LUẬN VĂN: Tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả trong doanh nghiệp thương mại – Khảo sát thực tế tại Công ty TNHH STM - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết
quả trong doanh nghiệp thương mại – Khảo
sát thực tế tại Công ty TNHH STM
Lời nói đầu

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của toàn nhân loại, dân tộc ta dưới
sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đang từng ngày, từng giờ khắc phục mọi khó
khăn, quyết tâm hoàn thành đổi mới nền kinh tế đất nước, nhằm nhanh chóng phát triển
kinh tế Việt Nam sớm hoà nhập cùng kinh tế các quốc gia trong khu vực.
Thực tế sau nhiều năm thực hiện sự chuyển dịch từ nền kinh tế kế hoạch sang
nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đến nay, bộ mặt của nền kinh tế

1. Vai trò, vị trí của bán hàng và xác định kết quả trong doanh nghiệp:
a. Hàng hoá:
Là loại vật tư, sản phẩm có hình thái vật chất, doanh nghiệp mua về với mục đích
để bán (bán buôn hoặc bán lẻ).
Trong doanh nghiệp hàng hoá được biểu hiện trên hai mặt: hiện vật và giá trị
- Hiện vật được cụ thể bởi khối lượng hay số lượng và chất lượng.
- Giá trị chính là giá thành của hàng hoá nhập kho hay giá vốn của hàng hoá đem
bán.
b. Bán hàng
Là việc chuyển quyền sở hữu về hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ cho khách hàng,
doanh nghiệp thu tiền hay được quyền thu tiền. Đó chính là quá trình vận động của vốn
kinh doanh từ vốn thành phẩm hàng hoá sang vốn bằng tiền và xác định kết quả.
Bán hàng là một chức năng chủ yếu của doanh nghiệp, bên cạnh đó nó còn nhiều
chức năng khác nhau như: mua hàng, dự trự hàng…Bất kỳ một doanh nghiệp thương
mại cũng phải thực hiện hai chức năng mua và bán. Hai chức năng này có sự liên hệ
với nhau mua tốt sẽ tạo điều kiện cho bán tốt. Để thực hiện tốt các nghiệp vụ trên đòi
hỏi phải có sự tổ chức hợp lý các hoạt động, đồng thời tổ chức nghiên cứu thị trường,
nghiên cứu nhu cầu người tiêu dùng. Như vậy tiêu thụ sản phẩm là tổng thể các biện
pháp về mặt tổ chức và nắm bắt nhu cầu của thị trường .
Chỉ có thông qua việc bán hàng – giá trị sản phẩm dịch vụ mới được thực hiện
do đó mới có điều kiện để thực hiện mục đích của nền sản xuất hàng hoá và tái sản
xuất kinh doanh không ngừng được mở rộng. Doanh thu bán hàng sẽ bù đắp được các
chi phí bỏ ra, đồng thời kết quả bán hàng sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp.

Bán hàng tự thân bó không phải là một quá trình sản xuất kinh doanh nhưng nó
lại là một khâu cần thiết của tái sản xuất xã hội. Vì vậy bán hàng góp phần nâng cao
năng suất lao động, phục vụ sản xuất tiêu dùng và đời sống xã hội. Nhờ có hoạt động
bán hàng, hàng hoá sẽ được đưa đến tay người tiêu dùng và thoả mãn nhu cầu của người
tiêu dùng về số lượng và cơ cấu chất lượng hàng hoá , việc tiêu thu hàng hoá góp phần

thuận tiện cho việc nhập – xuất tồn kho được dễ dàng.
- Hệ thống kho tàng đầy đủ, phải được trang bị các phương tiện bảo quản, cân,
đong, đo đếm cần thiết để hạn chế việc hao hụt mất mát hàng hoá trong toàn doanh
nghiệp.
- Phải quy định chế độ trách nhiệm vật chất cho việc quản lý hàng hoá toàn
doanh nghiệp.
Kế toán nói chugn và kế toán hàng hoá nói riêng là công cụ đắc lực để quản lý tài
chính và quản lý hàng hoá. Kế toán hàng hoá cung cấp kịp thời chính xác thông tin về
tình hình mua, bảo quản, dự trự và sử dụng hàng hoá.
3. Sự cần thiết quản lý bán hàng và yêu cầu quản lý
Bán hàng là quá trình trao đổi để thực hiện giá trị hàng hoá , tức là chuyển hàng
hoá vốn của doanh nghiệp từ hình thái hiện vật (hàng) sang hình thái tiền tệ ( tiền).
Hàng được đem bán có thể là thành phẩm, hàng hoá vật tư hay lao vụ, dịch vụ
cung cấp cho khách hàng . Việc bán hàng có thể thoả mãn nhu cầu của cá nhân đơn vị
ngoài doanh nghiệp gọi là bán hàng ra ngoài. Cũng có thể được cung cấp giữa các cá
nhân đơn vị cùng Công ty , một tập đoàn …gọi là bán hàng nội bộ.
Quá trình bán hàng được coi là hoàn thành khi có đủ hai điều kiện:
- Gửi hàng cho người mua.
- Người mua trả tiền hay chấp nhận trả tiền.
Tức là nghiệp vụ bán hàng chỉ xảy ra khi giao hàng xong, nhận tiền được tiền
hay giấy chấp nhận thanh toán của người mua. Hai công việc này diễn ra đồng thời cùng
một lúc với các đơn vị giao hàng trực tiếp. Phần lớn việc giao tiền và nhận hàng tách
rời nhau: Hàng có thể giao trước, tiền nhận sau hoặc tiền nhận trước giao hàng sau. Từ
đó dẫn đến doanh thu bán hàng và tiền bán hàng nhập quỹ không đồng thời.
Khi thực hiện việc trao đổi hàng tiền, doanh nghiệp phải bỏ ra những khoản chi
gọi là chi phí bán hàng. Tiền bán hàng gọi là doanh thu bán hàng.
Doanh thu bán hàng bao gồm doanh thu bán hàng ra ngoài và doanh thu bán
hàng nội bộ.

Tiền bán hàng nhập quỹ phản ánh toàn bộ số tiền mua hàng mà người mua đã trả

đầy đủ các khoản chi phí , thu nhập bán hàng , xác định kết qủa kinh doanh thông qua
doanh thu bán hàng một cách chính xác.
- Cung cấp những thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phận liên quan, đồng
thời định kỳ có tiến hành phát triển kinh tế đối với hoạt động bán hàng và xác định kết
quả.
II. nhiệm vụ kế toán và nội dung tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết
quả
A. Kế toán hàng hoá
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, các đơn vị mua bán hàng hoá
trong nước phải giám sát thị trường, tiến hành hoạt động mua bán hàng hoá theo có chế
tự hạch toán kinh doanh . Trong hoạt động kinh doanh, các đơn vị phải thường xuyên
tìm hiểu thị trường, nắm bắt nhu cầu và thị hiếu của dân cư để có tác động tới phát triển
sản xuất , nâng cao chất lượng hàng hoá.
Hàng hoá của doanh nghiệp gồm nhiều loại, nhiều thứ phẩm cấp nhiều thứ hàng
cho nên yêu cầu quản lý chúng về mặt kế toán không giống nhau. Vậy nhiệm vụ chủ
yếu của kế toán hàng hoá là:
- Phản ánh giám đốc tình hình thu mua, vận chuyển bảo quản và dự trữ hàng hoá,
tình hình nhập xuất vật tư hàng hoá. Tính giá thực tế mua vào của hàng hoá đã thu mua
và nhập kho, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu mua, dự trữ và bán hàng nhằm
thúc đẩy nhanh tốc độ luân chuyển hàng hoá.
- Tổ chức tốt kế toán chi tiết vật tư hàng hoá theo từng loại từng thứ theo đúng số
lượng và chất lượng hàng hoá. Kết hợp chặt chẽ giữa kế toán chi tiết với hạch toán
nghiệp vụ ở kho, ở quầy hàng, thực hiện đầy đủ chế độ kiểm kê hàng hoá ở kho, ở quầy
hàng đảm bảo sự phù hợp số hiện có thực tế với số ghi trong sổ kế toán.
- Xác định đúng đắn doanh thu bán hàng, thu đầy đủ kịp thời tiền bán hàng, phản
ánh kịp thời kết quả mua bán hàng hoá. Tham gia kiểm kê và đánh giá lại vật tư, hàng
hoá.
1. Đánh giá hàng hoá:
Đánh giá hàng hoá là việc xác định giá trị của chúng theo những nguyên tắc và
phương pháp nhất định, đảm bảo tính trung thực, thống nhất.

Tồn đầu kỳ
+

Số lượng hàng hoá
Nhập trong kỳ

Từ đó trị giá vốn hàng hoá xuất kho trong kỳ là:
Trị giá vốn thực tế
Hàng hoá xuất kho
=
Số lượng hàng hoá
Xuất kho

+

Đơn giá thực tế
Bình quân

Theo phương pháp này trong tháng giá thành thực tế của hàng hoá xuất kho chưa
được ghi sổ mà cuối tháng khi kế toán tính theo công thức mới tiến hành ghi sổ:
* Phương pháp nhập trước, xuất trước:

Theo cách này giả thiết những lô hàng nào nhập kho trước thì tính giá mua vào
của nó cho hàng hoá xuất trước, nhập sau thì tính sau:
Trị giá vốn của
hàng hoá xuất
kho trong kỳ
=
Giá mua thực tế
đơn vị hàng hoá

*Phương pháp tính giá thực tế đích danh
Khi ta nhận biết giá thực tế của từng thứ hoặc loại hàng hoá theo tưng flần nhập
kho thì có thể định giá cho nó theo giá thực tế đích danh.
*Phương pháp giá thực tế tồn đầu kỳ:
Căn cứ vào giá trị thực tế hàng hoá tồn đầu kỳ để tính giá thực tế bình quân, sau
đó căn cứ vào số lượng xuất kho và đơn giá bình quân đầu kỳ để tính ra giá thực tế xuất
kho.

Giá thực tế
Hàng hoá xuất kho
=
Đơn giá thực tế hàng
hoá tồn đầu kỳ
x
Số lượng hàng hoá
sản xuất trong kỳ
Giá thực tế
Hàng hoá tồn đầu kỳ

=
Giá thực tế hàng hoá tồn đầu kỳ
Số lượng hàng hoá tồn đầu kỳ

1.2 Đánh giá theo giá hạch toán:
Doanh nghiệp có thể sử dụng giá hạch toán để ghi chép kịp thời tình hình biến
động hàng ngày của hàng hoá một cách ổn định. Giá có thể chọn hoặc làm cơ sở xây
dựng giá hạch toán là giá kế hoạch hay là giá nhập kho, hệ số giữa giá thực tế với giá

- Phiếu nhập kho - Mẫu số 01VT/BB
- Phiếu xuất kho - Mẫu số 02VT/BB
- Hóa đơn kiêm phiếu xuất kho
- Hóa đơn bán hàng, biên bản kiểm kê

Trên cơ sở chứng từ kế toán về sự biến động của hàng hóa để phân loại tổng hợp
và ghi sổ kế toán cho thích hợp.
* Hạch toán chi tiết hàng hóa là công việc phá phức tạp, đòi hỏi phải tiến hành
ghi chép hàng ngày cả về số lượng và giá trị theo từng hóa hàng hóa ở từng kho trên cả
hai loại chỉ tiêu: Hiện vật và giá trị.
- Tổ chức hạch toán chi tiết hàng hóa được thực hiện ở kho và phòng kế toán,
doanh nghiệp phải căn cứ vào yêu cầu và trình độ quản lý kinh tế, trình độ nghiệp vụ kế
toán của doanh nghiệp để lựa chọn, vận dụng phương pháp hạch toán chi tiết sao cho
phù hợp.
Hiện nay có 3 phương pháp hạch toán chi tiết hàng hóa:
- Phương pháp ghi sổ song song:
Sơ đồ 1:


Đối chiếu
ki
ểm tra

1

1

2

2

3

4

5Sơ đồ 2:


ậpSổ số dư
B
ảng giao
nhận CT
xu
ất

Sổ tổng hợp N-
X-T
Bảng lũy kế N-
X-T
(1
)

(1
)

(2
)

(4
)

(2
)

(6

Ghi cuối
tháng

Đối chiếu
ki
ểm tra

1

1

2

2

4

5

Bảng kê
xu
ất

Bảng kê
nh
ập

3

3

nghiệp đã xây dựng được hệ thống giá hạch toán và trình độ của cán bộ kế toán tương
đối cao.
2.2. Kế toán tổng hợp hàng hóa:

Hàng hóa là tài sản lưu động thuộc nhóm hàng tồn kho của doanh nghiệp. Việc
mở tài khoản tổng hợp ghi chếp sổ kế toán hàng tồn kho, xác định giá trị hàng hóa xuất
kho, tồn kho tùy thuộc vào doanh nghiệp áp dụng phương pháp kế toán tổng hợp hàng
hóa theo phương pháp keekhai thường xuyên hay phương pháp kiểm kê định kỳ.
- Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp phản ánh ghi chép thường
xuyên liên tục các tài khoản và sổ kế toán tổng hợp. Phương pháp này đảm bảo tính
chính xác tình hình biến động của hàng hóa.

Sơ đồ 4: Sơ đồ kế toán tổng hợp hàng hóa theo phương pháp KKTX

- Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp kế toán không phải theo dõi
thường xuyên liên tục tình hình nhập xuất, tồn kho trên các tài khoản hàng tồn kho, mà
chỉ theo dõi phản ánh giá trị hàng tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ. Cuối tháng kế toán tiến
hành kiểm kê và xác định số thực tế của hàng hóa để ghi vào tài khoản hàng tồn kho.

ất thực tế
Tr
ị giá thực tế
hàng g
ửi
đi bán

Trị giá thực tế
hàng hóa th
ừa
Tr
ị giá vốn thực
t
ế hàng hóa bán,
Đánh giá tăng
tài s
ảnTr
ị giá hàng hóa
Đánh giá giảm
TK 156,
157

TK 632

TK 156,
157


Trường hợp doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hoàn thành nhưng không nhập kho
mà chuyển bán ngay, kế toán ghi:
Nợ TK 632 : Giá vốn hàng bán
Có TK 154 : Chi phí SXKD dở dang
2. Ghi nhận doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ:
Nợ TK 111, 112 : Số đã thu bằng tiền
Nợ TK 131 : Số bán chịu cho khách hàng
Có TK 33311 : Thuế GTGT đầu ra
Có TK 511 : Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ.
3. Các khoản giảm trừ doanh thu phát sinh:
3.1. Các khoản giảm giá hàng bán, chiết khấu thương mại chấp nhận cho khách
hàng được hưởng (nếu có):

Nợ TK 521 : Chiết khấu thương mại
Nợ TK 532 : Giảm giá hàng bán
Nợ TK 33311 : Thuế GTGT đầu ra (nếu có)
Có TK 111, 112 : Trả lại tiền cho KH
Có TK 131 : Trừ vào số tiền PTCK
Có TK 3388 : Số giảm giá chấp nhận nhưng chưa thanh toán cho KH.
3.2. Trường hợp hàng bán bị trả lại:
- Phản ánh doanh thu và thuế GTGT của HBTL:
Nợ TK 531 : DT hàng bán trả lại
Nợ TK 33311 : Thuế GTGT đầu ra
Có TK 111, 112, 131, 3388 (tổng giá thanh toán)
- Phản ánh giá gốc của hàng bán trả lại:
Nợ TK 156 : Hàng hóa (nhập kho)
Nợ TK 157 : Hàng gửi đi bán (gửi tại kho người mua)
Nợ TK 911 : Xác định KQKD (nếu hàng bị trả lại không thể bán được hoặc sửa
chữa được)
Có TK 632 : Giá vốn hàng bán

TK 154, 155,
156

TK 632

TK 911

TK 511

TK 111, 112,
131

TK 521, 531,
532

1
6
5
2
3

TK 33311
3b. Kế toán bán hàng theo phương thức gửi hàng đi cho khách:
Phương thức gửi hàng đi cho khách là phương thức bên bán gửi hàng đi


TK 911

TK 511

TK 111, 112
,
131

1

2.
2

4

3

2.1

TK 333* Đối với các đơn vị hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê
định kỳ:
Đầu kỳ, kết chuyển trị giá thành phẩm gửi đi bán cuối kỳ trước nhưng
chưa được chấp nhận thanh toán, kế toán ghi:
Nợ TK 632 : Giá vốn hàng bán
Có TK 157 : Hàng gửi đi bán
Cuối kỳ, căn cứ vào kết quả kiểm kê thành phẩm gửi đi bán hưng chưa

(1) Trị giá vốn thực tế của hàng gửi bán đại lý ký gửi.
(2.1) Ghi nhận doanh thu của hàng gửi bán đại lý ký gửi.
(2.2) Trị giá vốn thực tế của hàng gửi bán đại lý ký gửi.
(3) Hoa hồng trả cho đơn vị nhận đại lý ký gửi.
(4) Cuối kỳ kết chuyển giá gốc hàng bán để xác định KQKD.
(5) Cuối kỳ kết chuyển doanh thu thuần để xác định KQKD.
TK 154, 155

TK 157

TK 632

TK 911

TK 511
TK 131

2.
1

TK 33311

TK 641

3

4

chậm, trả góp vẫn thuộc quyền sở hữu của đơn vị bán, nhưng quyền kiểm soát tài
sản và lợi ích kinh tế sẽ thu được của tài sản đã được chuyển giao cho người
mua. Vì vậy doanh nghiệp ghi nhận doanh thu bán hàng theo giá bán trả ngay và
ghi nhận vào doanh thu hạch toán tài chính phần lãi trả chậm tính trên khoản phải
trả nhưng trả chậm phù hợp với thời điểm ghi nhận doanh thu được xác nhận.

Sơ đồ 10: Sơ đồ kế toán tổng hợp phương thức trả chậm, góp

TK 511

TK 331

TK 131

TK 3331

TK 111,
112

Hoa hồng bán đ
ại


S
ố tiền bán hàng
đ
ại lý

2. Kế toán doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu
2.1. Nội dung doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu
- Doanh thu bán hàng là số tiền thu được do bán hàng. ở các doanh nghiệp
áp dụng tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì doanh thu bán hàng
không bao gồm thuế GTGT, còn ở các doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính
thuế trực tiếp thì doanh thu bán hàng là trị giá thanh toán của số hàng đã bán.
Ngoài ra doanh thu bán hàng còn bao gồm cả các khoản phụ thu.
- Nừu khách hàng mua với khối lượng hàng hóa lớn sẽ được doanh nghiệp
giảm giá, nếu khách hàng thanh toán sớm tiền hàng sẽ được doanh nghiệp chiết
khấu, còn nếu hàng hóa của doanh nghiệp kém phẩm chất thì khách hàng có thể
không chấp nhận thanh toán hoặc yêu cầu doanh nghiệp giảm giá. Các khoản trên
sẽ phải ghi vào chi phí hoạt động tài chính hoặc giảm trừ trong doanh thu bán
hàng ghi trên hóa đơn.
TK 154, 155,
156

TK
632

TK
515

TK
511

TK 111, 112,
131

TK
33311


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status