LUẬN VĂN:
Xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị
trường Trung Quốc trong bối cảnh ASEAN
và Trung Quốc
Chương II: Thực trạng hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Trung
Quốc trong bối cảnh ASEAN + 1
Chương III: Các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc trong
bối cảnh ASEAN+Trung Quốc
Chương I. Tổng quan về xuất khẩu và Hiệp định khung ASEAN + Trung Quốc
1.1. Khái niệm về xuất khẩu và các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu
Khái niệm
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về xuất khẩu
Xuất khẩu là một bộ phận của hoạt động ngoại thương, trong đó hàng hóa, dịch
vụ được đưa đưa ra khỏi phạm vi biên giới một quốc gia
Xuất khẩu hàng hóa là một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thương
mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm bán sản phẩm, hàng hóa sản xuất trong
nước ra ngoài nước để thu ngoại tệ, qua đó có thể đẩy mạnh sản xuất hàng hóa phát triển,
chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước nâng cao đời sống nhân dân.
Xuất khẩu là việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở
dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán.
Hoạt động xuất khẩu ban đầu là hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá cả hàng hoá
vô hình và hàng hoá hữu hình trong nước. Nhưng do sản xuất phát triển, các nhà sản xuất
vì mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, việc trao đổi giữa các nước có lợi do lợi thế trong cạnh
tranh nên hoạt động này mở rộng ra ngoài phạm vi biên giới quốc gia, hoặc giữa thị
trường nội địa và khu chế xuất ở trong nước.
Xuất khẩu là hoạt động cơ bản của ngoại thương, lịch sử phát triển của nó đã có từ
rất lâu đời và ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Ban đầu,
hình thức cơ bản của nó chỉ đơn thuần là hoạt động trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia.
Ngày nay nó đã phát triển rất mạnh và được biểu hiện dưới nhiều hình thức. Trong xu thế
thực hiện, điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế của một quốc gia trong một thời kì
nhất định nhằm đạt được các mục đích đã định trong chiến lược phát triển kinh tế – xã
hội của quốc gia đó
Nó bao gồm: Chính sách thị trường; Chính sách mặt hàng; Chính sách hỗ trợ có
liên quan mật thiết với nhau
Nó được thực hiện thông qua hai công cụ chủ yếu là các biện pháp thuế quan và
các biện pháp phi thuế quan
Các biện pháp thuế quan: gồm có thuế quan nhập khẩu và thuế quan xuất khẩu
trong đó được áp dụng chủ yếu là thuế quan nhập khẩu. Thuế quan nhập khẩu ngày nay
được áp dụng chủ yếu là hạn ngạch thuế quan là sự kết hợp của thuế quan nhập khẩu và
hạn chế về số lượng nhập khẩu. Trong lượng được phép nhập sẽ được hưởng mức thuế
ưu đãi riêng có thể được miễn giảm thuế (thuế từ 0-5%), ngoài hạn ngạch thì phải chịu
mức thuế suất cao
Các công cụ phi thuế quan: Gồm có các biện pháp hành chính (như hạn ngạch, hạn
chế xuất khẩu tự nguyện…), các biện pháp tiêu chuẩn kĩ thuật (tiêu chuẩn vệ sinh thực
phẩm, tiêu chuẩn vệ sinh phòng dịch, bảo vệ môi trường, tiêu chuẩn đo lường, đóng gói,
an toàn lao động, kí mã hiệu, nguồn gốc xuất xứ…), các đòn bẩy kinh tế (các biện pháp
hỗ trợ tín dụng, trợ cấp trợ giá…)
Ngày nay trong xu hướng tự do hoá thương mại, các biện pháp thuế quan được
tháo bỏ dần trong các tổ chức như WTO, các khu vực mậu dịch tự do, các liên minh kinh
tế…Các biện pháp phi thuế cũng được giảm dần như các biện pháp về hạn ngạch, các
đòn bẩy kinh tế…và được sử dụng tăng cường như các biện pháp về tiêu chuẩn kĩ thuật
(đặc biệt sử dụng các biện pháp tiêu chuẩn liên quan tới môi trường sinh thái, vệ sinh
dịch tễ và các tiêu chuẩn liên quan tới đạo đức xã hội). Hầu hết các biện pháp này đều có
tác dụng làm giảm nhập khẩu các sản phẩm từ nước ngoài vào quốc gia đó, khuyến khích
tiêu thụ hàng hoá được sản xuất trong nước, nâng cao năng lực sản xuất quốc gia, cản trở
hoạt động xuất khẩu hàng hoá.
công cụ thuế quan và phi thuế quan mà mỗi quốc gia sử dụng để quản lý hoạt động xuất
nhập khẩu. Trên thế giới hiện nay, với xu hướng tự do hoá thương mại, các hàng rào thuế
quan và phi thuế quan từng bước được loại bỏ. Thay vào đó nhiều liên minh thuế quan
được hình thành trên cơ sở loại bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các thành
viên trong liên minh thuế quan.
Các yếu tố cạnh tranh.
Các yếu tố cạnh tranh bao gồm số lượng các đối thủ cạnh tranh và chiến lược của
chúng. Các đối thủ cạnh tranh bao gồm các đối thủ cạnh tranh hiện tại và các đối thủ cạnh
tranh tiềm năng. Hiện tại là các nước đã thâm nhập được vào thị trường đó và tạo dựng
được uy tín thương hiệu trên đất nước đó giống như nhắc đến đồ điện tử ở nước ta người
ta nghĩ ngay tới nước Nhật với chất lượng tốt, độ bền cao, tính năng vượt trội…hàng Thái
Lan nổi tiếng ở nước ta là các sản phẩm rau quả tươi, gạo, hàng tiêu dùng…với chất
lượng tốt, giá cả phải chăng hơn so với các loại hàng hoá cùng loại nhưng được sản xuất
ở nước ta. Nhưng ta còn xem xét trong đoạn thị trường mà ta được phân có các đối thủ
cạnh tranh nào. Xem xét trên thị trường đồ điện tử thì ta không thể coi Nhật là đối thủ
cạnh tranh bởi đoạn thị trưòng mà Nhật chiếm lĩnh là đoạn thị trường cao cấp. Khách
hàng cần là những tính năng vượt trội, mới được phát minh, kiểu dáng thời trang… và họ
sãn sàng bỏ tiền ra để có được nó. Còn ta phải nói đến là đoạn thị trường với những
khách hàng trung bình cấp thấp nên trong đoạn thị trường đó ta có đối thủ đáng gờm nhất
là Trung Quốc và các nước ASEAN
Với các đối thủ tiềm năng là những đối thủ hiện tại chưa có động tĩnh gì nhưng
đang có triển vọng rất lớn trong lĩnh vực đó thì ta phải đề phòng nhiều hơn. Ta ngay từ
bây giờ phải làm thế nào để ngày càng mạnh và có chỗ đứng vững chắc trên đoạn thị
trường mà ta đang chiếm lĩnh đồng thời có kế hoạch phát triển sang đoạn thị trường khác
Các yếu tố cạnh tranh còn phụ thuộc vào sức ép người cung cấp các yếu tố là
nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất. Hầu hết các sản phẩm phục vụ cho hoạt động
xuất khẩu đều được sản xuất bằng nguồn nguyên liệu ngoại nhập. Với các nước phát triển
co dãn phần trăm nào đó. Nó trực tiếp tác động tới lượng hàng hóa được trao đổi trên thị
trường quốc tế của một quốc gia, tăng hoặc thu hẹp hoạt động xuất khẩu của quốc gia đó.
Khi tỷ giá tăng, đồng nội tệ mạnh lên, có giá trị cao hơn trước sẽ khuyến khích các quốc
gia nhập khẩu hàng hoá và khi tỷ giá giảm thì các quốc gia sẽ tăng cường xuất khẩu do
lúc này hàng hoá chợt trở lên rẻ hơn một cách tương đối so với trước kia, sức cạnh tranh
của hàng hoá trên thị trường tăng
Các yếu tố về công nghệ
Ngày nay với sự phát triển ngày càng cao của khoa học công nghệ, làm thay đổi
cục diện của toàn bộ hoạt động xuất khẩu. Đời sống của con người cũng được nâng cao
làm cho nhu cầu của họ cũng thay đổi. Con người ngày nay cần những loại hàng hoá và
dịch vụ chất lượng cao, đảm bảo các yêu cầu về tiêu chuẩn hàng hoá, giá cả cạnh
tranh…Sự phát triển của công nghệ đã đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của
con người. Các sản phẩm được tạo ra có chất lượng cao, giá thành phải chăng…công
nghệ càng tiên tiến sản phẩm càng có sức cạnh tranh cao. Do vậy hoạt động nghiên cứu
và triển khai đang được khuyến khích phát triển và đã phát triển rất mạnh ở các nước như
Mỹ, Nhật Bản…, các nước có công nghệ nguồn. Công nghệ tác động tới hoạt động xuất
khẩu còn thông qua tác động vào các lĩnh vực như bưu chính viễn thông, vận tải giao
nhận hàng hóa, ngân hàng…
1.2. Khu vực mậu dịch tự do và tác động đối với xuất khẩu
Khái niệm
Liên kết kinh tế quốc tế là một hình thức trong đó diễn ra quá trình xã hội hoá sản
xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng mang tính chất quốc tế với sự tham gia của các chủ
thể kinh tế quốc tế dựa trên các Hiệp định đã thoả thuận và kí kết để hình thành nên các
tổ chức kinh tế với những cấp độ nhất định
Khu vực mậu dịch tự do là một hình thức liên kết kinh tế mà các thành viên cùng
nhau thoả thuận thống nhất một số vấn đề nhằm mục đích tự do hoá trong buôn bán về một
hoặc một số nhóm mặt hàng nào đó. Các thoả thuận đó là
Giảm hoặc xoá bỏ hàng rào thuế quan và các biện pháp hạn chế số lượng đối
với một phần các loại sản phẩm và dịch vụ khi buôn bán với nhau
Tiến tới tạo lập một thị trường thống nhất về hàng hoá và dịch vụ
dịch vụ, hàng hoá hữu hình
Khu vực mậu dịch tự do có tác dụng tạo lập mậu dịch tức là việc thành lập khu
vực mậu dịch tự do có tác dụng mở rộng hơn nữa khả năng xuất nhập khẩu hàng hoá giữa
các nước trong khu vực với nhau do hàng hoá và dịch vụ của các nước trong khu vực giờ
đây được tự do di chuyển trong nội bộ mà không phải chịu các hạn chế do các rào cản
thuế quan hay các rào cản phi thuế quan mang lại. Hàng hóa chỉ cần có giấy chứng nhận
xuất xứ từ khu vực đó là có thể di chuyển tự do trong nội bộ khu vực đó mà không chịu
bất kì rào cản gì. Hàng hoá của nước khác ngoài khối xuất sang được một nước thuộc khu
vực đó là có thể xuất sang các nước khác thuộc khu vực mà không cần qua các thủ tục rắc
rối để kiểm tra về tiêu chuẩn hàng hoá…
Tuy nhiên bên cạnh việc tạo lập mậu dịch việc thành lập khu vực mậudịch tự do
cũng có tác động tiêu cực là tạo ra sự chuyển hướng mậu dịch. Do nó gần như xoá bỏ
hàng rào thuế quan về hàng hoá và dịch vụ của các nước thuộc khu vực nên các nước này
sẽ chuyển hướng sang mua hàng hoá và dịch vụ của các nước thuộc khu vực mà bỏ qua
hàng hoá và dịch vụ của các nước ngoài khu vực dù cho hàng hoá của các nước đó có tốt
hơn hay rẻ hơn một cách tương đối. Như đã nói ở trên, chính sách thương mại của Chính
phủ mà cụ thể là bằng các công cụ thuế quan và phi thuế quan tác động tới xuất khẩu qua
việc làm cho hàng hoá sản xuất trong các nước thuộc khu vực mậu dịch tự do tăng khả
năng cạnh tranh trên thị trường nước cùng khối so với các sản phẩm khác cùng loại
nhưng được sản xuất ở nước ngoài khối. Điều này tạo điều kiện cho các nước thuộc khu
vực phát triển các ngành sản xuất để xuất khẩu những sản phẩm mà trước kia họ ít lợi thế
tại thị trường các nước trong khu vực so với các nước khác ngoài khối. Việc chuyển dịch
mậu dịch này ép các nước ngoài khối buộc phải giảm giá bán, nâng cao chất lượng sản
phẩm, tăng tính năng công dụng cho sản phẩm mới có thể giữ vững thị phần tại khu vực
này. Nhưng cũng chính nó đã thúc đẩy cho đầu tư trực tiếp nước ngoài phát triển. Các
nước ngoài khối lựa chọn một nước có điều kiện đầu tư tốt nhất so với yêu cầu của họ để
đầu tư sản xuất ngay tại nước bản địa và sau đó thì xuất khẩu sang các nước khác cùng
những năm qua ta đã vươn lên và đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo, thứ hai về
xuất khẩu cà phê, thứ tư về nhân điều và đứng đầu về xuất khẩu hồ tiêu. Việt Nam là một
nước nông nghiệp đang phát triển nhưng tận dụng lợi thế của một nước đi sau ta đã từng
bước áp dụng những thành tựu công nghệ tiên tiến mà thế giới đã nghiên cứu và thử
nghiệm thành công như các giống mới (lúa lai, gà siêu thịt, siêu trứng, lợn nạc…)
1.3.2. Vai trò của xuất khẩu nông sản tới nền kinh tế Việt Nam
Hiện nay nông sản Việt Nam hiện đang có mặt ở trên 80 quốc gia và vùng lãnh
thổ, ngày càng có nhiều mặt hàng có khả năng cạnh tranh khá có thể xâm nhập vào
những thị truờng khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản…
Xuất khẩu đã được thừa nhận là hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh tế đối
ngoại, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Việc mở rộng hoạt động xuất khẩu
để tăng thu nhập ngoại tệ cho tài chính và cho nhu cầu nhập khẩu cũng như tạo cơ sở cho
phát triển các hạ tầng là mục tiêu quan trọng nhất của chính sách thương mại của từng
quốc gia.
Nền kinh tế Việt Nam đã từng bước chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Trong những năm thực
hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế đã đạt được những thành tựu to lớn, đặc biệt là hoạt
động xuất khẩu đã góp phần quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nền kinh tế đất nước. Xuất khẩu góp phần tạo ra nguồn vốn cho hoạt động nhập khẩu, thu
hút hoạt động đầu tư nước ngoài và phát triển đầu tư trong nước vì sự nghiệp phát triển
kinh tế. Đặc biệt với lợi thế về sản xuất nông sản của mình hoạt động xuất khẩu nông sản
là một hoạt động tất yếu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và có vai trò to lớn với
nền kinh tế Việt Nam.
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi. Xuất
khẩu không chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu nội
địa mà còn làm chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế. Liên quan tới nông nghiệp là sự phát
triển của công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu đồng thời kéo theo sự phát triển của
người dân. Xuất khẩu nông sản góp phần thúc đẩy các ngành công nghiệp đặc biệt là
công nghiệp chế biến nông sản phát triển. Hiện nay nước ta chủ yếu là xuất khẩu nông
sản thô, hàm lượng chế biến thấp nhưng để tăng thu ngoại tệ, phát triển và mở rộng sản
xuất, xuất khẩu nông sản thì ta phải tăng hàm lượng chế biến của nông sản lên bằng việc
phát triển và mở rộng các nhà máy chế biến nông sản
1.4. Hiệp định khung giữa ASEAN với Trung Quốc về việc thành lập khu vực
mậu dịch tự do
1.4.1. Bối cảnh ra đời
Qua các hội nghị thượng đỉnh giữa Trung Quốc và các nước ASEAN đã dần dần
đạt được các thoả thuận để đi tới quyết định thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN-
Trung Quốc. Điều đáng nói ở đây là việc thành lập khu vực mậu dịch tự do giưã ASEAN
và Trung Quốc là do đề xuất của phía Trung Quốc. Nó đã đánh dấu một bước phát triển
mới trong quan hệ giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam á. Theo đánh giá của các
chuyên gia đây là một động thái rất thông minh của Trung Quốc và các nước ASEAN đã
hành động đúng khi chấp nhận đề nghị này. Nó đã góp phần cải thiện mối quan hệ của
Trung Quốc với các nước ASEAN, từ đây ASEAN sẽ là một người bạn của Trung Quốc.
Đứng tại vị trí cuả Việt Nam đánh giá ta thấy Việt Nam cũng như nhiều nước ASEAN
khác đều có lợi về kinh tế khi hiệp định này được kí kết. Hơn thế nữa Việt Nam lại là cầu
nối cho hoạt động thông thương giữa Trung Quốc với các nước ASEAN nên nguồn lợi
thu được từ Hiệp định này của Việt Nam là rất đáng kể
Tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 5 tại Brunây (6/11/2001) Trung Quốc và
ASEAN đã nhất trí thành lập khu mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc. Tới ngày
4/11/2002, tại PhnomPenh, các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc đã chính thức thông
qua Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện giữa Trung Quốc và ASEAN, dự tính đến
2010 sẽ xây dựng khu mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN (CAFTA) và xác nhận 5 lĩnh
vực ưu tiên hợp tác, trong đó có nông nghiệp, thông tin, khai thác nguồn tài nguyên nhân
lực, đầu tư vào nhau và khai thác nguồn lợi từ lưu vực sông Mekong…
Nhưng theo chương trình thu hoạch sớm Trung Quốc sẽ tiến hành cắt giảm thuế
đối với các thành viên cũ của ASEAN bắt đầu từ 2004-2006 và từ 2004-2008 với Việt
Nam( Lào, Myanmar là hết 2009, Campuchia là hết 2010)
Căn cứ vào mức thuế 1/7/2003, các mặt hàng nông phẩm thuộc chương trình thu
hoạch sớm được chia làm 3 loại (từ chương I đến chương VIII của biểu thuế HS)
Loại I: có mức thuế hiện hành trên 15%và được giảm xuống 10% vào năm 2004,
5% vào năm 2005 và 0% vào năm 2006
Loại II: Mức thuế hiện hành là dưới 15% giảm còn 5% vào 2004 và bãI bỏ hoàn
toàn vào 2005
Loại III: Mức thuế hiện hành là dưới 5% được bãi bỏ hoàn toàn vào năm 2004
Đối với Việt Nam là một trong những thành viên mới sẽ được hưởng ưu đãi hơn
so với các nước thành viên cũ nhằm giảm tình trạng phát triển không đồng đều trong nội
bộ ASEAN
Loại I: có mức thuế quan trên 30% sẽ được giảm xuống còn 20% năm 2004 và
giảm dần đến 0% vào 2008
Loại II: mức thuế hiện hành từ 15%-30% giảm còn 10% vào năm 2004 và giảm
dần đến 0% vào năm 2008
Loại III: có mức thuế suất hiện hành dưới 15% được giảm xuống còn 5% vào
2004 và 0% vào 2008
Cụ thể, Trung Quốc sẽ tiến hành cắt giảm dần 206 dòng thuế nhập khẩu từ Việt
Nam xuống thuế suất 0% vào năm 2006, bắt đầu thực hiện vào 2004. Về phía Việt Nam
cũng sẽ cắt giảm dần 88 dòng thuế nhập khẩu từ Trung Quốc xuống còn 0% vào 2008
Bảng 1: Lịch trình cắt giảm thuế quan của CAFTA
Năm
T
ỷ lệ thuế quan
Danh m
2010 Thuế quan giảm xuống
0%
Toàn bộ trừ những sản
phẩm nhạy cảm
Trung Quốc và 10
nước ASEAN
2015 Thuế quan giảm xuống
0%
Toàn bộ trừ những sản
phẩm nhạy cảm
ASEAN 4
Nguồn: Trang wed của ban thư kí ASEAN, 2003
Tuy nhiên trong nội bộ khối ASEAN cũng có nhiều bất hòa xung quanh thực hiện
lộ trình cắt giảm thuế với các mặt hàng từ Trung Quốc. Một số nước đã dành những ưu
đãi riêng cho Trung Quốc hơn cả đối với các nước ASEAN. Phía Việt Nam cũng đã
thành lập tổ công tác liên bộ về Khu vực thương mại dịch vụ tự do ASEAN-Trung Quốc
nhằm đáp ứng yêu cầu làm đầu mối điều phối và tổ chức đàm phán với các bên đối tác về
nội dung hợp tác kinh tế trong khuôn khổ hiệp định. Chính phủ cũng đã ban hành nghị
định 99/2004/NĐ-CP ngày 25/2/2004 về việc ban hành danh mục hàng hóa và thuế suất
xuất nhập khẩu của Việt Nam cho các năm 2004-2008 để thực hiện theo chương trình thu
hoạch sớm
Sau khi hiệp định khung được kí kết các nước ASEAN và Trung Quốc sẽ tiếp tục
đàm phán những vấn đề liên quan đến
+Lộ trình cắt giảm thuế với các mặt hàng thuộc danh mục SEL và NT
+Thời gian hoàn thành đàm phán về quy tắc xuất xứ hàng hóa
+Xử lý thuế ngoài hạn ngạch
+Sửa đổi cam kết
+Các biện pháp phi thuế quan về hạn chế nhập khẩu
+Các biện pháp tự vệ dưa trên nguyên tắc của WTO
+Nguyên tắc trợ cấp xuất khẩu, các biên pháp đối kháng và các biện pháp chống
Chương II . Thực trạng xuất khẩu nông sản của
Việt Nam sang Trung Quốc trong bối cảnh
ASEAN + Trung Quốc
2.1. Thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường Trung
Quốc
Việt Nam và Trung Quốc bắt đầu thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1950, kí
Hiệp định thương mại từ 1991. Từ đó đến nay quan hệ của hai nước đã có nhiều bước
phát triển mới trên mọi lĩnh vực đặc biệt trong lĩnh vực thưưong mại. Trước hết ta sẽ xem
xét đánh giá một cách tổng thể về tình hình xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung
Quốc từ năm 2000-2005
Bảng 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc
từ 2000-2005
Đơn vị: Triệu USD
Năm
2000
1606
2158.8
3119
4456
5778
CCTM
-608
-188
-455.4
-1371.4
-1721
-2817
Nguồn: Hải quan Trung Quốc
Theo thống kê của Hải quan Trung Quốc, kim ngạch xuất khẩu giữa Việt Nam và
Trung Quốc liên tục tăng qua các năm, nó được đánh dấu bắt đầu từ khi Việt Nam và
Trung Quốc kí Hiệp định thương mại song phương (1991). Tuy vậy, cán cân thương mại
của Việt Nam với Trung Quốc luôn ở trong tình trạng thâm hụt, Việt Nam luôn nhập siêu
-500
0
2000 2001 2002 2003 2004 2005
Nhỡn vo th trờn ta thy c giỏ tr kim ngch xut khu ca Vit Nam sang
Trung Quc liờn tc tng qua cỏc nm v c bit tng mnh trong nhng nm gn õy
(2004-2005), l nhng nm EHP bt u cú hiu lc. Nhng theo ú cỏn cõn thng mi
cng thõm ht nhiu hn, ta nhp nhiu sn phm giỏ r ca Trung Quc do phớa ta cng
bắt đầu giảm thuế theo lộ trình của Hiệp định. Chỉ có năm 2001 là kim ngạch xuất khẩu
vẫn tăng so với 2000 nhưng CCTM thâm hụt lại ít hơn so với các năm trước và thấp nhất
trong thời kì 2000-2005. Điều này có được là do trong năm 2001, năm Trung Quốc gia
nhập WTO, kim ngạch xuất khẩu rau quả và một số sản phẩm khác của Việt Nam vào thị
trường Trung Quốc tăng đột biến do nhu cầu của Trung Quốc tăng và cũng do Trung
Quốc đã nới lỏng rào cản thương mại đối với hàng hoá nhập khẩu vào theo quy định của
WTO
2.1.1. Trước khi Hiệp định có hiệu lực
Hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc trước
năm 2004 diễn ra khá sôi động, Trung Quốc là một trong những thị trường nhập khẩu
nông sản chủ yếu của Việt Nam.
Bảng 3: Các mặt hàng nông sản của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường
Trung Quốc từ 2000-2003
Đơn vị: triệu USD
Năm
Mặt hàng
2000
2000 2001 2002 2003
Bảng 3.1: Kim ngạ ch một số mặt hàng nông sản
chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc từ nă m 2000-
2003
Hạ t điều
Cao su
Rau quả
Trong cỏc mt hng trờn mt hng rau qu l mt hng luụn cú kim ngch n nh,
ln. c bit nm 2001, do nhu cu mt hng ny tng mnh Trung Quc, giỏ tr kim
ngch xut khu rau qu cu Vit Nam sang Trung Quc tng mnh, gim dn trong
nhng nm tip theo nhng vn cú kim ngch khỏ. Ti 2003, mt hng ny xut khu vo
Trung Quc chng li, kim ngch gim t ngt xung gn 68 triu USD do Hip nh
v rau qu ca Thỏi Lan v Trung Quc cú hiu lc vo 1/7/2003
Mt hng rau qu xut khu sang Trung Quc phỏt trin mnh l do Vit Nam ch
yu xut theo con ng biờn mu qua cỏc ca khu li dng ng biờn giớ lin nhau
vo cỏc tnh nh Võn Nam, Qung Tõych khụng thụng qua con ng chớnh ngch
xut khu vo sõu trong th trng Trung Quc do xut khu qua con ng tiu ngch
Vit Nam s c hng nhng u ói v thu m Trung Quc dnh cho hng hoỏ theo
con ng biờn mu, v cng gim c phớ bo qun hng húa vi mt loi hng hoỏ
d hng nh rau qu ti
Bng 4: Kim ngch xut khu rau qu vo th trng Trung Quc
n v: Triu USD
Nm 2000 2001 2002 2003
Tng KNXK rau qu ca Vit Nam 213,1 329,97 201,156 152,47
Vo Trung Quc 120,351 142,8 121,529 67,068
T trng (%) 56,47 43,28 60,42 44
Bảng 5: Tỷ trọng xuất khẩu hạt điều sang Trung Quốc trong tổng KNXK hạt
điều của Việt Nam giai đoạn 2000-2003
Đơn vị: Triệu USD
Năm 2000
2001
2002
2003
Tổng KNXK hạt điều của Việt Nam 167.3 105.7 171 276.6
Vào Trung Quốc 53.3 58.6 62.4 65.1
Tỷ trọng(%) 32 55.4 36.5 23.5
Nguồn: Bộ Thương mại
B¶ng 5.1: Tû träng xuÊt khÈu h¹ t ®iÒu vµo
Trung Quèc giai ®o¹ n 2000-2003
0
10
20
30
40
50
60
2000 2001 2002 2003
2002
2003
Tổng KNXK cao su của Việt Nam 166 166.2 271.76 378.77
Vào Trung Quốc 66.4 62.2 82 147
Tỷ trọng (%) 40 37.4 30.2 38.8
Nguồn: Bộ Thương mại
Xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu vẫn là cao su thiên nhiên phục vụ cho nhu
cầu của các ngành công nghiệp của Trung Quốc, xuất khẩu ở dạng mủ chưa qua sơ chế
hoặc mới sơ chế qua loa, giá trị thấp. B¶ng 6.1: Tû träng xuÊt khÈu cao su cña ViÖt
Nam sang Trung quèc giai ®o¹ n 2000-2003
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
2000 2001 2002 2003