Báo cáo tốt nghiệp: “Thực trạng và giải pháp mở rộng tín dụng tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Techcombank chi nhánh Đông Đô” - Pdf 15

Báo cáo tốt nghiệp

“Thực trạng và giải pháp mở rộng tín dụng tiêu dùng
tại Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương
Techcombank chi nhánh Đông Đô”
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 6
CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8
1.1 Khái quát về hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương
mại 8
1.1.1. Khái niệm về cho vay tiêu dùng. 8
1.1.2. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng. 8
1.1.3. Phân loại cho vay tiêu dùng 13
1.1.3.1. Căn cứ vào mục đích vay. 13
1.1.3.2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả. 13

2.1.4.2 Hoạt động sử dụng vốn 39
2.2 Cho vay tiêu dùng tại Techcombank- Đông Đô 41
2.2.1 Thực trạng mở rộng tín dụng tiêu dùng tại chi nhánh 41
2.2.1.1 Tình hình tăng trưởng cho vay tiêu dùng 42
2.2.1.2 Hoạt động cho vay tiêu dùng tại Techcombank Đông Đô. 44
2.2.1.3 Quy mô và cơ cấu cho vay tiêu dùng theo sản phẩm tại
Techcombank- §«ng §« 46
2.2.1.4 Xét về dư nợ cho vay tiêu dùng theo sản phẩm 48
2.2.1.5 Chất lượng cho vay tiêu dùng 51
2.2.1.6 Về tình hình nợ xấu 51
2.2.2 Doanh thu và chi phí từ hoạt động cho vay tiêu dùng. 53
2.3 Đánh giá chung về mở rộng tiêu dùng của Techcombank- Đông Đô
trong thời gian qua. 54
2.3.1 Những kết quả đạt được. 54
2.3.2 Một số hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân 56
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 57
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG TÍN DỤNG TIÊU DÙNG
TẠI NGÂN HÀNG KỸ THƯƠNG TECHCOMBANK CHI NHÁNH
ĐÔNG ĐÔ 63
3.1 Định hướng phát triển tín dụng tiêu dùng tại Techcombank- Đông Đô
trong thời gian tới 63
3.2 Giải pháp nhằm mở rộng tín dụng tiêu dùng tại Techcombank Đông
Đô. 64
3.2.1 Xây dựng và hoàn thiện danh mục sản phẩm 64
3.2.2 Đa dạng hóa phương thức TDTD 67
3.2.3 Hoàn thiện quy trình cho vay 68
3.2.4 Gắn mở rộng TDTD đi đôi với việc nâng cao chất lượng TDTD
69
3.2.5 Đẩy mạnh hoạt động Marketing ngân hàng 70
3.2.6 Tăng cường đầu tư cho cơ sở vật chất kỹ thuật và các trang

LỜI NÓI ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất và tiêu dùng là hai mặt rất quan
trọng. Sản xuất chính là đại diện của lượng cung, còn tiêu dùng chính là đại
diện của lượng cầu. Giữa sản xuất và tiêu dùng có mối quan hệ rất khăng khít
và có tác động qua lại lẫn nhau. Tiêu dùng là điều kiện cơ bản cho sự tồn tại
của sản xuất, vì có nhu cầu thì mới có nguồn cung. Còn sản xuất cũng góp
phần tạo nên sự phát triển của tiêu dùng, vì nhu cầu có được sự thoả mãn hiện
tại bởi cung thì mới có thể nảy sinh thêm các nhu cầu tiêu dùng mới.
Mối tương quan giữa sản xuất và tiêu dùng nằm ở trạng thái nào thì nó
sẽ tạo ra ảnh hưởng tương ứng cho nền kinh tế. Vì sản xuất quá nhiều mà
không có được nhu cầu tiêu dùng tương xứng thì sẽ tạo nên tình trạng khủng
hoảng thừa, giá cả sản phẩm trên thị trường sẽ giảm sút gây thiệt hại cho các
nhà sản xuất, quy mô sản xuất sẽ bị thu hẹp lại. Còn nhu cầu tiêu dùng quá
nhiều mà sản xuất không đáp ứng nổi sẽ gây nên tình trạng lạm phát cho nền

Chương 3: Giải pháp nhằm mở rộng tín dụng tiêu dùng tại ngân
hàng Techcombank chi nhánh Đông Đô CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm về cho vay tiêu dùng.
Cho vay tiêu dùng là một hình thức qua đó ngân hàng chuyển cho
khách hàng (cá nhân hay hộ gia đình) quyền sử dụng một lượng giá trị (tiền)
trong một khoảng thời gian nhất định, với những thoả thuận mà hai bên đã ký
kết (về số tiền cấp, thời gian cấp, lãi suất phải trả ) nhằm giúp cho khách
hàng có thể sử dụng những hàng hoá và dịch vụ trước khi họ có khả năng chi
trả, tạo điều kiện cho họ có thể hưởng một cuộc sống cao hơn.
Trong giai đoạn đầu, phần lớn các ngân hàng không tích cực cho vay
đối với cá nhân và hộ gia đình bởi họ cho rằng các khoản cho vay tiêu dùng
có quy mô nhỏ, nguy cơ vỡ nợ cao do đố chúng có mức sinh lời thấp. Tuy
nhiên, sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho
vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới tiêu dùng như khách hàng tiềm
năng. Đặc biệt, sau chiến tranh thế giới thứ hai, cho vay tiêu dùng đã trở
thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước
có nền kinh tế phát triển. Hiện nay, thị trường cho vay tiêu dùng ở các quốc
gia phát triển đã đạt đến đỉnh điểm trong khi các quốc gia phát triển thì mảng

Công ty tài chính hoặc giữa các ngân hàng cạnh tranh với nhau trong cho vay
làm cho thị phần cho vay các doanh nghiệp của ngân hàng bị giảm sút buộc
ngân hàng phải mở rộng thị trường cho vay tiêu dùng, hướng tới người tiêu
dùng như là một khách hàng trung thành tiềm năng. Ngân hàng cho vay tiêu
dùng một mặt tăng thu nhập cho bản thân ngân hàng, mặt khác tạo ra uy tín
cho ngân hàng.
Cuộc sống hàng ngày ngày càng hiện đại, vay tiêu dùng trở nên cần
thiết hơn bao giờ hết và sự hình thành cho vay tiêu dùng đã trở thành tất yếu.
So với các hình thức cho vay khác thì hình thức cho vay tiêu dùng ra đời
muộn hơn, nó chỉ mới xuất hiện trong những năm cuối thế kỷ XX. Nguyên
nhân của việc này là do các khoản cho vay tiêu dùng thường có giá trị nhỏ,
chi phí cho khoản vay lại tương đối lớn và độ rủi ro lại tương đối cao làm cho
các ngân hàng ngại cho vay. Tuy nhiên, các ngân hàng đã không thể đứng
ngoài cuộc khi các tổ chức khác đang ngày càng cạnh tranh mạnh mẽ giành
giật thị trường, nhất là trên lĩnh vực dành cho khách hàng cá nhân.
Sự phát triển của nền kinh tế các nước trên thế giới sau chiến tranh thế
giới thứ hai giúp người dân có mức thu nhập cao hơn và khá ổn định. Họ tin
tưởng và lạc quan vào tương lai đồng thời nhu cầu tiêu dùng của họ tăng lên
khá mạnh, điều đó giúp cho ngân hàng có được một số lượng lớn khách hàng
đối với khoản cho vay tiêu dùng. Cho vay tiêu dùng trở thành loại hình cho
vay có mức tăng trưởng cao nhất.
Quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay rất lớn.
Do mục đích vay tiêu dùng nên quy mô các khoản vay không lớn. Vì
nhu cầu của dân cư với các loại hàng hoá xa xỉ là không cao hoặc đã có tích
luỹ trước đối với các loại tài sản có giá trị lớn. Song, nhu cầu vay tiêu dùng là
khá phổ biến do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã
hội từ những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình
và thấp với nhiều nhu cầu phong phú và đa dạng.
Nguồn trả nợ: khách hàng trích nguồn thu nhập từ lương, thu nhập từ
hoạt động kinh doanh của mình (không phải là từ kết quả sử dụng những

Lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng cao.
Do rủi ro cao và chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ của cho vay tiêu
dùng lớn nên ngân hàng thường đặt lãi suất rất cao đối với các khoản cho vay
tiêu dùng. Bên cạnh đó, số lượng các khoản cho vay tiêu dùng là khá nhiều,
khiến cho tổng quy mô cho vay tiêu dùng là rất lớn, cùng với tiền lãi thu được
từ mỗi khoản vay làm cho tổng lợi nhuận thu được từ hoạt động cho vay tiêu
dùng là đáng kể.
Như vậy đối với cho vay tiêu dùng có dộ rủi ro cao, lãi suất lớn sẽ là
nguồn mang lại lợi nhuận kỳ vọng lớn cho ngân hàng. Thực tế cho thấy cho
vay tiêu dùng đem lại mọtt khoản lợi nhuận không nhỏ cho ngân hàng trong
việc đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng. Đối với người tiêu dùng, họ vẫn
chấp nhận mức giá cao vì họ luôn đặt yếu tố thoả mãn lên hàng đầu chứ
không tính kỹ lỗ, lãi như trong kinh doanh.

1.1.3. Phân loại cho vay tiêu dùng
Có nhiều cách phân loai cho vay tiêu dùng thành các loại khác nhau,
tuỳ theo tiêu thức chúng ta lựa chọn mà cho vay tiêu dùng được phân chia
thành:
1.1.3.1. Căn cứ vào mục đích vay.
- Cho vay tiêu dùng bất động sản.
Là khoản tín dụng được cấp nhằm tài trợ cho nhu cầu mua, xây dựng,
cải tạo nhà cho khách hàng (cá nhân hay hộ gia đình). Đặc điểm của những
món vay này là quy mô thường lớn, thời gian dài.
- Cho vay tiêu dùng thông thường.
Đây là những khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống như
mua sắm phương tiện, đồ dùng, du lịch, học hành, y tế hoặc giải trí Đặc
điểm của những khoản tín dụng này thường có quy mô nhỏ, thời gian tài trợ
ngắn.
1.1.3.2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả.
Theo tiêu thức này thì cho vay tiêu dùng được phân thành:

những điều kiện đó mà nhà cung cấp sẽ thoả thuận với khách hàng của mình
về việc bán chịu hàng hoá
1.1.4. Vai trò của cho vay tiêu dùng
1.1.4.1 Đối với Ngân hàng thương mại
Hoạt động chủ yếu của các ngân hàng thương mại là nhận tiền gửi (huy
động vốn) và sử dụng khoản tiền đó (sử dụng vốn) trong kinh doanh nhằm thu
lợi nhuận, hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại là hoạt động chiếm
thị phần cao nhất, mang lại cho ngân hàng nhiều lợi nhuận nhất
Lúc đầu, các ngân hàng thương mại cũng không mấy quan tâm đến thị
trường cho vay tiêu dùng, bởi đây là thị trường mà các khoản tài trợ có quy
mô nhỏ, chi phí tài trợ là lớn, rủi ro cũng cao. Tuy nhiên, khi mà cuộc cạnh
tranh để giành thị phần thị trường trở lên khốc liệt, các ngân hàng thương mại
không chỉ phải cạnh tranh với chính các ngân hàng trong hệ thống, mà còn
phải cạnh tranh với các tổ chức tài chính phi ngân hàng đã khiến thị phần trên
một số thị trường của các ngân hàng bị thu hẹp, trong khi thị trường cho vay
tiêu dùng đang có xu thế lên cao. Do vậy, các ngân hàng đã phải hướng mục
tiêu của mình vào lĩnh vực này, và cho vay tiêu dùng đã dần trở thành một
loại hình sản phẩm phổ biến trong các ngân hàng thương mại, một loại sản
phẩm mang lại thu nhập tương đối cao trong tổng doanh thu của các ngân
hàng.
Mặc dù các khoản tài trợ theo hình thức cho vay tiêu dùng là nhỏ,
nhưng với số lượng các khoản này lại rất lớn (đối tượng có nhu cầu vay tiêu
dùng bao gồm tất cả các thành phần trong xã hội), vì thế tổng quy mô tài trợ
là rất lớn. Bên cạnh đó, lãi suất của các khoản tài trợ theo hình thức này là rất
cao (bởi người nhận tài trợ họ chỉ quan tâm đến thoả mãn nhu cầu trước mắt
mà họ được hưởng, họ không mấy quan tâm đến lãi suất phải trả) nên đã
mang lại cho ngân hàng một tỷ suất lợi nhuận tương đối lớn trong tổng lợi
nhuận của ngân hàng. Đặc biệt, với ngân hàng có quy mô nhỏ, uy tín chưa
cao vv, khó có thể cạnh tranh được với các ngân hàng có quy mô lớn, uy tín
cao trong việc giành những khách hàng lớn (thường là các tổ chức mà nhu cầu

phát triển. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng sẽ đạt được các mục tiêu kinh tế – xã
hội khác như giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập,
giảm bớt các tệ nạn xã hội, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho
người dân.
1.2 Nội dung cơ bản của mở rộng tín dụng tiêu dùng
1.2.1 Quan niệm về mở rộng tín dụng tiêu dùng.
Nói đến mở rộng, tức là nói đến sự tăng trưởng về quy mô, khối lượng
và số lượng. Nói cách khác,mở rộng tức là sự tăng trưởng theo chiều ngang.
Theo cách hiểu này, mở rộng tín dụng tiêu dùng chính là sự đáp ứng yêu cầu
ngày càng tăng của khách hàng về quy mô tín dụng tiêu dùng cũng như làm
tăng tỷ trọng của tín dụng tiêu dùng trong cơ cấu tổng dư nợ tín dụng ngân
hàng thương mại(NHTM)
Mở rộng tín dụng tiêu dùng được thể hiện:
* Đối với khách hàng: TDTD phải thoả mãn tối đa các yêu cầu hợp lý
của khách hàng về khối lượng tín dụng tiêu dùng cung cấp, sự đa dạng hoá
trong các hình thức tín dụng tiêu dùng cũng như các dịch vụ kèm theo.
* Đối với ngân hàng thương mại: TDTD phải được xác định là khâu
chủ đạo trong toàn bộ hoạt động tín dụng của các NHTM.Đồng thời,phải thoả
mãn và đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng, cũng như có một chính sách
tín dụng hợp lý, đa dạng về đối tượng khách hàng.
* Đối với sự phát triển của kinh tế xã hội: TDTD phải đáp ứng các
yêu cầu về vốn của nền kinh tế, phải là kênh dẫn truyền vốn hiệu quả nhằm
trợ giúpcho ngân sách nhà nước cũng như tạo điều kiện cho thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, góp phần cải thiện đời sống dân cư.
Từ cách hiểu trên có thể thấy được rằng:
Mở rộng TDTD phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về
vốn cho nền kinh tế theo một cơ cấu hợp lý, phù hợp với tốc độ phát triển
kinh tế xã hội trong từng thời kỳ.
Mở rộng TDTD phản ánh sự phát triển của tín dụng tiêu dùng trong
một môi trường tài chính cạnh tranh mạnh mẽ.

cầu của họ. Việc mở rộng TDTD do đó sẽ giúp ngân hàng thoả mãn tối đa các
yêu cầu hợp lý của khách hàng về khối lượng tín dụng tiêu dùng.
Rõ ràng là mở rộng TDTD sẽ đem đến lợi ích tốt nhất cho người tiêu
dùng.
* Đối với các NHTM
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một điều không thể tránh
khỏi. Để có thể đứng vững và tồn tại trong một môi trường cạnh tranh đầy
khắc nghiệt đòi hỏi mỗi NHTM phải có chiến lược kinh doanh phù hợp, một
mặt tận dụng các thời cơ, mặt khác phải tạo ra ưu thế cạnh tranh so với các
đối thủ của mình.
Chính vì lý do trên, mỗi NHTM luôn tìm cách đa dạng hoá hoạt động
kinh doanh và tín dụng tiêu dùng được xác định là một trong những nghiệp vụ
tạo ưu thế cạnh tranh cho ngân hàng.
Với phương châm hoạt động “khách hàng là thượng đế”, các NHTM
luôn tìm mọi cách để thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng cũng như tăng
cườngcác mối quan hệ với khách hàng. Điều này có thể được thực hiện một
cách hiệu quả khi các NHTM mở rộng tín dụng tiêu dùng, một thị trường đầy
tiềm năng cho các ngân hàng.
Một lý do nữa khiến cho việc mở rộng tín dụng tiêu dùng là cần thiết,
đó là vì hoạt động kinh doanh của các ngân hàng luôn chứa đựng nhiều rủi ro.
Để có thể giảm thiểu rủi ro, các NHTM luôn tìm mọi cách để đa dạng hoá
hoạt động kinh doanh cũng như đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ cung ứng
cho khách hàng. Từ đó giúp cho ngân hàng tăng sức mạnh trong cạnh tranh.
Cuối cùng, một điều dễ nhận thấy là cùng với việc mở rộng TDTD, các
NHTM không chỉ tối đa hoá lợi ích của khách hàng mà còn giúp ngân hàng
thực hiện được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
* Đối với sự phát triển của nền kinh tế
Mở rộng TDTD không chỉ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng mà còn
mang lại lợi ích cho nền kinh tế. Nếu TDTD được tài trợ cho những nhu cầu
chi tiêu hàng hoá, dịch vụ trong nước thì nó có tác dụng kích cầu, một mặt cải

t so với năm (t-1)
- Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng về tỷ trọng.
Tổng doanh số TDTD x 100%
Tỷ trọng =
Tổng doanh số hoạt động tín dụng
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết doanh số của hoạt động tín dụng tiêu
dùng chiếm bao nhiêu phần trăm tronng doanh số của toàn bộ hoạt động tín
dụng của ngân hàng.
1.2.3.2 Chỉ tiêu phản ánh dư nợ TDTD
- Dư nợ TDTD
Là số tiền mà khách hàng đang nợ ngân hàng tại một thời điểm, chỉ tiêu
này thường được sử dụng kết hợp với chỉ tiêu doanh số cho vay nhằm phản
ánh tình hình mở rộng tín dụng tiêu dùng của ngân hàng.
- Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng dư nợ tuyệt đối
Giá tr
ị tăng tr
ư
ởng

dư nợ tuyệt đối

=

T
ổng d
ư n


TDTD năm t


khoản vay tiêu dùng mà ngân hàng cấp cho khách hàng.
- mChỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng về số lượng khách hàng
Mức tăng giảm = số lượng khách hàng - số lượng khách hàng số
luợng khách hàng nămt năm (t-1)
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết số lượng khách hàng năm t tăng giảm
bao nhiêu so với năm (t-1). Qua đó giúp cho việc đánh giá khả năng mở rộng
quy mô và đối tượng khách hàng tại ngân hàng.
- Chỉ tiêu số lượt khách hàng:
Số lượt khách hàng là số lần một khách hàng đến giao dịch với ngân
hàng trong một năm. Trong hoạt động TDTD, số lượt khách hàng thể hiện ở
số lần khách hàng đến ngân hàng thực hiện vay tiêu dùng. Chỉ tiêu này cho
biết mực độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng.
1.2.3.4 Chỉ tiêu phản ánh sự mở rộng loại hình TDTD
Chỉ tiêu này phản ánh sự đa dạng về loại hình TDTD tại ngân hàng, qua
đó cho thấy khả năng mở rộng quy mô cũng như phạm vi hoạt động TDTD tại
ngân hàng. Đây đồng thời cũng là một chỉ tiêu quan trọng, phản ánh sự đa dạng
về đối tượng khách hàng đến thực thực hiện giao dịch TDTD tại ngân hàng.
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng tín dụng tiêu dùng
Để thực hiện việc mở rộng TDTD cần xem xét những nhân tố ảnh
hưởng tới nó, từ đó có những đánh giá một cách chính xác hơn.
1.2.4.1 Những nhân tố vĩ mô
Bao gồm các yếu tố tổng quát như kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hoá
xã hội, dân số…Tuy nhiên, trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có một số
có yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp, chính vì lẽ đó chúng ta sẽ xem xét
một cách kỹ lưỡng hơn
 Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế được phản ánh qua các giai đoạn của chu kỳ kinh tế,
tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát, triển vọng các ngành kinh tế sử dụng
vốn của ngân hàng, mức độ ổn định của giá cả, tỷ lệ thất nghiệp…Chính
những yếu tố này phản ánh tính hấp dẫn về thị trường và sức mua khác nhau


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status