LUẬN VĂN:
Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
thanh toán quốc tế tại Sở giao dịch I –
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Việt Nam
Lời mở đầu
Trong thời đại ngày nay, khi mà trình độ quốc tế hóa đời sống kinh tế ngày càng
cao thì không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển nếu thực hiện chính sách kinh
tế đóng cửa. Bất kể là đi theo chế độ chính trị nào, các quốc gia đều nhận thức được ý
nghĩa to lớn của việc tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, nền tảng phát
triển trao đổi hàng giữa các nước.
Sự buôn bán, giao lưu hàng hóa giữa các nước đặt ra yêu cầu cho quan hệ vấn đề là
phải thanh toán quốc tế. Trong thương mại quốc tế, việc thanh toán quốc tế diễn ra dưới các
hình thức hàng đổi hàng hoặc chi trả bằng tiền tệ. Quan hệ thanh toán quốc tế được tổ chức
ngày một hoàn chỉnh cùng với sự phát triển của hệ thống các NHTM và sự xuất hiện của
phương tiện thanh toán quốc tế.
Về bản chất, thanh toán quốc tế là việc chi trả lẫn nhau giữa người chi trả (người
nhập khẩu) và người thụ hưởng (người xuất khẩu) ở các quốc gia để hoàn tất các khoản
về xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, đầu tư vốn, vay nợ, viện trợ theo những hình thức
thanh toán khác nhau.
1.1.2. Vai trò của thanh toán quốc tế
a) Đối với hoạt động xuất nhập khẩu
- Thanh toán quốc tế là một công cụ quan trọng góp phần thực hiện giá trị hàng
hóa xuất nhập khẩu. Khi quá trình thanh toán được hoàn tất nghĩa là giao dịch đã được
thực hiện. Quá trình dịch chuyển của hàng hóa có thể diễn ra trước, trong hoặc sau quá
trình thanh toán nhưng trên thực tế, đa số trường hợp thanh toán là khâu sau cùng. Chính
vì vậy, thanh toán là điều kiện cần và đủ để quá trình phân phối hàng hóa xảy ra.
- Thanh toán quốc tế là cầu nối giữa người mua và người bán (hay giữa nhà nhập
khẩu và xuất khẩu) vì nó gắn với quyền lợi và nghĩa vụ của các bên. Các quy định về
điều kiện thanh toán đều do hai bên thỏa thuận và thống nhất. Nếu các điều kiện đó được
thực hiện nghiêm túc và hợp lý thì sẽ đảm bảo được quyền lợi cũng như uy tín của các bên.
Ngoài ra, thanh toán quốc tế phát sinh từ các hoạt động ngoại thương, qua thanh toán, các
doanh nghiệp tham gia xuất khẩu sẽ nắm bắt được các thông tin về thị trường trong và
chủ yếu trong thanh toán quốc tế là hối phiếu, lệnh phiếu, thẻ séc.
a) Hối phiếu
Hối phiếu là một lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký phát cho một người
khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy hối phiếu hoặc đến một ngày cụ thể nhất định,
hoặc đến một ngày có thể xác định trong tương lai, phải trả một số tiền nhất định cho một
người nào đó, hoặc theo lệnh của người này trả cho một người khác hoặc trả cho người
cầm phiếu.
Các loại hối phiếu
Dựa vào các tiêu thức khác nhau mà người ta có thể phân chia hối phiếu như sau:
- Căn cứ vào chủ thể lập hối phiếu: Hối phiếu thương mại; Hối phiếu Ngân hàng.
- Căn cứ vào thời hạn trả tiền: Hối phiếu trả tiền ngay; Hối phiếu có kỳ hạn.
- Căn cứ vào chứng từ kèm theo: Hối phiếu trơn; Hối phiếu kèm chứng từ.
- Căn cứ vào sự chuyển nhượng: Hối phiếu đích danh; Hối phiếu theo lệnh.
Đặc điểm của hối phiếu
- Tính trừu tượng: Trên hối phiếu không cần ghi quan hệ tín dụng, không cần ghi
rõ nguyên nhân phát sinh việc lập hối phiếu, chỉ cần ghi rõ số tiền phải trả, trả cho ai,
người nào thanh toán, khi nào phải thanh toán. Khi hối phiếu nằm trong tay người thứ ba
tách ra khỏi hợp đồng thì nó trở thành một trái vụ độc lập.
- Tính bắt buộc phải trả tiền: Người trả tiền hối phiếu phải trả đầy đủ đúng theo
nội dung ghi trên tờ hối phiếu và không được viện lý do riêng của bản thân để từ chối trả
tiền, trừ trường hợp hối phiếu lập ra không đúng luật.
- Tính lưu thông của hối phiếu: Thể hiện ở chỗ nó có thể được chuyển nhượng từ
người này sang người khác trong thời hạn của nó bằng phương thức ký hậu.
* Hối phiếu có ưu điểm là: Người sử dụng hối phiếu chủ động trọng thanh toán;
nhờ vào tính chất trừu tượng và tình bắt buộc trả tiền mà hối phiếu có khả năng được sử
dụng như một phương tiện lưu thông thuận tiện trên thị trường hối đoái.
b) Séc (Check)
- Khác với hối phiếu thường gồm 2 bản, lệnh phiếu chỉ có một bản chính do con
nợ ký phát ra để chuyền tiền cho người hưởng lợi.
Vì lệnh phiếu có nhược điểm là thụ động trong thanh toán, cần phải có sự bảo
lãnh của NH hoặc công ty tài chính do vậy, việc sử dụng nó không được thuận tiện nên ít
được được sử dụng hơn hối phiếu
d) Thẻ điện tử
- Thẻ điện tử được sử dụng chủ yếu trong lĩnh vực phi thương mại, sử dụng công
cụ này đòi hỏi phải có máy móc hiện đại chuyên dùng.
- Phương tiện này sẽ ngày càng được sử dụng rộng rãi trong thời đại khoa học kỹ
thuật phát triển một cách nhanh chóng và truyền tin viễn thông ngày một hoàn hảo như
hiện nay.
- Ưu điểm sử dụng thẻ: Đảm bảo an toàn trong thanh toán.
- Nhược điểm: Nó chịu sự khống chế của thời hạn hiệu lực và số dư tài khoản gốc
tại nơi phát hành thẻ; thanh toán các khoản nhỏ phát sinh trong du lịch.
1.2.2. Các phương thức trong thanh toán quốc tế
Phương thức thanh toán là người bán dùng cách nào để trả tiền hàng. Trong buôn
bán người ta có thể lựa chọn nhiều phương thức khác nhau để thu tiền hàng hoặc trả tiền
hàng. Mỗi phương thức đều có ưu nhược điểm của nó và đây cũng chính là điểm nảy sinh
mâu thuẫn về quyền lợi giữa người mua và người bán. Vì vậy, người mua người bán đều
quan tâm đến việc lựa chọn một phương thức thanh toán thích hợp nhất trong giao dịch
mua bán của mình.
Ngân hàng là một thành viên quan trọng thanh toán quốc tế. Chất lượng công tác
thanh toán quốc tế của ngân hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh của đôi bên tham gia thương mại. Tuy nhiên, ngân hàng chỉ là một thành viên
tham gia thanh toán hộ, làm dịch vụ cho khách. Do đó, ngân hàng chỉ tiến hành thanh
toán theo phương thức mà các bên đã ký kết trong hợp đồng, không liên quan đến việc
mua bán giữa họ.
Có ba phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu qua ngân hàng, đó là:
hàng hóa không đúng như trong hợp đồng mà không nhận, dẫn đến không đảm bảo thu
đủ tiền hàng hoặc không thu được đúng hạn. Việc trả tiền cho người bán phụ thuộc vào
thiện chí của người mua, do vậy bên xuất khẩu dễ bị bên nhập khẩu chiếm dụng vốn
trong thanh toán.
Qua đó, ta thấy rằng phương thức thanh toán này tỏ ra không công bằng giữa hai
bên, thanh toán diễn ra không chắc chắn, không an toàn. Do vậy, chỉ áp dụng phổ biến để trả
nợ thanh toán tiền hàng và vốn giữa công ty mẹ và công ty con trả tiền ứng trước, thanh toán
hợp đồng đại lý thanh toán phi mậu dịch.
b) Phương thức nhờ thu
* Khái niệm: Phương thức nhờ thu là phương thức mà người bán sau khi hoàn
thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng sẽ ký phát hối
phiếu đòi tiền người mua, nhờ ngân hàng thu hộ số tiền số tiền ghi trên hối phiếu.
* Các loại nhờ thu
- Nhờ thu phiếu trơn (Clean collection): Là phương thức trong đó người bán ủy
thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua, căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra, không
kèm theo điều kiện gì cả, còn chứng từ hàng hóa gửi thẳng cho người mua không qua
ngân hàng.
- Nhờ thu kèm chứng từ (Document Collection): Là phương thức mà người bán
ủy thác cho Ngân hàng thu hộ tiền ở người mua, không những căn cứ vào hối phiếu mà
còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hóa gửi kèm theo với điều kiện là nếu người mua trả
tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu thì Ngân hàng mới trao bộ chứng từ hàng hóa cho
người mua để nhận hàng.
Căn cứ vào thời hạn trả tiền, nhờ thu kèm chứng từ có 2 loại:
+ Nhờ thu trả tiền đổi chứng từ (Document against payment - D/P): Đó là
phương thức nhờ thu, theo đó Ngân hàng đại lý tại nước được chỉ thị của Ngân hàng
nước xuất khẩu trao chứng từ cho người mua hàng khi người mua hàng trả đủ số tiền ghi
trên hối phiếu.
hiểm, phạt bồi thường
+ Phương thức nhờ thu phiếu trơn không được áp dụng nhiều trong thanh toán về
mậu dịch, vì nó không đảm bảo quyền lợi cho người bán vì việc nhận hàng của người
mua hoàn toàn tách rời khỏi khâu thanh toán, do đó người mua có thể nhận hàng mà
không trả tiền hoặc chậm trễ thanh toán. Đối với người mua áp dụng phương thức này
cũng có điều bất lợi, vì nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ hàng hóa, người mua phải
trả tiền ngay trong khi không biết việc giao hàng của người bán có đúng hợp đồng hay
không.
Nhờ thu kèm chứng từ có một số nhược điểm như sau:
+ Người bán thông qua Ngân hàng mới khống chế được quyền định đoạt hàng
hóa của người mua chứ chưa khống chế được việc trả tiền của người mua. Trong trường
hợp giá hàng giảm thì rủi ro.
+ Người mua có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưa nhận chứng từ hàng hóa
hoặc có thể không trả tiền khi thấy tình hình tài chính bất lợi cho họ.
+ Việc trả tiền còn quá chậm chạp, từ lúc giao hàng đến lúc nhận được tiền có
khi kéo dài vài tháng hoặc nửa năm.
+ Trong phương thức này Ngân hàng chỉ đóng vai trò làm người trung gian thu
tiền hộ còn không có trách nhiệm đến việc trả tiền của người mua.
c) Phương thức tín dụng chứng từ
* Khái niệm: Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận trong đó một
Ngân hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư
tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho người khác (người hưởng lợi số tiền của L/C)
hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này
ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho Ngân hàng một bộ chứng
từ thanh toán phù hợp với những quy định về ra trong L/C.
* Các loại thư tín dụng:
- Thư tín dụng không thể hủy ngang: Là loại thư tín dụng sau khi đã được mở thì
- Ưu điểm:
+ Tín dụng chứng từ đã khắc phục được nhược điểm của hai phương thức nhờ
thu và chuyển tiền, trong quan hệ này lợi ích của người mua và người bán được đảm bảo
nếu thực hiện đúng các điều kiện và điều khoản trong hợp đồng. Người bán và người
mua có thể tính toán được thời gian phải thanh toán và thời gian nhận được tiền do đó tự
chủ về tài chính.
+ Đối với người xuất khẩu: họ được đảm bảo chắc chắn rằng sau khi giao hàng
và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo đúng điều kiện trong L/C thì được thanh toán
tiền ngay.
+ Đối với người nhập khẩu: Họ cũng được đảm bảo chắc sau khi trả tiền họ cũng
nhận được hàng ngay.
- Nhược điểm:
+ Đối với người xuất khẩu: Đôi khi Ngân hàng và người nhập khẩu từ chối thanh
toán, do vậy có thể gặp phải rủi ro thanh toán nên cần tìm một ngân hàng lớn xác nhận.
+ Đối với người nhập khẩu: Khi yêu cầu mở L/C, họ phải ký gửi một số tiền hoặc
vay của Ngân hàng, do vậy, vốn lưu động sẽ bị ứ đọng, hàng về sau, chứng từ về trước
không biết hàng như thế nào đã phải thanh toán do vậy dễ bị gặp rủi ro về hàng hóa.
- Mặt khác, thanh toán theo phương thức L/C là giao dịch trên giấy tờ. Những chứng
từ gửi hàng do hãng vận tải phát hành là chứng từ đổi lấy hàng hóa. Nhưng những dữ kiện ghi
trên chứng từ chỉ là những thông tin bên ngoài bao bì theo báo cáo của người xuất khẩu. Hãng
vận tải mặc dù có trách nhiệm kiểm tra nhưng cũng không thể kiểm tra toàn bộ hàng hóa một
cách chi tiết, đảm bảo chính xác nội dung hàng hóa có đúng như thế không. Điều này phần nào
giao phó cho người xuất khẩu. Vì vậy, nếu gặp phải người xuất khẩu tùy tiện, đóng cả hàng
xấu hàng tốt thì hãng vận tải làm chứng từ hóa đơn xác nhận đã nhận.
- Về phần mình, Ngân hàng cũng chỉ nhận chứng từ gửi hàng, thấy đúng với hóa đơn
L/C thì trả tiền. Người nhập cũng phải trả tiền cho Ngân hàng để nhận chứng từ. Khi biết mình
bi lừa người nhập khẩu không thể kiện Ngân hàng, hoặc hãng vận tải, chỉ có thể kiện người
nên người bán có thể thu được tiền nhanh chóng, tăng tốc độ luân chuyển vốn; người
mua có thể nhận hàng gần như đồng thời với việc thanh toán của mình. Chính vì lẽ đó mà
tín dụng chứng từ được sử dụng nhiều nhất, chiếm khoảng 80% tổng kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam.
Như vậy, phương thức thanh toán đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong nền ngoại
thương Việt Nam. Nó trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi và nghĩa vụ của các nhà xuất
khẩu Việt Nam trong quá trình thực hiện hợp đồng ngoại thương. Tùy từng loại hàng hóa,
từng trường hợp cụ thể mà các nhà xuất nhập khẩu Việt Nam cần lựa chọn phương thức
thanh toán cho phù hợp, không bị các nhà xuất khẩu nước ngoài ăn chặn, chèn ép, nhất là
trong điều kiện Việt Nam mới bước đầu tham gia vào thị trường thế giới sôi động, linh
hoạt và đầy phức tạp.
1.3. Những văn bản pháp lý liên quan đến thanh toán quốc tế
1.3.1. Những văn bản pháp lý là cơ sở cho thanh toán quốc tế
Thanh toán quốc tế là một khâu quan trọng trong hoạt động ngoại thương lại rất
phức tạp. Đây là những văn kiện pháp lý quan trọng điều tiết các mối quan hệ tiền tệ, tín
dụng và thanh toán quốc tế. Để công tác thanh toán quốc tế được tiến hành tốt, nắm vững
những văn kiện này là rất cần thiết. Do đó, nếu không xem xét đến chúng ở đây thì sẽ là
thiếu sót.
a) "Qui tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ" do phòng Thương mại
Quốc tế ban hành năm 1933, sau đó được sửa đổi cho phù hợp với điều kiện buôn bán và
thanh toán quốc tế vào năm 1957, 1962, 1974, 1983 và mới đây nhất là UCP 500 có hiệu
lực từ 1/1/1994
Bản qui tắc này mang tính chất pháp lý tùy ý, có nghĩa là khi áp dụng nó các bên
đương sự phải thỏa thuận và ghi vào văn bản hợp đồng, cũng có thể thỏa thuận khác miễn
là có dẫn chiếu.
Bản qui tắc này qui định những vấn đề có tính nguyên tắc về khái niệm, quyền lợi và
nghĩa vụ của các bên liên quan trong thanh toán tín dụng chứng từ, thủ tục, phí, chứng từ khi
b) Hợp đồng thương mại
Là những hợp đồng mua bán cụ thể do các tổ chức hay cá nhân các nước ký kết.
Nội dung các hợp đồng đều đề cập đến các điều khoản thanh toán.
Việt Nam trong quan hệ mậu dịch quốc tế cũng áp dụng những văn bản pháp lý nêu
trên để thực hiện thanh toán các hợp đồng xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó, các đơn vị xuất
nhập khẩu còn phải tuân thủ luật pháp trong nước.
Chương II
Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế
sở giao dịch I NHNo & PTNT Việt Nam
2.1. Tổng quan về hoạt động kinh doanh đối ngoại của sở giao dịch I - NNo
& PTNT VN
2.1.1. Vài nét về sở Giao dịch I - NHNo & PTNTVN
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là doanh nghiệp nhà
nước, kinh doanh trên lĩnh tiền tệ tín dụng ngân hàng đối với các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế trong và ngoài nước, làm ủy thác các nguồn vốn trung và dài hạn ngắn
hạn của Chính phủ, các tổ chức kinh tế xã hội, cá nhân trong và ngoài nước thực hiện tài
trợ tín dụng chủ yếu cho nông nghiệp và nông thôn.
Sở giao dịch - I NHNo & PTNT VN được thành lập theo Quyết định số 15
TCCB ngày 06/03/91 của Tổng Giám đốc NHNo VN là một đơn vị trực thuộc Trung tâm
Điều hành NHNo & PTNT VN tự chủ về tài chính, thu nhập, về kết quả kinh doanh và
những cam kết của mình, có bảng tổng kết tài sản và con dấu riêng, hoạt động trong
khuân khổ pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính (từ 01/10/98
thay bằng luật các tổ chức tín dụng) và điều lệ NHNo & PTNT VN.
So với các chi nhánh khác trong cùng hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam thì Sở
ra đời muộn hơn nhưng đã ngày càng khẳng định rõ hơn vị trí của mình ở tính phù hợp
trong hệ thống tổ chức, tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, đảm bảo chất lượng và
TCKT
500 600 +100 +20
2. Nguồn ngoại tệ 15.321,6 30.233 +14.911,4 +97,3
Không kỳ hạn 2.712 2.866 +154 +5,7
Có kỳ hạn 12.609.6 27.367 +14.757 +117
Cho vay 662,8 1.302,4 +639,6 +96,5
1. DNQD 604,7 1.173,3 +532,5 +83,11
2. DNNQD 21,1 129,2 +107,1 +484,6
Thu nợ 708,1 1.056,3 +348,2 +49,2
1. DNQD 679,4 942,2 +262,8 +38,7
2.NQD 28,7 29,9 +1,2 +4
Dư nợ 157 403 +246 +156,7
1. Dư nợ ngắn hạn 152 385 +233 +153
2. Dư nợ trung dài
hạn
5 18 +13 +280
Nợ quá hạn 2,5 22,3 +19,8 +792
1. DNNN 0,43 22,2 +21,77 +5062
2. DNNQD 2,07 0,1 -1,97 -95
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 1999, năm 2000).
* Hoạt động tín dụng năm 2000
a) Công tác huy động vốn
Tổng nguồn huy động đến 31/12/2000 đạt 2.260 (bao gồm cả ngoại tệ qui VNĐ)
so với năm 99 giảm 293,2 tỷ đồng, trong đó:
- Nguồn vốn hoạt động nội tệ giảm 22% với số tuyệt đối giảm 516
tỷ đồng. Nguồn vốn hoạt động ngoại tệ tăng 97,3% với số tuyệt đối là 14,9114 ngàn
USD.
6,6% triệu USD.
Hoạt động thu nợ cũng đạt được kết quả. Trong năm thu hồi được 4.565 triệu
đồng Nợ quá hạn, trong đó nợ khó đòi 643 triệu đồng. Việc thu nợ quá hạn vừa tích cực
vừa đôn đốc, vừa tháo gỡ khó khăn nên đã thu hết nợ của Công ty Kỹ thuật Điện thông
600 triệu đồng, Công ty giống thức ăn chăn nuôi gia súc 573 triệu đồng.
Tình hình dư nợ tăng lên đáng kể. Tình hình Nợ quá hạn cao nhưng nguyên nhân
là do khoản nợ 20,2 tỷ trong thanh toán vì khách hàng thanh toán buộc Ngân hàng phải
ghi vào Nợ quá hạn.
2.1.2. Đặc điểm hoạt động của Sở giao dịch I - NHNo & PTNT Việt Nam và
ảnh hưởng của nó tới nghiệp vụ thanh toán quốc tế
a) Thuận lợi
- Thuận lợi đầu tiên ta thấy đó là nguồn vốn của Sở rất lớn và tăng đều qua các
năm. Nguồn vốn lớn ổn định là cơ sở đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của Sở.
- Với qui mô và địa bàn hoạt động chủ yếu là các khu vực nội ngoại thành Hà
Nội, lại nằm trên địa bàn quận Đống Đa - một trung tâm kinh tế thương mại của Thành
phố. Điều này, tạo điều kiện thuận lợi cho Sở rất nhiều trong lĩnh vực giao dịch với khách
hàng cũng như trong việc kịp thời nắm bắt thông tin thị trường.
- Sở là Ngân hàng hoạt động kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và
nông thôn, Sở thực hiện tất cả các nghĩa vụ từ khâu cho vay sản xuất đến khâu thu mua.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, nước ta là một trong ba nước xuất khẩu gạo cao trên
thế giới, sản lượng các mặt hàng khác như cà phê, chè, hồ tiêu, cao su cũng tăng nhanh
Đây là điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh tài trợ xuất nhập khẩu theo chủ
trương của Chính phủ.
- Thực hiện chương trình hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, Nhà nước không
những chỉ chú trọng đến đầu tư tín dụng cho các hộ, các doanh nghiệp sản xuất nông
nghiệp mà còn chú trọng đến đầu tư cho cơ sở hạ tầng nông nghiệp và nông thôn, đầu tư
trung dài hạn các doanh nghiệp chế biến, kinh doanh nông sản. Điều này, cũng tạo môi
nhập, khách hàng xuất chưa nhiều nên thanh toán quốc tế gặp phải nhiều khó khăn khi tìm
kiếm nguồn cung ngoại tệ. Mặc dù phải đương đầu với những khó khăn như vậy song số
lượng giao dịch, số món và số tiền tăng đều đặn qua các thời kỳ, đảm bảo an toàn trong
khâu thanh toán.
Nếu như trong 6 tháng cuối năm 1998, do vừa mới thành lập, mọi hoạt động về
huy động tiết kiệm, thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ còn bị hạn chế, bước đầu vừa
làm vừa học hỏi, khách hàng cũng chưa biết nhiều đến hoạt động thanh toán quốc tế của
Sở nên chỉ có 5 đơn vị mở tài khoản, đặt quan hệ thanh toán, doanh số thanh toán đạt
thấp: 33 món với trị giá: 1,7 triệu USD. Do vậy, chỉ đạt chênh lệch thu, chi về nghiệp vụ
mua bán và thanh toán là 95 triệu thì tới năm 1999 và đầu năm 2000 con số này đã khác
hẳn, cụ thể:
Cả ba phương thức thanh toán: chuyển tiền, nhờ thu và tín dụng chứng từ được
sử dụng nhưng giá trị thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ thường đạt kết quả
cao nhất:
a) Nghiệp vụ chuyển tiền
* Nghiệp vụ chuyển tiền đi
Trong trường hợp khách hàng yêu cầu chuyển tiền ra nước ngoài cần xuất trình
cho Sở hồ sơ chuyển tiền gồm: Lệnh chuyển tiền; Hợp đồng mua bán xuất nhập khẩu;
Hạn ngạch giấy phép xuất nhập khẩu theo qui định của bộ Thương mại; Bộ chứng từ theo
qui định của hợp đồng xuất nhập khẩu, cùng các giấy tờ khác liên quan đến việc chuyển
tiền theo mẫu của Sở. Sau đó, Sở sẽ kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ. Nếu hợp lệ
thì thu tiền của khách hàng (bao gồm cả dịch vụ phí) đồng thời lệnh cho đơn vị đầu mối
ghi Nợ tài khoản của mình và chuyển tiền thanh toán cho Ngân hàng nước ngoài.
Thực hiện nghiệp vụ này, Sở là Ngân hàng phát hành lệnh chuyển tiền, khách
hàng trong nước phải xuất trình lệnh chi trả ghi rõ: Ai là người thụ hưởng? Số tiền là bao
nhiêu? Loại tiền gì? Lý do chuyển? Sau khi kiểm tra tính pháp lý của lệnh chuyển tiền,
Sở có trách nhiệm chuyển đúng số lượng, loại tiền, địa chỉ theo yêu cầu của lệnh bằng
USD 14 1.425.484,
7
114
9.117.233
98 10.370.661
14 757.041,84
FRF 6 2.101.441
33 11.258.836
28 12.833.393
4 410.480,60
DEM
2 63.246
1 6.056,4
JPY 1 981.000
so với năm 1999 là 15 món nhưng về giá trị lại tăng hơn so với năm 1999 là 1.253.428
USD. So với năm 98 thì vượt xa cả về số món lẫn số tiền.
Năm 1999, năm 2000 số món và doanh số chuyển tiền tương đối đồng đều, ổn
định, là do kinh tế lấy lại đà tăng trưởng nên các doanh nghiệp đã mở rộng quan hệ buôn
bán ký kết được nhiều hợp đồng lớn. So với Ngân hàng Ngoại thương - Ngân hàng mạnh
nhất về thanh toán quốc tế. Sở chưa có một công nghệ chuyển tiền hiện đại như chương
trình thanh toán "Money gram" một chương trình chuyển tiền hết sức nhanh chóng và
thuận tiện có thể cho phép một khách hàng tại Việt Nam có thể lĩnh chọn số tiền gửi về từ
nước ngoài bằng ngoại tệ hoặc đồng Việt Nam trong 24 giờ mà không phải tốn phí.
Bên cạnh đó, ngành bưu chính viễn thông cũng là một đối thủ cạnh tranh lớn. Vì,
trong những năm gần đây, hệ thống thông tin viễn thông được hiện đại hóa khiến việc
chuyển tiền qua bưu điện cũng rất thuận lợi và nhanh chóng.
Hơn nữa năm 1998 Chính phủ cũng chủ trương thu hẹp diện các doanh nghiệp
được phép tham gia xuất nhập khẩu cũng như việc thu hẹp các mặt hàng nhập khẩu do
nhiều mặt hàng trong nước đã sản xuất được.
Tuy gặp phải những khó khăn lớn như vậy, song nghiệp vụ chuyển tiền tại Sở có
tốc độ tăng trưởng khá tốt cả về số món lẫn giá trị từng món. Con số đạt được còn khá
khiêm tốn, nhưng nó cũng là dấu hiệu cho chúng ta thấy hoạt động thanh toán chuyển
tiền ở Sở còn phát triển hơn nữa.
Để làm được điều đó là do, Sở thực hiện chiến lược khách hàng "ưu đãi khách
hàng truyền thống", đầu tư khép kín từ khâu sản xuất - chế biến xuất khẩu, thực hiện lãi
suất linh hoạt, thời hạn cho vay hợp lý. Tuy vậy, về lâu dài, Sở cần phải đổi mới công
nghệ chuyển tiền để có thể thắng được đối thủ cạnh tranh và thu hút thêm được nhiều
khách hàng mới.
b) Nghiệp vụ thanh toán nhờ thu
* Với hàng nhập khẩu
Khi nhận được thư nhờ thu kèm chứng từ từ Ngân hàng nước ngoài hoặc từ