LUẬN VĂN: Thực trạng tiêu thụ sản phẩm và biện pháp thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay pot - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Thực trạng tiêu thụ sản phẩm và biện
pháp thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp phải tự giải quyết ba vấn đề trung tâm của
nền kinh tế: sản xuất cài gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? Trong bối cạnh hội

cơ chế thị trường ngày nay doanh nghiệp tự quyết định tiêu thụ sản phẩm, tự chịu trách
nhiệm về hiệu quả tiêu thụ sản phẩm

II.VAI TRÒ CỦA TIÊU THỤ SẢN PHẨM(TTSP)

II.1Tiêu thụ sản phẩm bảo đảm doanh nghiệp (DN)thực hiện đực mục tiêu của
mình Quyết định sự tồn tại, phát triển của DN

Bất kỳ một DN nào kinh doanh trên thương trường đều đặt ra 3 mục tiêu cơ bản,lâu
dài: Lợi nhuận, thế lực và an toàn trong kinh doanh. Chỉ có điều tuỳ thuộc vàoloại hình
DN, tuỳ thuộc vào giai đoạn phát triển của DN (mới thành lập, giai đoạn phát triển, giai
đoạn suy thoái ), tùy thuộc vào chu kỳ sống sản phẩm,tuỳ thuộc vào thị trường ( thị
trường cũ,thị trường mới ), tuỳ thuộc vào điều kiện thực tế, cụ thể,nhưng biến động của môi trường kinh doanh mà DN đặt mục tiêu nào là mục tiêu hàng đầu, quan trọng nhất
để hướng toàn bộ nỗ lực của DN vào cố gắng thực hiện mục tiêu đó
Lợi nhuận là mục tiêu trên hết, trực tiếp,trước mắt, lâu dài và thường xuyên của hoạt
động kinh doanh.Vấn đề là làm thế nào để thu được lợi nhuận?

Lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí

Vậy muốn có lợi nhuận, hoặc tăng doanh thu, hoặc giảm chi phí hoặc kết hợp cả
hai.Để tăng doanh thuDN phải tiêu thụ được hàng hoá nhưng phải đảm bảo Tổng doanh
thu lớn hơn Tổng chi phí thì mới có lãi.DN tiêu thụ được hàng hoá sẽ thu được doanh thu
để bù đắp chi phí và có lãi, thực hiện tái đầu tư vào sản xuất, có vậy DN mới tồn tại và
phát triển
DN tiêu thụ được saản phẩm, điều đó có nghĩa là sản phẩm của DN được thị trường
chấp nhận,thoả mãn được nhu cầu thị trường. Cùng với việc nghiên cứu, phát triển,mở
rộng thị trường để tăng tiêu thụ, sản phẩm của DN ngày càng được người tiêu dùng biết

thiếu, từ nơi có giá cao đến nơi có giá thấp. Vấn đề là DN cần phải nắm bắt kịp thời nhu
cầu của khách hàng để có kế hoạch sản xuất phù hợp, kế hoạch phân phối hàng kịp thời để
tăng hiệu quả kinh doanh.

III NỘI DUNG CỦA TTSP
III.1Điều tra nghiên cứu thị trường để lựa chọn sản phẩm thích ứng
Điều tra nghiên cứu thị trường là khâu đầu tiên và là khâu quan trọng trong việc thành
công hay thất bại của hoạt động TTSP của các DN sản xuất kinh doanh.Nghiên cứu thị
trường để xác định cơ hội hấp dẫn đối với DN, từ đó xác định thị trường để tìm thị trường
trọng điểm,sau đó tìm cách tiếp cận trường trọng điểm để xác định thị trường thích hợp
của DN-là thị trường dảm bảo DN có khả năng khai thác hết cơ hội kinh doanh trên cơ sơ
phát huy tối đa tiềm lực của DN, không quá rộng để DN có khả năng bao quát thị trường
nhưng không quá hẹp để khỏi bỏ lỡ cơ hợi kinh doanh.
Thông qua nghiên cứu thị trường phải trả lời ba vấn đề cơbản trong kinh doanh:

III.1.1Sản xuất cái gì ?
Nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu của người tiêu dùng từ đó sản xuất ra sản
phẩm phù hợpvới nhu cầu của họ."Sản xuất cái gì" nghĩa là DN phải xác định được tên gọi cụ thể của sản phẩm, quy cách, chủng loại như thế nào để kích thích nhu cầu và sản xuất
sản phẩm đó bằng cách nào
để với chi phí thấp nhất mà sản phẩm vẫn đảm bảo chất lượng, thoả mãn nhu cầu của
người tiêu dùng.

III.1.2 Bao nhiêu
Bao nhiêu về số lượng, chát lượng và giá cả?Số lượng hàng hóa phải phù hợp với quy
mô, dung lượng thị trường tiêu thụ, không quá nhiều để gây ứ đọng, ế thừa và cũng không
quá ít để gây thiếu hụt, tạo sự mất cân đối cung cầu nhất là đối với những loại sản phẩm
có tính độc quyền (xăng dầu, điện )và số lượng phải tuỳ theotừng chủng loại, quy cách

+ Quan niệm cổ điển: hàng hoá là sản phẩm của lao động có giá trị và giá trị sử dụng
+ Quan niệm hiện đại: tất cả những thứ là đối tượng của trao đổi mua bán đều là hàng
hoá.
Như vậy quan niệm hiện đại đã phân biệt sản phẩm của lao động và không là sản
phẩm của lao động.
+Quan niệm marketing về hàng hoá:"bán cái thị trường cần chứ không phải bán cái mà
ta có", nhưng DN cũng cần phẩi biết bán cái mà ta có vì không phải lúc nào DN cũng làm
được điều trên.Hàng hoá được chia làm hai bộ phận cấu thành: Yếu tố tạo thực thể vật
chất của hàng hoá( đặc tính cơ học, đặc tính hoá học, lý học )bộ phận này có thể dùng
phương pháp thí nghiệm, thực nghiệm,cân đong đo đếm được.Yếu tố phi thực thể của
hàng hoá( tên gọi, nhãn hiệu, màu sắc hình dáng, kích thước, bao bì, dịch vụ kèm
theo ).Ngày nay không phải các yếu tố tạo thực thể vật chất của hàng hoá là quan trọng
nhất mà là các yếu tố phi thực thể, DN bán được hàng hoá thì trước hết là bán yéu tố phi
thực thể.

III.3.Xây dựng chiến lược tiêu thụ, chiến lược và sách lược sản phẩm, chiến lược
tiếp thị.
Chiến lược tiêu thụ là định hướng hoạt động tiêu thụ của DN cho một thời kỳ nhất
định với những giải pháp nhằm thực hiện những mục tiêu đề ra. Mục tiêu củachiến lược
tiêu thụ gồm: Mặt hàng tiêu thụ, tăng doanh số, tăng lợi nhuận và mở rộng thị trường kể
cả thị trường trong và ngoài nước.Chiến lược tiêu thụ sản phẩm ở tầm vĩ mô sẽ giúp cho
DN đi đúng hướng theo mục tiêu chung của nền kinh tế. Nó phục vụ cho hoạt động đối
ngoại và có vai trò pkông nhỏ trong viêc thúc đẩy tăng trưởng của một ngành nói chung và
của một nền kinh tế nói chung góp phần ổn định nền kinh tế chính trị xã hội.Chiến lược tiêu thụ sản phẩm của DN giúp DN nắm bắt được nhu cầu khách hàng từ đó chủ động đối
phó với những diễn biến của thị trường giúp DN mở rộng thị trường mới, kế hoạch hoá về
khối lượng tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận, chọn kênh tiêu thụ và các đối tượng khách hàng.
Chiến lược sản phẩm là bộ phận quan trọng của chiến lược tiêu thụ sản phẩm.Trong

được hàng hoá với khối lượng lớn trên thị trường. Chính sách giá "giới thiệu" đưa ra mức
giá thấp bằng cách cắt giảm giá tạm thời để lôi kéo sự chú ý và dùng thử của khách
hàng.Chính sách giá "theo thị trường'đưa ra mức giá trên cơ sở phân tích giá của đối thủ
cạnh tranhtrên thị trường.
+Chính sách giá theo chi phí vận chuyển. Để thoả mãn nhu cầu của khách hàng,sản
phẩm phải đợc vận chuyển đưa đến địa điẻm sử dụng theo yêu cầu của họ.Chi phí vận
chuyển có thể là rất cao, đối với một số sản phẩm có thể chiếm từ 50-60%giá trị được giao
của hàng hoá. Điều này yêu cầu cần phải tính đến một cách nghiêm túcvà sáng tạo chi phí
vận chuyển khi xác định mức giá. Giá công bố có bao hàm chi phí vận chuyển không?nên
tính như thế nào, ai trả chi phí vận chuyển?Có bốn loại chính sách giá theo chi phí vận
chuyển: giá giao hàng theo địa điểm,giá giao hàng theo vùng,giá giao hàng đồng loạt và
giá vận chuyển hấp dẫn.
+Chính sách giá và chiếu cố giá:giảm giá là một trong những công cụ quan trọngmà
DN có thể sử dụnglàm tăng hiệu quả của hoạt động bán hàng, bởi vậy có chính sách giá
đúng để DN thực hiện thành công chiến lược marketing của mình. Có rất nhiều chính sách
giảm giá:giảm giá theo khối lượng mua nhiều, giảm giá theo thời hạn thanh toán, giảm giá
theo thời thời vụ.

III.5 Lên phương án phân phối vào các kênh tiêu thụvà lựa chọn các kênh phân
phối sản phẩm.
Mọi phương án phân phối hàng hoá đặt trong yêu cầu chung về hiệu quả hoạt động
kinh doanhcủa DN,nó phụ thuộc rất nhiều vào các loại phương tiện vận chuyển hiện có
trên thị trường và khả năng khai tác các phương tiện đó.Phân phối hàng hoá phải vừa đảm
bảo cho khách hàng mua hàng thuận lợi nhất, tiện nhất.Nhưng trong điều kiện sản xuất
công nghiệp hiện đạivới quy mô loqns và khách hàng rải rác
ở khắp mọi nơi trên thế giới thì việc phân phối hàng hoá phải vừa đảm bảo chi phí vận
chuyển nhỏ nhất, đảm bảo chính xác về thời gian, thuận tiện cho khách hàng là điều vô
cùng khó. Vậy tốt nhất là nên chọn phương án phân phối hàng hoá sao cho nó có khả năng
đáp ứng ở mức độ hợp lý cho tất cả các mục tiêu của DN trừ các yêu cầu đặc biệt từ phía
khách hàng.

Người
sản xuất
- tổ chức
cung ứng

bán l


bán l


bán l


bán buôn
bán buôn

môi giới
Người
tiêu
dùng
cuối
cùng



đẩy các khâu: cung ứng, phân phối và tiêu dùng đối với một hoặc một nhóm sản phẩm
hàng hoá của công ty.
đối với những sản phẩm truyền thống hoặc đã lưu thông thường xuyên trên thị trường thì
việc xúc tiến bán hàng được tiến hành gọn nhẹ hơn. cần đặc biệt quan tâm tới xúc tiến bán
sản phẩm mới hoặc sản phẩm cũ trên thị trường mới. Cần thực hiện các chiến lược quảng
cáo, tiếp thụ hiệu quả cho các sản phẩm mới. Ngoài việc thực hiện một loạt các chính sách
xác tiến bán: quảng cáo, chiêu thị, chiêu hàng, giảm giá, thiết lập mạng lưới tiêu thụ hợp
lý… thì DN không được phép quên lực lượng nhân viên bán hàng, cần phải xây dựng đội
ngũ nhân viên bán hàng có trình độ truyên môn nghiệp vụ cao vì “ bán hàng không những
là nghề mà còn là một nghệ thuật”. Một nhân viên bán hàng giỏi là một nhân viên bán
được cả hãng, cả công ty. Muốn tiêu thụ được hàng hoá phải thực hiện 4 cho: cho chon,
cho thử,cho đổi, cho trả.

III.7. Thực hiệc các kỹ thuật nghiệp vụ bán hàng và đánh giá kết quả TTSP.
Thực hiện các kỹ thuật nghiệp vụ bán hàng và đánh giá kết quả TTSP.Trong đó nghiệp
vụ thu tiền là rất quan trọng. Trong trường hợp mặc dù hàng hoá đã được phân phối hết
cho các kênh tiêu thụ hoặc đã giao xong cho người mua. Song chưa thu được tiền về thì
hoạt động tiêu thụ vẫn chưa kết thúc. Hoặc trong thường hợp DN đã thu được tiền về từ
các trung gian nhưng hàng hoá vẫn ứ đọng tại đó, chưa tới tay người tiêu dùng thì việc
tiêu thụ mới kết thúc trên danh nghĩa. Chỉ khi nào tiền bán hàng được thu từ tay người
tiêu dùng cuối cùng thì hoạt dộng tiêu thụ mới thực sự kết thúc.
Đánh giá kết quả TTSP thông qua các chỉ tiêu định tính và định lượng.

III.7.1Chỉ tiêu định lượng:
+Chỉ tiêu kết quả:tổng khối lượng hàng bán, tổng doanh thu, tổng chi phí, tổng số lao
động…
+Chỉ tiêu hiệu quả:
Lợi nhuận = Tổng doanh thu- Tổng chi phí
Tổng lợi nhuận CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

I. THỰC TRẠNG TTSP Ở THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI.

Theo báo cáo tổng cục hải quan tính đến ngày 20/11/99 tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu của việt nam là 19,945 tr USD nhập siêu 1,4% tổng tiêu ngạch. Trong đó xuất khẩu
9,903tr USD, nhập khẩu 10,042 tr USD

Biểu II.1 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam - 1999 STT
Mặt hàng XK Khối
lượng
(triệu tấn)
Trị giá
(triệu
USD)
1
2
3
4
5
6
7


bột,dầu thực vật. Cơ cấu xuất khẩu chuyển dịch theo hướng tích cực hơn: tỷ trọng nguyên
liệu thô và sơ chế giảm.
Biểu II.2 Tỷ trọng ngành hàng xuất khẩu

STT Ngành Tỷ lệ % Giá trị
(triệu USD)
1
2
3
4
5
6
Nông lâm sản
Hải sản
Dệt may+Da giầy
Điện tử và linh kiện điện tử
Thủ công mỹ nghệ
Lĩnh vực khác
18,2
8,6
28
5,3
1,5
19,4

2000

Công ty TM du lịch Hiệp Phước
Công ty XNK Gia Lai
Công ty Tín Nghĩa
Công ty cà phê Phước An
Công ty PETEC
Công ty Thắng Lợi
Công ty TM XNK Gia Lai
52.300
51.789
46.184
28.740
26.044
20.268
17.131
13.027
9.880
9.803
72,277
70,509
64,174
40,7
34,2
27,1
24,036
17,853
14,194
13,18

250.000

320.000
240.000
350.000
360.000
410.530 233.000
246.000
350.000
390.000
360.000

520
420
400
600
540 Sản xuât Cà phê Việt Nam có những điều kiện thuận lợi về khí hậu, đất đai, tập chung
ở Tây Nguyên, Dông Nam Bộ, các tỉnh miền trung và miền núi phía bắc (Sơn La, Lai
châu, Yên Bái, Hà Giang),điều kiện thổ nhưỡng khí hậu ở vùng này thích hợp với loại Cà
phê Arabica nên năng xuất khá cao. Tây nguyên với bốn tỉnh: Đắc Lắc, Lâm Đồng, Gia
Lai, Kom Tum là khu vực chủ lực của ngành Cà phê Việt Nam. Diện tích Cà phê của khu vực này lên tới 180.000 ha chiếm hơn 78% tổng diện tích trồng Cà phê cả nước trong đó


6
45
44
5
7
60
27
6

16
72
5
7

Thị trường XK ngày nay càng được mở rộng. Trước năm 90 khoảng 50% khối lượng
cà phê XK của Việt Nam là sang thị trường Liên Xô và Đông Âu,50% còn lại là sang thị
trường Singapore thực chất là một thị trường trung chuyển. Đến năm 1996 XK cà phê Việt
Nam đã sang tới 30 quốc gia, chủ yếu là XK trực tiếp. Đặc biệt cà phê Việt Nam đã được
XKtrực tiếp sang các thị trường khó tính như Đức, Anh,ý. Đáng lưu ý là Mỹ thị trường nổi
tiếng là khó xâm nhập nhưng năm 1996 đã tiêu thụ khoảng 1/3 khối lượng cà phê XK của
Việt Nam.Hiên nay Đức đă trở thành nhà nhập khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam.Trong
11 tháng năm 99 vừa qua tổng lượng xuất khẩu : 362000 tấn kim ngạch khoảng 500 triệu
USD

Biểu II.6 Thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam

Thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam

Tỷ lệ

Biểu II.7 Sản lượng cà phê thế giới

Niên Vụ 97/98 98/99 99/2000
Sản Lượng
(tr bao)
97,67 106,63 104,50
Brazin
Côlômbia
Indônêxia
Việt Nam
Mêxicô
23,5
12,03
7,2
6,67
4,97
34,7
11
6,85
6,33
4,95
26,5
12,7
7,2
6,45
5,3
Tiêu thụ 101,86 103,2 104,30

Sau niên vụ cà phê 97/98 bội thu,KNXK đạt khoảng 600 tr USD,thì niên vụ 98/99 lại
chịu nhều biến đọng.Sản lượng cà phê quả năm nay giảm không nhiều,nhưng sản lượng cà

công ăn việc làm, tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngoại tệ qua
đẩy mạnh xuất khẩu. đối với Việt Nam ngành công nghiệp giầy dép cũng có tầm quan
trọng như vậy.
Sau khi Liên Xô và Đong Âu tan rã, toàn bộ chương trình hợp tác gia công mũ giầy với
các nước này cũng chấm dứt. Ngành Da giầy Việt Nam chuyển sang thời kỳ phấp triển
mới, tiếp nhận sự chuyển dịch sản xuất các sản phẩm giầy dép từ các nước trong khu vực để xuất khẩu nhằm khai thác các lợi thế của Việt Nam: Lực lượng lao đông dồi dào, trẻ,
khoẻ, tiếp thu nhanh, tiền công lao động thấp, chưa bị các nước nhập khẩu giầy dếp khống
chế bằng hạng ngạch và được hưởng ưu đãi thuế quan (GSP) nếu đáp ứng đủ tiêu chuển
mà họ yêu cầu. Da giầy là một ngành thu hút nhiều lao động, làm động lực cho một số
ngành như chăn nuôi, sản xuất cao su, nhựa,hoá chất… góp phần khôi phục một số làng
nghề truyền thống đáp ứng một phần nhu cầu hàng hoá nội địa.
Từ năm 89 đến nay sản lượng giầy dép thế giới liên tục biến động khu vực sản xuất
giầy dép lớn nhất là Châu Á (chiếm 2/3 tổng sản lượng thế giới) tiếp theo là Châu Âu và
Châu Mỹ. Theo đánh giá của các chuyên gia thì các năm tới các nước Châu á và viễn
Đông sẽ chiếm 75% sản lương toàn thế giới ( khoảng 10 tỷ đôi ) trong đó Việt Nam cũng
sẽ là một trong các nước có tiềm năng phất triển ngành này.
Hện nay theo thống kê mới nhất cả nước có khoảng 150 Dn sản xuất giầy dép và các sản
phẩm bằng da hoặc giả da với tổng sản lượng khoảng 259 tr USD giầy dép các loại và trên
5000 tán sản phẩm khác mỗi năm. trong đó lượng hàng xuất khẩu tăng bình quân tăng
30%/ năm. giá trị xuất khẩu ngành da giầy năm 1998 đạt 1000822000 USD. Tính đến
20/11/99 đạt 1207000000USD và dự kiến năm 1999 đạt 1250000000 USD, sản lượng đạt
220- 225 tr USD.
ở Việt Nam hiện nay, nổi bật là công ty Da giầy Hải Phòng có 9 cơ sở trực thuộc và góp
vốn thành lập một công ty liên doanh với nước ngoài. Năm 1998 dạt giá trị sản lượng đạt
638.283 tr đồng chiếm khoảng 50% sản lượng toàn nhành, số lao động 9.279 người chiếm
35% tổng số lao động toàn ngành. Công ty giầy Thăng Long năm 1998 doanh thu đạt trên
90 tỷ đồng trong đó xuất khẩu đạt trên 83 tỷ, nhà may giầy. Nhà may giầyBarotex 6 tháng

8.500 7500 1.000

Hiện nay EU là thị trường nhập khẩu chủ yếu các sản phẩm giầy dép của Việt Nam
chiếm khoảng 80% KNXK của Việt Nam. Trị giá XK giầy dép sang EU năm 1996 tăng
gấp 30 lần so với năm 1992, từ 1993 đến 1997 tăng bình quân 40-50% một năm. Việt
Nam là một trong 5 nướs có số lượng giầy dép tiêu thụ nhiều nhất tại EU do giá rẻ, chât
lượng và mẫu mốt chấp nhận được và việt nam được hưởng ưu đãi từ thị trường này, chưa
bị quản lý băng hạng ngạch, được hưởng ưu đãi thuế quan bằng70% mức thuế bình
thường nếu bảo đảm tiêu chuẩn mà họ yêu cầu kim ngạch XK giầy dép của Việt Nam vào
Nhật Bản chỉ chiếm 7-8% kim ngạch nhưng chúng ta có khả năng tăng KNXK vào thi
trường này trong những năm sắp tới. Việt Nam XK sang Mỹ năm 1998 trên 110 tr USD
(chiếm 10%KNXK toàn ngành) nếu có hiệp định thương mại và quy chế tối huệ quốc
MFN và các DN Việt Nam đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường và có khả năng cạnh
tranh thì chúng ta có thể xuất khẩu giầy dép sang Mỹ với khả năng không thua kém vào
EU, thậm chí còn cao hơn.
Ngoài ra các khu vực thị trường thế giới như: Trung Quốc, Bắc Âu, Úc, Liên Xô cũ…
và cả thị trường nội địa với trên 80 tr dân trong những năm tới cũng sẽ là thị trường đáng
quan tâm và có thể phát triển, từ những dự đoán về tình hình sản xuất và nhu cầu thị
trường tiêu thụ giầy dép trên thế giới, căn cứ vào tiềm năng và lợi thế của Việt Nam,
ngành giầy dép Việt Nam trong những năm tới có thể đạt tốc độ tăng trưởng hàng năm
khoảng 20% về KN XK.
II. THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA.
Thị trường trong nước số cung ngày càng vượt quá số cầu cạnh tranh ngày càng gay gắt:
Số cung: thêm nhiều DN ra nhập thị trường, năng lực sản xuất của các DN ngày càng ra
tăng- sự hiện diện của các DN có vốn nước ngoài – hàng ngoại nhập đặc biệt là hàng nhập
lậu không ngừng tấn công vào thị trường nội địa.
Số cầu: gia tăng chậm hơn so với số cung – sức mua có khả năng thanh toán còn hạn chế

+12,6
+2,0
+4,3

+10,4 Chỉ số giá tám tháng đầu năm tăng 0,8% so tháng 12/98 là mức thấp nhất so cùng kỳ 5
năm trở lại đây. Chỉ số giá giảm liên tục trong 6 tháng liền từ tháng 3dến tháng 8.

Biểu II.10 Chỉ số giá tiêu dùng 8 tháng đầu năm 1999

Tháng T3 T4 T5 T6
T7 T8
Chỉ số giá giảm 0,7% 0,6% 0,4% 0,3% 0,4% 0,5%

Tổng cầu xã hội giảm sút, lượng lượng hàng tồn kho của một số ngành như sau (tính đến
tháng 6 năm 1999)
Biểu II.11 Lượng tồn kho tính đến tháng 6/1999

Ngành Lượng tồn kho (triệu tấn) Trị giá(tỷ đồng)
Than
Ximăng
Đường
Thép
Cà phê
Giấy

dụng, chỉ số giá tiêu dùng bắt đầu nhích lên.Tháng 11 giá tiêu dùng tăng 0,4% so với
tháng10.Trong 11 nhóm hàng hoá dịch vụ có 5 nhóm gia tăng (lương thực,thực phẩm,thiết
bị đồ dùng gia đình văn hoá thể thao giải trí ) đáng chú ý là lương thực tăng cao nhất
1,7%.theo dự đoán tháng 12 chỉ số giá tiêu dùng có xu hướng tăng thậm chí còn cao hơn
tháng 11
. Ngành thép:Trong thông báo ngày 12/4/1995 về chiến lược phát triển đến 2010.Bộ
chính trị đã nhấn mạnh “thép là vật liệu chủ yếu của ngành công nghiệp,có vai trò quyết
định tới sự nghiệp CNH,HĐH đất nước…phát triển nhanh ngành thép là một yêu cầu

Trích đoạn BIỆN PHÁP TỪ PHÍA DN.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status