LUẬN VĂN: Hoàn thiện chiến lược Marketing xuất khẩu hàng may mặc của công ty sản xuất- xuất nhập khẩu Việt An - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Hoàn thiện chiến lược Marketing xuất
khẩu hàng may mặc của công ty sản
xuất- xuất nhập khẩu Việt An
Lời nói đầu

Hội nhập quốc tế luôn tạo ra những cơ hội và triển vọng nhưng đồng thời cũng đặt ra
nhiều thách thức to lớn.Cơ hội được tạo ra do sự mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao sức
cạnh tranh và tính hiệu quả của nền kinh tế.Bên cạnh đó, những thách thức đặt ra cũng không

lượng, chất lượng, giá cả, thời gian……Chính vì vậy, bất kỳ công ty sản xuất kinh doanh
thuộc ngành may mặc luôn xác định được rằng việc xây dựng một chiến lược marketing luôn
là vấn đề quan trọng hàng đầu đối với công ty.
Xuất phát từ thực tế trên, trong thời gian thực tập tại công ty sản xuất- xuất nhập khẩu
Việt An, em đã mạnh dạn chọn đề tài:
“Hoàn thiện chiến lược Marketing xuất khẩu hàng may mặc của công ty sản xuất-
xuất nhập khẩu Việt An”.
* Mục đích nghiên cứu đề tài là nhằm phân tích, đánh giá quá trình xây dựng chiến lược
marketing xuất khẩu hàng may mặc của công ty trong thời gian qua. Đồng thời, đề tài cũng
chỉ ra những thành công và những thách thức để qua đó thấy được ưu- nhược điểm của nó.
Từ đó vận vận dụng tư duy kinh tế và cơ chế kinh doanh để đề xuất những biện pháp nhằm
hoàn thiện quá trình hoạch địch chiến lược Marketing xuất khẩu hàng may mặc của Công ty.
* Giới hạn – phạm vi nghiên cứu đề tài: đề tài được chọn nghiên cứu ở khâu quan trọng,
có nhiều mối quan hệ kinh tế và liên quan đến rất nhiều vấn đề trong và ngoài Công ty. Do
không đủ điều kiện để đề cập toàn diện và giải quyết triệt để những vấn đề đặt ra. Vì vậy, giới
hạn đề tài nghiên cứu trên góc độ tiếp cận môn học Marketing là chính.
* Phương pháp nghiên cứu: phương pháp tiếp cận hệ thống và lôgic phương pháp phân
tích số liệu, phương pháp so sánh. Các phương pháp này vừa phân tích biện chứng, vừa đặt
nó vào hệ thống lớn của quá trình nghiệp kinh doanh ở Công ty.
Luận văn tốt nghiệp được hoàn thiện với 3 chương:
- Chương I : Một số lý luận cơ bản về chiến lược Marketing xuất khẩu của công ty kinh
doanh quốc tế.
- Chương II : Thực trạng chiến lược Marketing xuất khẩu mặt hàng may mặc của công
ty sản xuất – xuất nhập khẩu Việt An.
- Chương III : Một số đề xuất nhằm hoàn thiện chiến lược Marketing xuất khẩu hàng
may mặc của công ty sản xuất – xuất nhập khẩu Việt An. Chương I: một số lý luận cơ bản về hoàn
thiện chiến lược marketing xuất khẩu

tế. Nhà quản trị Marketing quốc tế có nhiệm vụ hệ thống hóa và thi hành các chính sách
Marketing nhằm đảm bảo sự thích ứng giữa khả năng của doanh nghiệp với thị trường và môi
trường của nó nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Chính điều này đòi hỏi các doanh nghiệp khi
tham gia vào thị trường quốc tế phải đưa ra một chương trình Marketing bao gồm các vấn đề
sau : đánh giá và lựa chọn thị trường, xác định phương thức hoạt động thích hợp và xác lập
các chính sách Marketing của công ty trên thị trường quốc tế.
b) Lợi ích của Marketing xuất khẩu.
Trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa, hoạt động xuất nhập khẩu có ý nghĩa cực
kỳ quan trọng. Trong đó sự đóng góp của Marketing xuất khẩu là rất cần thiết. Bởi vì bản
thân hoạt động xuất nhập khẩu là một hoạt động vô cùng phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro
khó có thể lường trước được như : những biến động về kinh tế-chính trị , xã hội, văn hóa, hệ
thống pháp luật… của nước nhập khẩu. Qua đó, hoạt động Marketing xuất khẩu có thể đem
lại những lợi ích to lớn cho mỗi doanh nghiệp.
Thứ nhất, các công ty hoạt động trên phạm vi quốc tế có thể đạt mức doanh số lớn hơn
nhờ thực hiện chuyển giao các khả năng riêng biệt của mình. Các khả năng riêng biệt này
được hiểu là những điểm mạnh duy nhất cho phép công ty đạt được hiệu quả, chất lượng, đổi
mới hoặc sự nhạy cảm với khách hàng cao hơn.
Thứ hai, việc tham gia các hoạt động quốc tế cho phép doanh nghiệp có thể hạ thấp chi
phí nhờ có được lợi thế quy mô và hiệu ứng "đường cong kinh nghiệm"; lợi thế quy mô cho
phép giảm chi phí cố định của một sản phẩm do chia chi phí cố định theo mức sản lượng lớn.
Tác động của đường cong kinh nghiệm sẽ làm giảm chi phí khả biến đơn vị sản phẩm do
nâng cao kỹ năng, kỹ xảo của người lao động.
Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế theo quy mô có thể không có được nếu thị hiếu của khách

hàng trong nước và những đặc điểm khác ở các nước khác nhau đòi hỏi một số các điều chỉnh
sản phẩm – phụ thuộc vào các sản phẩm liên quan và phương pháp sản xuất ra sản phẩm đó.
Ngoài ra, kinh doanh ở thị trường nước ngoài sẽ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có
những ý tưởng mới mẻ hay những phương pháp khác nhau để giải quyết vấn đề. Từng cá
nhân sẽ phát triển kỹ năng quản lý chung của họ và nâng cao hiệu suất cá nhân. Họ sẽ trở nên
năng động hơn, và nâng cao hiệu quả công việc. Những mối quan hệ và kinh nghiệm có được

độ
cao
hấp

dẫn thấp

Ma trận cơ hội

(1): cơ hội tốt nhất công ty nên có kế hoạch theo đuổi.
(2) và (3) : những cơ hội này công ty nên theo dõi và xem xét.
(4) : cơ hội quá nhỏ nên không cần xem xét.
*) Mối đe doạ là một thách thức do một xu hướng hay một bước phát triển bất lợi tạo ra sẽ
gây thiệt hại cho doanh số bán hàng hay lợi nhuận nếu không có biện pháp Marketing bảo vệ.
Mối đe doạ được phân loại theo mức độ nghiêm trọng và xác suất xuất hiện của nó.

Xác suất xuất hiện

Mức Cao thấp

độ cao

nghiêm
thấp
trọng

Ma trận đe doạ


+ Đảm bảo tính nhân bản trong chiến lược Marketing
a) Lợi nhuận.
Lợi nhuận là một yếu tố quan trọng nhất không thể thiếu được trong bất kỳ một doanh
nghiệp kinh doanh nào. Nó đảm bảo cho công ty có thể tiếp tục được quá trình tái sản xuất
mở rộng, đảm bảo cho công ty có thể tiếp tục được quá trình mua thêm các trang thiết bị mới
và có khả năng đứng vững trên thị trường. Đối với nhà quản trị Marketing không chỉ quan
tâm đến lợi nhuận kinh doanh mà còn quan tâm đến tỷ suất lợi nhuận, phải tính toán được
mức lợi nhuận cho từng mặt hàng, từng ngành hàng cụ thể. Và qua đó thấy được ngành hàng
nào mang lại lợi nhuận cao cho công ty và cũng xác định quá trình Marketing nào sẽ mang lại
kết quả tốt nhất.

b) Đảm bảo vị thế của công ty.
Xác định được tầm quan trọng của các yếu tố vô hình này trong sự ảnh hưởng tới hành vi
mua bán của khách hàng trên thị trường. Các công ty thường mong muốn xây dựng được
lòng tin đối với những người tiêu dùng cuối cùng trên thị trường nói chung và khách hàng
của công ty nói riêng. Tuy nhiên, đạt được mục tiêu này là điều không dễ dàng đối với công
ty và cũng không thể làm được trong một thời gian ngắn. Thế lực của công ty được thể hiện ở
doanh số bán, thị phần mà công ty chiếm được, khả năng tích tụ và tập trung của công ty, khả
năng liên doanh liên kết của công ty với các công ty khác. Nó đòi hỏi các công ty phải hết sức
nỗ lực, có những chủ trương hành động đúng đắn, có những chương trình Marketing cụ thể
và sự phân bố nguồn vốn hợp lý.
c) An toàn trong kinh doanh.
Trong quá trình cạnh tranh, các công ty luôn phải đối mặt với những tác động của các quy
luật kinh tế (cung, cầu, cạnh tranh), những rủi ro, thách thức có thể xảy ra là rất lớn. Do đó,
mục tiêu này không kém phần quan trọng đối với công ty. Và để xác định mục tiêu này đòi
hỏi:
+ Các yếu tố marketing-mix phải thích ứng và phù hợp với thực tế đặc biệt của thị
trường khi có sự thay đổi.
+ Tùy theo thế lực công ty, chọn vùng an toàn trong kinh doanh
+ Chấp nhận quy luật chung của môi trường kinh doanh

- Nhóm căn cứ vào quy chế tiền tệ :
+ Hình thức bảo hộ mậu dịch.
+ Tình hình tiền tệ, lạm phát, diễn biến của tỷ giá hối đoái.
- Căn cứ thương mại :
+ Quy mô và tính năng động thị trường.
+ Sự cạnh tranh quốc tế.
+ Tham gia các liên kết kinh tế.
- Các yếu tố văn hóa, thói quen tiêu dùng tôn giáo.

b) Xác định phương thức xuất khẩu.
Bao gồm: * Xuất khẩu gián tiếp.
* Hợp tác xuất khẩu.
* Xuất khẩu trực tiếp.
Phương thức xuất khẩu được coi là phương thức xâm nhập thị trường quốc tế phổ biến và
đơn giản nhất từ trước tới nay. Xuất khẩu là phương thức đầu tiên được các công ty kinh
doanh quốc tế lựa chọn để tiến hành xâm nhập thị trường quốc tế.
Xuất khẩu có thể được tổ chức theo nhiều cách thức khác nhau phụ thuộc vào số lượng và
loại hình trung gian thương mại.
* Xuất khẩu gián tiếp.
Là phương thức sử dụng các đại lý xuất khẩu hoặc các công ty thương mại quốc tế hoặc
bán hàng cho chi nhánh của các tổ chức nước ngoài đặt ở trong nước. Với việc sử dụng
phương thức xuất khẩu này, các công ty sẽ không phải đối mặt với nhiều rủi ro trong kinh
doanh, đặc biệt khi các tổ chức nước ngoài sở hữu hoàn toàn về hàng hóa thì rủi ro hầu như là
không có. Có thể xem đây là hình thức bán hàng trong nước.
Loại hình xuất khẩu này là phù hợp với các công ty mà mục tiêu mở rộng ra thị trường
nước ngoài và nguồn lực cho việc xâm nhập thị trường quốc tế là hạn chế. Và tất nhiên, lợi
nhuận thu về là không nhiều do công ty phải chia sẻ cho nhà xuất khẩu trung gian một khoản
phí khá lớn.
Tuy nhiên, việc sử dụng loại hình xuất khẩu này công ty sẽ gặp một số rủi ro cụ thể như :
Thứ nhất, công ty sẽ hạn chế vệ việc kiểm soát được mức độ thấp toàn bộ cách thức hàng

thích hợp. Tổ chức xuất khẩu này có thể bố trí ở trong nước hoặc ở thị trường nước ngoài.
Trong trường hợp này, tổ chức xuất khẩu có thể đảm nhiệm tất cảc các chức năng xuất khẩu,
từ việc xác định thị trường tiềm năng, phân đoạn thị trường, thu xếp thủ tục chứng từ xuất
khẩu, vận tải cho đến hoạch định triển khai kế hoạch Marketing bao gồm giá, xúc tiến, phân
phối sản phẩm cho thị trường quốc tế.
Xuất khẩu trực tiếp thường đòi hỏi chi phí cao hơn và ràng buộc nguồn lực lớn để phát
triển thị trường. Tuy nhiên, công ty đã đạt được nỗ lực bán hàng và xúc tiến hiệu quả hơn,
cho phép công ty duy trì và kiểm soát được ở mức độ cao tất cả các điều kiện mà trong đó sản
phẩm được bán ở thị trường quốc tế. Mặt khác, xuất khẩu trực tiếp còn cho phép công ty có
sự liên hệ trực tiếp với thị trường, nắm bắt được phản ứng của thị trường để tìm ra những cơ
hội mới và xu hướng mới của thị trường, quản lý các hoạt động, nắm bắt, hiểu biết các đối
thủ cạnh tranh để điều chỉnh những kế hoạch thích ứng.
c) Lựa chọn các loại hình chiến lược Marketing xuất khẩu.
- Định dạng thời cơ và tăng trưởng cường độ :Với chiến lược này, thực sự có ý nghĩa nếu

như một công ty đã không khai thác hết những thời cơ có trong các nhãn hiệu và các thị
trường hiện hữu của mình. Các thời cơ tăng trưởng bao gồm 3 dạng sau :
+ Thâm nhập thị trường : các công ty có thể tìm cách gia tăng doanh số của sản phẩm
hiện có trong những thị trường hiện có thông qua nỗ lực tiếp thị năng động.
+ Mở rộng thị trường : các công ty tìm cách gia tăng doanh số qua việc đưa sản phẩm
hiện có vào các thị trường mới.
+ Khai thác thị trường : các công ty tìm cách gia tăng doanh số qua việc triển khai
những sản phẩm mới có liên quan mật thiết hoặc cải thiện những sản phẩm cho những thị
trường hiện có.
- Xuất phát từ những nguyên lý để thành công, các công ty phải thực hiện việc làm hài
lòng khách hàng tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh của mình. Các loại hình Marketing chiến
lược phải thích nghi đối với nhu cầu của người tiêu dùng, cũng như đối với các chiến lược
của những đối thủ cạnh tranh.
+ Marketing chiến lược dẫn đạo thị trường : một công ty nếu đang khống chế được
một thị trường, có thể áp dụng một hoặc nhiều chiến lược dẫn đạo thị trường. Công ty có thể

tiến(Promotion). Những biến marketing cụ thể của mỗi yếu tố P được liệt kê trong hình sau: Chủng loại
Chất lượng
Mẫu mã Sản phẩm Phân phối
Tên nhãn
Tính năng
Bao bì
Kích c

Giá cả Khuyến mãi
Giá quy định Kích thích tiêu thụ
Chiết khấu Quảng cáo
Bớt giá Lực lượng bán hàng
Kỳ hạn thanh toán Quan hệ với công chúng
Điều kiện trả chậm Marketing trực tiếp
a) Quyết định về sản phẩm xuất khẩu.
Sản phẩm xuất khẩu là những sản phẩm mà khách hàng hay người tiêu dùng mua ở thị
trường nước ngoài để tiêu dùng nhằm thỏa mãn về vật chất hoặc tinh thần.
Sự cạnh tranh, phát triển kỹ thuật, những nhu cầu mới của khách hàng là những điều bức
xúc đòi hỏi doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện về sản phẩm của mình. Doanh nghiệp có thể
đạt được bằng cách mua lại bằng sáng chế, giấy phép, triển khai mặt hàng mới, cải tiến mặt
hàng cũ.
- Kế hoạch hóa và phát triển sản phẩm xuất khẩu có các hình thức :
+ Giữ nguyên cách phổ biến có nghĩa là khi sản xuất hàng hóa cho thị trường
nước ngoài không có sự thay đổi nào. Việc giữ nguyên cách phổ biến có sức hấp dẫn vì nó

Đây là một trong những quyết định khó khăn nhất trong lĩnh vực hoạt động Marketing
xuất khẩu. Việc định giá xuất khẩu thường đối mặt với một số vấn đề như sau :
* Mối quan hệ giữa giá xuất nhập khẩu và giá nội địa.
- Giá xuất nhập khẩu cao hơn giá nội địa : mối quan hệ này được xác định trên cơ sở
chi phí ban đầu cho việc tổ chức xâm nhập thị trường nước ngoài tăng lên đáng kể, chi phí
phân phối, bán hàng có thể cao hơn so với thị trường nội địa do sự phức tạp của hệ thống
phân phối, thủ tục và chiết khấu thương mại cao.
- Định giá xuất khẩu ngang bằng với giá trong nước : phù hợp với công ty lần đầu tiên
tham gian xuất khẩu, chưa nắm đầy đủ các điều kiện ở thị trường nước ngoài.
- Định giá xuất khẩu thấp hơn giá trong nước : định giá xuất khẩu trong điều kiện giao
hàng FOB thấp hơn giá trong nước xuất phát từ những lý do sau:
+ Mức thu nhập thấp ở một số thị trường nước ngoài có thể đòi hỏi công ty định
giá thấp hơn để đạt được mục tiêu khối lượng.
+ Sự cạnh tranh ở thị trường nước ngoài quyết liệt buộc công ty phải định giá
thấp.
+ Công ty nhận thấy rằng thậm chí xuất khẩu với giá FOB thấp hơn giá nội địa
nhưng do các chi phí vận tải, thuế và các chi phí khác phát sinh cao nên sản phẩm được bán ở
nước ngoài với giá cao hơn.
+ Công ty có thể cho rằng những chi phí xuất khẩu thực tế thấp vì những chi
phí nghiên cứu và phát triển điều hành và một số chi phí khác được hạch toán vào sản phẩm
được bán ở thị trường trong nước.
* Những quyết định giá xuất khẩu :

Tìm ra những mức giá ở thị trường nước ngoài hợp lý là một nhiệm vụ của Marketing
xuất khẩu. Hơn nữa các công ty xuất khẩu cần phải định hướng thị trường trong những quyết
định giá và điều kiện thanh toán, điều kiện giao hàng. Dưới đây ta xem xét những quyết định
liên quan đến giá cả và những điều kiện bán cho những nhà nhập khẩu :
- Quyết định về đồng tiền tính giá.
- Định giá xuất khẩu thích ứng với điều kiện cơ sở giao hàng tương ứng.
- Định giá xuất khẩu thích ứng với phương thức thanh toán

công ty kinh doanh nhằm định hướng vào việc chào hàng, chiêu khách và xác định mội quan
hệ thuận lợi nhất giữa công ty và tập khách hàng tiềm năng trong điểm để triển khai có hiệu
quả chiến lược và các xúc tiến Marketing hỗn hợp của công ty kinh doanh.
* Các quyết định về xúc tiến :
Các quyết định xúc tiến có quan hệ lẫn nhau và gồm các hình thức sau:
- Bán hàng cá nhân : người bán hàng truyền đạt một cách trực diện đến khách hàng tiềm
năng.
- Quảng cáo : đó là các thông điệp bán hàng qua các phương tiện thông tin đại chúng
với điều kiện người làm quảng cáo phải trả tiền.
- Xúc tiến bán : đó là tất cả các hoạt động bán hàng mang tính chất bổ xung và củng cố
việc bán hàng cá nhân và quảng cáo. Các hoạt động này thị trường không định kỳ và có thời
gian tồn tại tương đối ngắn. Các hình thức xúc tiến :
. Catalog cho nước ngoài.
. Hàng mẫu.
. Xuất bản phẩm về công ty hay tổ chức.
. Triển lãm và hội chợ.
. Các tài liệu khác liên quan.
- Quan hệ công chúng : là một quan hệ kinh doanh đặc thù nhằm đánh giá thái độ của
một nhóm liên quan nhận biết được các yếu tố ảnh hưởng đến lợi ích của nhóm này nhằm
hướng được sự hiểu biết và tin tưởng của họ đối với hoạt động kinh doanh của công ty.
1.2.5.Triển khai chiến lược
1.2.5.1) Ngân sách cho chiến lược Marketing xuất khẩu
Đây là yếu tố quan trọng mang tính quyết định, xác thực và khả năng thực thi chiến lược
Marketing xuất khẩu của công ty kinh doanh quốc tế.Chiến lược Marketing xuất khẩu được
xây dựng thì ngay từ bước đầu là các hoạt động nghiên cứu thị trường quốc tế của công ty
cũng đòi hỏi một lượng kinh phí không nhỏ.Tiếp đến, các chi phí phát sinh và chi phí cho
việc thực thi chiến lược., biến chiến lược trở thành hiện thực đối với hoạt động của công ty
kinh doanh quốc tế.

Vốn là yếu tố đặc biệt quan trọng đầu tiên đối với mọi hoạt động của công ty kinh doanh.

Sau khi thu thập thông tin về thị trường mục tiêu, các nhà quản trị của doanh nghiệp cần

phải phân tích, đánh giá và xây dựng một kễ hoạch mục tiêu. Kế hoạch marketing là biểu
hiện cụ thể nhất về sự linh hoạt của một doanh nghiệp bao gồm bốn yếu tố: sản phẩm, giá,
phân phối và xúc tiến.Nếu một kế hoạch có thể có khả năng thực hiện được thì cần xem xét
nên hoàn thiện điểm nào, để nó hoàn chỉnh trước khi đI vào thực hiện. Thông thường, việc
kiểm tra thường xuyên những thông tin ở những môi trường ổn định là rất cần thiết.Nó có thể
giúp doanh nghiệp tránh gặp phải những thay đổi bất thường, những rủi ro mà có thể ảnh
hưởng xấu đến kế hoạch marketing của doanh nghiệp .
Và mỗi một chu kỳ hoặc một giai đoan của quá trình sản xuất, các doanh nghiệp cần xây
dựng kế hoạch để có thể dự tính trong năm nay, công ty có thể đạt giá trị sản xuất là bao
nhiêu, đạt doanh thu và lợi nhuận cao hay thấp.Đến cuối kỳ hoạt động, công ty có thể so sánh
giữa giá trị thực tế hoạt động của công ty với mức kế hoạch đã đề ra từ đầu để từ đó tìm ra
những nguyên nhân khi không đạt đúng mức kế hoạch và đồng thời phát huy ngày cang cao
yếu tố đã giúp công ty vượt mức kế hoach.
1.2.6.Kiểm soát chiến lược
Để hoạt động kinh doanh có hiệu quả đòi hỏi các nhà quản trị công ty phảI tiến hành kiểm
tra, kiểm soát các hoat dộng marketing vì trong , quá trình triển khai kế hoạch marketing có
nhiều yếu tố phát sinh mà các nhà chiến lược marketing không thể lường trước được. Lãnh
đạo công ty đã tiến hành triển khai kế hoạch hàng năm thông qua các chỉ tiêu kinh tế;
-Phân tích doanh số bán để định lượng và đánh giá được doanh số tăng hay giảm so với
dự kiến, tìm nguyên nhân để có biện pháp
-Phân tích thị phần để biết được mức độ chiếm lĩnh thị trường của công ty là bao nhiêu,
tăng hay giảm và đang ở vị trí nào?
-Phân tích chi phí marketing để đảm bảo công ty không chi quá mức, theo dõi quyết định
chi phí cho các hoạt động đó có phù hợp với mục tiêu của công ty hay chưa.
Việc phân tích được các chỉ tiêu kinh tế trên là cơ sở cho các nhà quản trị chiến lược có
thể phân tích được khả năng sinh lời trên từng thị trường cụ thể
1.3.Hệ thống chỉ tiêu đánh giá
1. Tồng kim ngạch xuất khẩu được tính bằng tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu quy đổi ra

( TG: tỷ giá)
Chi phí mua+ Phí+ Thuế (VND)
Tỷ giá xuất=
Tổng số ngoại tệ thu được

Doanh số bán lô hàng nhập(VND)
Tỷ giá nhập =
Tổng số ngoại tệ bỏ ra để mua lô hàng
*) Hiệu quả xuất khẩu:
H
X
= Tỷ giá mua ngoại tệ –Tỷ giá xuất

*) Doanh thu lãi xuất khẩu:
T
X

D
X
=
C
X

Trong đó:+ T
X
:thu nhập do xuất khẩu tính bằng ngoại tệ được quy đổi ra VND theo tỷ giá
công bố của ngân hàng( sau khi trừ tổng chi phí)
+ C
X
: tổng chi phí cho xuất khẩu

+ Tên giao dịch : VAPROMEXCO (Việt An Production Export – Import Company).
+ Địa chỉ : Số 239 - Đặng Tiến Đông - Đống Đa – Hà Nội.

+ Tel : 84-4-8572091.
+ Fax : 84-4-8572075.
+ AIC N0 : 001.1.37.3856 tại Ngân hàng Ngoại thơng 198 Trần Quang Khải - Hà Nội.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực kinh doanh sản xuất chủ yếu.
a) Chức năng của công ty.
- Sản xuất, xuất nhập cung cấp những tiến bộ khoa học kỹ thuật, các thiết bị kỹ thuật thích
hợp cùng với các đơn vị thành viên.
- Nhận xuất nhập khẩu ủy thác các sản phẩm may mặc đáp ứng nhu cầu trong và ngoài
nước.
b) Nhiệm vụ của công ty.
- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hàng năm phù hợp với nhiệm vụ của Tổng công
ty giao và nhu cầu chung của thị trường.
- Đổi mới và hiện đại hóa công nghệ, phương thức quản lý tiêu thụ từ chuyển nhượng tài
sản sử dụng để tái đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ của công ty.
- Tự tạo nguồn vốn, bảo toàn vốn của công ty và sản xuất có hiệu quả từ nguồn vốn đó.
- Thực hiện các nghĩa vụ với người lao động theo quy định của Bộ luật lao động, Luật
Công đoàn.
- Thực hiện chế độ báo cáo thống kê, kế toán, báo cáo định kỳ theo quy định của Tổng
công ty và công ty tự chịu trách nhiệm về tính xác thực của nó.
- Tuân thủ và chịu sự kiểm tra của cơ quan tài chính và của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật.
c) Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu.
- Sản xuất, gia công hàng xuất khẩu chủ yếu là hàng may mặc.
- Kinh doanh hàng may mặc, sản phẩm chủ yếu bao gồm : áo jacket các loại, áo sơ
mi,quần áo lao động….
2.1.3. Cơ cấu bộ máy tổ chức, nhân sự và cơ sở vật chất kinh doanh của công ty Việt An.
a) Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty Việt An.


Phó giám
đốc kinh
doanh
Phòng kế
toán tài
chính

Phòng tổ
chức
hành
Phòng KT
tổng hợp
Phó
giám
đ
ốc sản
Bảo
v


Y
t
ế

Phòng
kỹ
thu
ật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status