi ảnh hưởng tới kế hoạch sử
dụng vốn của ngân hàng. Nguồn trả nợ đối với khoản vay dự án được hình thành từ nhiều
nguồn, nhưng chủ yếu là nguồn khấu hao và một phần từ lợi nhuận của dự án.
 Giải ngân trong cho vay dự án: Khoản cho vay một dự án có thể được giải ngân một
lần (với dự án nhỏ) hoặc nhiều lần (với dự án lớn và dài hạn). trong trường hợp giải ngân
nhiều lần, ngân hàng không cho khách hàng rút vốn khi các nhu cầu chi tiêu trong các các dự
án chưa phát sinh, và nhằm đảm bảo cho các khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích.
Việc giải ngân có thể được tiến hành căn cứ vào tiến độ công việc hoàn thành của dự án.
 Lãi suất cho vay: Nhìn chung lãi suất cho vay theo dự án là lãi suất cho vay trung- dài
hạn nên cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn. Tùy thuộc vào thỏa thuận giữa ngân hàng và
khách hàng mà hợp đồng tín dụng quy định lãi suất thả nổi hay cố định. Việc thu tiền lãi có
thể thu hàng tháng, năm theo số dư nợ thực tế. Khách hàng có thể trả tiền lãi cùng nợ gốc tại
mỗi kỳ hạn trả nợ hoặc trả tiền lãi vào một ngày nào đó trong kỳ hạn theo thỏa thuận.
 Quy trình thủ tục cho vay và hoạt động thẩm định đơn giản , đảm bảo mức độ chính
xác cao: Hiệu quả nổi bật của cho vay theo dự án là giảm đáng kể khối lượng công việc cho
cán bộ tín dụng. Với hình thức cho vay theo hạn mức, ngoài công việc thẩm định cho món

sở hạ tầng, nhà cửa, máy móc, vật kiến trúc, từ đó có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng
cao năng xuất chất lượng sản phẩm. Thông thường cho vay doanh nghiệp để đầu tư vào tài
sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh có nhu cầu vốn không quá lớn, mặt khác thời gian
vay vốn thường là trung hạn, phù hợp với chu kỳ phát triển của một loại sản phẩm, khoảng từ
3- 5 năm.
Thứ hai, cho vay các doanh nghiệp để đầu tư vào một dự án. Đó là khi các doanh nghiệp
xây dựng một dự án kinh doanh có thời gian trung và dài hạn (thông thường các dự án có thời
gian từ 5 năm trở lên). Khi đó, nhu cầu về vốn đầu tư là tất yếu, ngoài việc sử dụng vốn tự có
của doanh nghiệp cũng như huy động từ các nguồn tài trợ góp vốn khác các doanh nghiệp
luôn có nhu cầu tìm các trung gian tài chính làm đối tác cho vay vốn trong thời gian đủ dài
của dự án với lãi suất phù hợp.
Quá trình cho vay dự án cũng giúp các NHTM gắn bó với chính tổ chức vay vốn thông
qua việc theo dõi, quá trình giải ngân theo từng gíai đoạn của dự án, và việc thu hồi lãi và gốc
vào các năm đến hạn.
1.3.2 Các hình thức cho vay theo dự án đầu tư:
 Cho vay trực tiếp ( cho vay toàn bộ )
Đây là hình thức đơn giản nhất trong cho vay dự án, đó là việc một NHTM có đủ tiềm năng
về vốn và không bị hạn chế hạn mức tín dụng đối với tổ chức cho vay, sau khi tiến hành thẩm
định dự án phù hợp, NHTM có khả năng bỏ hoàn toàn nguồn vốn của mình ra để trực tiếp cho
vay.Tất cả các công đoạn trong quá trình cho vay và việc giải ngân, thu nợ đều do NHTM
trực tiếp đứng ra thực hiện. Toàn bộ lãi suất thu được từ việc cho vay và những rủi ro có thể
xảy ra do cho vay đều thuộc NHTM cho vay vốn. Tuy nhiên, việc cho vay trực tiếp đòi hỏi
ngân hàng thương mại phải có đủ tiềm lực về vốn khi tiến hành cho vay, đặc biệt là các dự án
lớn, nhu cầu vốn cho vay nhiều. Việc cho vay phải bảo đảm khoản vay đó không vượt quá
15% vốn điều lệ của NHTM.
 Ủy thác cho vay:

Là việc bên ủy thác giao vốn cho bên nhận ủy thác thông qua hợp đồng ủy thác cho vay để
trực tiếp cho vay đến các đối tượng khách hàng, trong đó bên ủy thác trả phí ủy thác cho bên
nhận ủy thác.( Quyết định số 742/2002/QĐ- NHNN Quy định về ủy thác và nhận ủy thác cho

trị khoản vay, thời hạn của khoản vay, khả năng trả nợ của người vay cũng như những biến
động của nền kinh tế. Và đương nhiên, lãi suất đó cũng sẽ phải đảm bảo là đem lại nguồn thu
cho Ngân hàng lớn hơn khoản chi phí huy động mà Ngân hàng phải bỏ ra.
Vậy khi ta đứng trên giác độ của loại hình cho vay theo đầu tư thì khoản cho vay này có
những đặc trưng riêng nổi bật nào?
Thứ nhất, lượng vốn ban đầu để đầu tư cho dự án là rất lớn, do đó chủ đầu tư dự án phải
huy động từ nhiều nguồn vốn, trong đó nguồn tài trợ từ cho vay dự án của các NHTM là rất
quan trọng. Tuy nhiên, NHTM không tài trợ toàn bộ vốn đầu tư mà yêu cầu chủ đầu tư phải
có lượng vốn tự có với một tỷ lệ nhất định, và đồng thời căn cứ vào các thông tin dữ liệu về
dự án để xác định mức cho vay hợp lý đối với từng dự án cụ thể. Khối lượng vốn Ngân hàng
tài trợ cho dự án được xác định theo nguyên tắc sau đây:
Số tiền cho vay = Nhu cầu vốn đầu tư – VCSH tham gia vào dự án – các vốn khác
Thứ hai, ta biết mức lãi suất cho vay theo đầu tư cao và thực hiện phân tích trước khi
cho vay cũng như quản lý khoản vay chặt chẽ hơn. Thời hạn cho vay của dự án thường kéo
dài nhiều năm, chủ yếu là các khoản cho vay trung và dài hạn. Đặc tính của dự án là cần một
lượng vốn đầu tư lớn, được thực hiện trong khoảng thời gian dài. Như thế, hoạt động cho vay
theo dự án có tiềm ẩn rủi ro cao. Vì vậy, các Ngân hàng đòi hỏi một mức lãi suất cho vay cao
và chặt chẽ để bù đắp và hạn chế rủi ro.
Một dự án được lập và phân tích kỹ đến đâu vẫn thể hiện tính chủ quan của phía chủ
đầu tư, khi quyết định đầu tư vàp dự án bao giờ chủ đầu tư cũng có cái nhìn lạc quan hơn đối
với dự án, vì vậy hồ sơ dự án có thể không đánh giá hết các khía cạnh liên quan đến dự án

như các thông tin số liệu trong luận chứng kỹ thuật, các yếu tố chi phí, lợi nhuận, không dự
báo hết các vấn đề trong dài hạn, … Hơn nữa, trong hoạt động Ngân hàng nhiều lúc xảy ra
tình trạng thông tin không cân xứng, do đó những thông tin về dự án mà khách hàng cung cấp
không phải lúc nào cũng chính xác.
Nguyên tắc cho vay của NHTM là phải dựa trên các dự án có hiệu quả, vì sự thất bại của
dự án sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ, tác động tiêu cực trực tiếp đến hoạt động kinh doanh
của bản thân Ngân hàng cho vay, không chỉ đơn thuần làm giảm lợi nhuận. Mà còn làm giảm
khả năng thanh toán của Ngân hàng. Nếu nghiêm trọng và hiện tượng xảy ra hàng loạt sẽ tác

hthành từ vốn vay dùng trả nợ dùng trả nợ

Chỉ số này cho nhà đầu tư và cán bộ tín dụng biết trung bình sau bao nhiêu năm thì dự án
trả hết vốn vay. Các đại lượng trong công thức là các giá trị trung bình năm mang tính đại
diện, vì vậy cũng không phản ánh một cách chính xác thời gian thu hồi vốn trong suốt vòng
đời dự án. Chỉ tiêu này thực hiện theo phương pháp thẩm định sử dụng các chỉ tiêu giản đơn,
bỏ qua giá trị thời gian của tiền. Để nâng cao tính chính xác cho công việc thẩm định, các chỉ
tiêu phức tạp hơn tính bằng giá trị hiện tại được sử dụng: NPV và IRR.
NPV =




n
i
i
i
CF
k
CF
1
0
)1(NPV- Giá trị hiện tại ròng – Là chênh lệch giữa tổng giá trị hiện tại của các dòng tiền thu
được trong tương lai với tổng vốn đầu tư bỏ ra được hiện tại hóa. NPV phản ánh giá trị tăng

thêm cho chủ đầu tư, một dự án có NPV dương là có tính khả thi. NPV là một chỉ tiêu quan
trọng giúp chủ đầu tư ra quyết định có đầu tư vào dự án hay không, đồng thời cũng giúp cán

cả nợ gốc và lãi vay)
1.4. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động cho vay theo dự án
Để đánh giá một vấn đề chúng ta có rất nhiều quan điểm, nhiều giác độ nhìn nhận. Vậy
để đánh giá chất lượng hoạt động cho vay theo dự án bài viết phân loại theo nhóm một cách
tương đối là:
Nhóm chỉ tiêu 1: Quy mô, hình thức cho vay.
Nhóm chỉ tiêu 2: Tính an toàn và khả năng sinh lời của dự án.
Nhóm chỉ tiêu 3: Mở rộng đối tượng cho vay
1.4.1 Nhóm chỉ tiêu 1: Quy mô, hình thức cho vay.
1.4.1.1 Doanh số cho vay, dư nợ cho vay và số lượng dự án.
Quy mô tín dụng nói chung và quy mô cho vay nói riêng trước hết thể hiện ở doanh số
cho vay và dư nợ cho vay. Trong cho vay theo dự án, doanh số cho vay là giá trị những món
vay Ngân hàng cho doanh nghiệp vay. Hiểu đơn giản, doanh số cho vay là con số tuyệt đối
trong hợp đồng tín dụng ký kết giữa Ngân hàng và khách hàng. Tránh nhầm lẫn doanh số cho
vay với tổng đầu tư của dự án. Trong cơ cấu vốn đầu tư của dự án có thể có nhiều nguồn tài
trợ khác ngoài vốn vay Ngân hàng. Để xác định chính xác doanh số cho vay cần dựa vào hợp
đồng tín dụng giữa Ngân hàng và chủ đầu tư. Nếu như doanh số cho vay được xác định vào
thời điểm bắt đầu dự án thì khoảng thời gian tiếp theo khi chủ đầu tư thực hiện trả nợ gốc vã
lãi vay lại ảnh hưởng tới dư nợ cho vay của Ngân hàng. Dư nợ cho vay là số tiền vay mà

khách hàng còn phải trả nằm trong kế hoạch trả nợ của dự án. Như vậy, rõ ràng dự án lớn với
vốn đầu tư lớn không thể tương ứng với doanh số cho vay và dư nợ cho vay nhỏ. Nhìn chung
doanh số cho vay và dư nợ cho vay là những tiêu chí thông dụng nhất đánh giá quy mô cho
vay của Ngân hàng. Bên cạnh đó, số lượng dự án cũng là một tiêu chí hiệu quả đánh giá cho
vay theo dự án.
Các chỉ tiêu doanh số cho vay, dư nợ cho vay hay số lượng dự án chỉ phản ánh những
con số tuyệt đối về quy mô cho vay. Để có được kết luận logic và chính xác hơn, loại hình tổ
chức của Ngân hàng cần được phân tích với những chỉ tiêu như: thẩm quyền quyết định cho
vay của chi nhánh, nguồn vốn huy động của Ngân hàng, quy mô tổng tài sản, quy mô vốn chủ
sở hữu….Không thể sự dụng các con số tuyệt đối về dư nợ cho vay của Ngân hàng quốc

thường được thực hiện theo hình thức thông thường với các điều khoản khắt khe về tài sản
đản bảo, lãi vay, thời hạn trả nợ, thời gian ân hạn,…Các dự án quy mô nghành hoặc quốc gia
với sự tham gia của chính phủ hay các tổ chức quốc tế, lại thường có sự ưu đãi. Đó là vì mục
đích lợi ích xã hội của các dự án này: các chương trình điện- đường- trường- trạm, các
chương trình phát triển nông thôn, các chương trình trồng rừng… Trong hình thức cho vay ưu
đãi vấn đề lãi suất dành được sự quan tâm đặc biệt, vì có liên quan trực tiếp tới thu nhập của
ngân hàng. Tuy nhiên, nếu như ngân hàng chỉ thực hiện một hình thức cho vay điều đó không
có nghĩa hoạt động tín dụng không được mở rộng có thể quy mô tín dụng vẫn tăng, nhưng
nếu chỉ tập trung vào một hình thức nào đó, ngân hàng sẽ không tối đa được lợi ích của mình.
Ngân hàng thực hiện được càng nhiều hình thức cho vay dự án, điều đó cũng đồng nghĩa với
hoạt động tín dụng đang được mở rộng. Với hình thức cho vay thông thường có thể ngân hàng
sẽ thu được nhiều lãi vay hơn, nhưng quy mô dự án lại nhỏ hơn, và không có cơ hội tiếp cận
những nguồn vốn lớn. Với hình thức cho vay ưu đãi rõ ràng ngân hàng sẽ không thu được lãi

theo mong muốn. Mở rộng cho vay theo dự án cũng đòi hỏi phải có cơ cấu cho vay hợp lý
trong hình thức cho vay.
1.4.2. Tính an toàn và khả năng sinh lời của dự án
Như bất kỳ khoản cho vay nào khác, hai vấn đề ngân hàng quan tâm nhất khi tài trợ
một dự án là mức độ an toàn và khả năng sinh lời của món vay. Một dự án được coi là an toàn
với ngân hàng khi dự án đảm bảo có đủ dòng tiền vào để trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng. Có
nhiều biện pháp để đảm bảo an toàn cho một dự án, trong đó phổ biến nhất là ngân hàng yêu
cầu tài sản đảm bảo. Cũng có những dự án thuộc diện chính sách, ưu đãi không có tài sản đảm
bảo nhưng có được sự bảo lãnh của Chính phủ. Bên cạnh đó, lãi suất chovay là vấn đề ngân
hàng đặc biệt chú ý. Ngân hàng có thể cho vay với lãi suất cố định, lãi suất cho vay thả nổi
hoặc lãi suất cho vay ưu đăi. Trong hoạt động tín dụng, ngân hàng thường phải chấp nhận
đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận. Cho vay một dự án với mức rủi ro thấp ( ví dụ một dự án ưu
đãi của Chính phủ ) ngân hàng phải chấp nhận lãi suất cho vay thấp ( thông thường là lãi suất
ưu đãi ). Ngược lại, cho vay với các dự án rủ ro cao, mạo hiểm ngân hàng sẽ có được lợi tức
kỳ vọng cao
1.4.3. Mở rộng đối tượng cho vay

cho vay, các hoạt động phòng ngừa rủi ro và quản lí lãi suất, hoạt động thẩm định dự án, hiệu
quả cho vay.
 Điều kiện cho vay
Khi thực hiện cho vay, NHTM luôn đưa ra những ràng buộc đối với khách hàng nhằm
mục tiêu đảm bảo an toàn cho món vay và đảm bảo ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi vay đúng
thời hạn và đủ số lượng. Trong hồ sơ vay vốn ngân hàng, bên cạnh giấy đề nghị vay vốn,

ngân hàng yêu cầu khách hàng có các giấy tờ chứng minh pháp lý, báo cáo chứng minh tình
hình tài chính, giấy tờ tài sản đảm bảo. Chỉ khi những giấy tờ đó đạt yêu cầu tín dụng của
ngân hàng, doanh nghiệp mới được vay vốn. Điều kiện vay vốn chính là công cụ của ngân
hàng để đảm bảo cho hoạt động tín dụng đạt mục tiêu chung của ngân hàng: tính sinh lời và
tính an toàn.
Các ngân hàng khác nhau với những cơ chế hoạt động khác nhau có mức độ khắt khe
trong điều kiện vay vốn khác nhau. Các NHTM nhà nước hoạt động theo cơ chế bao cấp cũ
thường có điều kiện vay vốn rất thoáng cho các doanh nghiệp nhà nước. Trong khi đó, các
NHTM cổ phần nhìn chung có điều kiện vay vốn chặt chẽ hơn vào những giai đoạn phát triển
khác nhau của nền kinh tế điều kiện vay vốn của ngân hàng cũng khác nhau. Khi nền kinh tế
đang tăng trưởng tốt, các doanh nghiệp hoạt động tốt và khả năng trả nợ cao ngân hàng hoàn
toàn có thể nới lỏng điều kiện vay vốn của mình. Trên thực tế NHTM nào áp dụng điều kiện
vay vốn lỏng hơn, những yêu cầu về tình hình tài chính hay tài sản đảm bảo ít khắt khe hơn có
nhiều cơ hội mở rộng tín dụng hơn. Ngược lại những ngân hàng thực hiện điều kiện vay vốn
quá khắt khe khiến cho các doanh nghiệp e dè trong việc lập hồ sơ vay vốn. Hơn thế nữa bản
thân các doanh nghiệp cũng không thoả mãn điều kiện vay vốn của các ngân hàng đó, hậu quả
tất yếu là ngân hàng rất khó mở rộng tín dụng.
 Phòng ngừa rủi ro của ngân hàng.
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng phải đối mặt với rất nhiều rủi ro: rủi ro tín dụng,
rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hoạt động, rủi ro hối đoái. Ngân hàng có nhiều biện
pháp để chống lại các rủi ro nói trên và đảm bảo tình hình tài chính của mình: nâng cao năng
lực quản lí, đa dạng hoá, vốn chủ sở hữu.
 Nâng cao chất lượng quản lý: Công tác quản lý - năng lực trong điều hành ảnh hưởng


Mở rộng hoạt động cho vay theo dự án là phát triển chiều rộng hoạt động tín dụng cua
NHTM. Quá trình này gắn liền với phát triển chiều sâu: đạt hiệu quả tín dụng nói riêng và
hiệu quả của dự án nói chung. Ngân hàng quan tâm về hiệu quả đầu tư tín dụng, trong khi chủ
đầu tư và các cơ quan quản lý Nhà nước quan tâm tơi hiệu quả kinh tế xã hội của dự án. Hoạt
động mở rộng tín dụng chỉ được đánh giá là thành công khi đạt hiệu quả trên hai góc độ này.
 Hiệu quả tín dụng của ngân hàng: như đã phân tích ở mục 1.4.2.
 Hiệu quả kinh tế xã hội: Mặc dù đây dường như là mối quan tâm hàng đầu của các cơ
quan quản lý Nhà nước, tuy nhiên nó cũng không nằm ngoài tầm quan sát của chủ đầu tư và
ngân hàng. Chủ đầu tư quan tâm nhất tới khả năng sinh lời của dự án. Tuy nhiên, để có thể đạt
được lợi tức kỳ vọng, trước hết dự án phải có tính khả thi và được cơ quan quản lý nhà nước
phê duyệt. Cùng mối quan tâm đó, trong tờ trình thẩm định dự án của cán bộ tín dụng ngân
hàng luôn có đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của dự án. Đặc biệt, trên thực tế những dự án có
quy mô lớn lại là những dự án mang tính chiến lược, với sự tham gia của Chính phủ hay các
tổ chức phi chính phủ và hiệu quả kinh tế xã hội là mục tiêu lớn nhất của dự án này.
 Hoạt động thẩm định.
Khi mở rộng cho vay, cùng với sự tăng lên về quy mô vốn vay ngân hàng luôn phải đối
mặt với nguy cơ rủi ro tăng cao. Việc mở rộng cho vay phải được xây dựng trên cơ sở nâng
cao sự an toàn cho ngân hàng. Để thực hiện điều đó, chất lượng hoạt động thẩm định là chiếc
chìa khoá dẫn tới thành công cho ngân hàng. Chất lượng hoạt động thẩm định là yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp tới hiệu quả của mở rộng cho vay,do đó ảnh hưởng tới mở rộng cho vay. Hoạt
động cho vay được xây dựng trên cơ sở chất lượng thẩm định tốt sẽ có tính bền vững và mức
độ an toàn cao. Ngược lại, nếu hoạt động thẩm định không hiệu quả, viêc mở rộng cho vay sẽ
phải đối mặt với nguy cơ rủi ro tiềm tàng rất lớn. Nhìn chung, hoạt động thẩm định là yếu tố
ảnh hưởng trực tiếp và rõ ràng nhất tới chất lượng và hiệu quả của quá trình mở rộng cho vay.
Nâng cao chất lượng phải đi cùng mở rộng và phải đặt trong mối quan hệ tổng thể phát
triển chung của ngân hàng mới có sự phát triển toàn diện.
1.5.2 Các nhân tố ngoài Ngân hàng.

Trích đoạn Phương hướng hoạt động của chi nhánh NHCT Bến Thủy năm 2008. TỔNG GIÁM ĐỐC
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status