LUẬN VĂN: Quan điểm và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Quan điểm và đề xuất các giải pháp cụ thể
nhằm phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên
địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử phát triển của các nước, doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) luôn
luôn có vai trò và tác dụng rất quan trọng. Gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa
học - công nghệ và xu hướng toàn cầu hóa kinh tế diễn ra khá sôi nổi, thực tiễn quản lý
kinh tế và quản lý doanh nghiệp (DN) có những chuyển biến sâu sắc, thì các DNVVN lại
càng được chú trọng.
ở nước ta, DNVVN cũng có vai trò quan trọng, do sự phát triển còn thấp của nền
kinh tế quốc dân, do tiềm năng còn lớn của nội lực dân tộc, do yêu cầu đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Trong 16 năm đổi mới vừa qua, nền kinh tế nước
ta đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng: cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến theo

- Dự án "Chính sách hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam"
do PGS.TS Nguyễn Cúc - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh làm chủ dự án.
- PGS.TS Nguyễn Cúc (chủ biên), Đổi mới cơ chế và chính sách hỗ trợ phát triển
doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam đến năm 2005, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2000.
- Vương Liêm - Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Nhà xuất bản Giao thông vận tải, Hà
Nội, 2000.

- Vũ Quốc Tuấn - Hoàng Thu Hà, Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa: Kinh
nghiệm nước ngoài và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam, Nhà xuất bản
Thống kê, Hà Nội, 2001 v.v
Tuy vậy, vấn đề DNVVN đối với cả nước ta và đối với tỉnh Quảng Ngãi vẫn còn
là vấn đề mới, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế, thực hiện chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội thời kỳ 2001 - 2010 và thực hiện đường lối CNH, HĐH do Đại hội Đảng
lần thứ IX đề ra thì việc nghiên cứu DNVVN vẫn là vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực
tiễn.
Đối với địa bàn tỉnh Quảng Ngãi chưa có tác giả, chưa có công trình nào đặt vấn đề
nghiên cứu về DNVVN. Đây là vấn đề lớn, mới mẻ và có ý nghĩa thiết thực đối với tỉnh,
đang đòi hỏi cần có những đầu tư nghiên cứu cụ thể, có hệ thống.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, tôi lựa chọn đề tài này với mong muốn đi sâu
nghiên cứu, học hỏi những vấn đề về lý luận, đồng thời tiến hành tổng hợp số liệu kết
hợp với quá trình khảo sát thực tiễn trên địa bàn, để từ đó đề xuất ý kiến của mình về phát
triển DNVVN ở tỉnh Quảng Ngãi.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích:
Luận văn hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về quá trình hình thành và
phát triển của DNVVN, cũng như luận giải rõ vai trò của DNVVN trong nền kinh tế ở Việt
Nam trong thời kỳ mới, đẩy mạnh CNH, HĐH và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nói
chung, đặc biệt là trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp
phù hợp nhằm phát triển DNVVN có hiệu quả, đóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh

Quảng Ngãi.

6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, giúp các cơ quan nghiên
cứu, các ban ngành liên quan của tỉnh Quảng Ngãi tham khảo để hoạch định chính sách và
chỉ đạo thực tiễn trong việc khuyến khích phát triển DNVVN trên địa bàn tỉnh.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các trường đào tạo và các lớp tập
huấn cho cán bộ quản lý kinh tế của tỉnh.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài ra mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của
luận văn được trình bày trong 3 chương, 7 tiết.

Chương 1
Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.1. Sự phát triển lý luận và quan điểm về doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt
Nam
1.1.1. Quá trình nghiên cứu về DNVVN ở Việt Nam
- Tính tất yếu khách quan của sự phát triển của DNVVN ở Việt Nam
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, DNVVN ra đời sớm hơn DN lớn.
Tiền thân của các DNVVN là các hộ gia đình sản xuất tự cung tự cấp.
DNVVN không chỉ là một phạm trù phản ánh độ lớn của DN mà là một phạm trù
bao hàm nội dung tổng hợp về kinh tế tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý, tiến bộ khoa học
- công nghệ. DNVVN tồn tại và phát triển là tất yếu khách quan phù hợp với yêu cầu của
quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ, tính chất phát triển của lực lượng sản
xuất.

Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, mô hình DNVVN ngày càng được
mở rộng và phổ biến không chỉ ở các nước công nghiệp phát triển mà cả ở những nước
đang phát triển và kém phát triển. Vì thế, dù mang cái tên rất khiêm tốn "vừa và nhỏ"
song sức sống và vai trò của nó thật sự không nhỏ.
- Sự ra đời của các DNVVN ở Việt Nam
Theo các tài liệu lịch sử, DNVVN ở Việt Nam đã được hình thành cùng với quá
trình ra đời nghề thủ công và làng nghề truyền thống trong nông thôn. Những nghề và
làng nghề thủ công truyền thống quan trọng, nổi tiếng phần lớn đã ra đời từ rất lâu, vài
trăm đến hàng nghìn năm ở đồng bằng sông Hồng rồi sau đó lan ra cả nước. Hình thành
tổ chức SXKD của nghề thủ công và làng nghề truyền thống trước đây chủ yếu là kinh tế

hộ gia đình hoặc liên gia đình trong từng làng xã, vừa mang tính chất sản xuất hàng hóa,
vừa mang tính chất sáng tạo nghệ thuật.
Trong thời kỳ bị thực dân Pháp đô hộ, nghề thủ công truyền thống vẫn được tiếp
tục tồn tại và phát triển. Dưới tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật và phương thức
kinh doanh tư bản chủ nghĩa (TBCN), các DNVVN đã được hình thành.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công và đất nước bước vào cuộc
trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, các DNVVN vẫn phát triển. Vùng bị tạm
chiếm, nhiều chủ DN chủ yếu ở các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài
Gòn bỏ vốn ra kinh doanh. Trong vùng tự do, chính quyền cách mạng thành lập các DN
để sản xuất các mặt hàng phục vụ kháng chiến và đáp ứng nhu cầu của nhân dân, đồng
thời khuyến khích nhân dân lập xưởng sản xuất sản phẩm phục vụ tiêu dùng. Các
DNVVN ở vùng tự do đã có tác dụng to lớn trong việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của bộ
đội, nhân dân và phục vụ cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp đến thắng lợi vẻ vang.
Từ năm 1954 đến năm 1975, các DNVVN ở hai miền Bắc - Nam phát triển theo
hai đường lối, cơ chế khác nhau. ở miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội
(CNXH), hàng loạt xí nghiệp quốc doanh có quy mô lớn ra đời, đồng thời các xí nghiệp
quốc doanh của cấp huyện được phát triển mạnh, còn DNVVN của tư nhân bị cải tạo, xóa
bỏ. ở miền Nam, một mặt các cơ sở công nghiệp lớn, chủ yếu tập trung ở các thành phố
lớn như Đà Nẵng, Sài Gòn, được phát triển, mặt khác các DNVVN chủ yếu thuộc sở

gặp nhiều khó khăn trong SXKD, chưa phát huy được hết tiềm năng của mình bởi nhiều
nguyên nhân: do bản thân của các DN, do hiểu biết về loại hình DN này còn nhiều hạn chế,
Mặt khác, các chuyên gia cùng nhận định, khu vực DNVVN ở Việt Nam sẽ trở thành một
động lực quan trọng cho sự phát triển của kinh tế đất nước. Chính vì vậy, đòi hỏi cần phải
tiến hành nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện về DNVVN, để từ đó tạo điều kiện cho
các DNVVN phát huy hết khả năng của mình cho sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước.
Việc nghiên cứu loại hình DNVVN đã được Nhà nước quan tâm và được các tổ
chức của nhiều nước trên thế giới ủng hộ, hỗ trợ. Nhiều cơ quan khoa học, cơ quan quản lý

và nhiều địa phương đã tiến hành nghiên cứu về DNVVN: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện
Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội (Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hội
đồng Liên minh các HTX Việt Nam, Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp quốc
(UNIDO), Trung tâm kinh tế châu á - Thái Bình Dương, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh
Ngay từ những năm 1990, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương đã tiến
hành hai cuộc hội thảo về DNVVN có sự tài trợ của Cộng hòa Liên bang Đức, sau đó tiến
hành khảo sát 135 DNVVN ở tỉnh Hà Bắc.
Năm 1991, Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội (Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội) cùng với Trung tâm xúc tiến việc làm châu á (ARTEP-
ILO) và các cộng tác của trường Đại học kinh tế Stockholm (Thụy Điển) đã tiến hành
khảo sát điều tra 1.000 DN nhỏ ở Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Phú,
Quảng Ninh, Long An (theo chương trình của dự án VIE 90/MO).
Năm 1993, Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội phối hợp với Viện
Khoa học lao động Nhật Bản thực hiện cuộc khảo sát 300 DNVVN ở Hải Phòng, thành
phố Hồ Chí Minh, Quảng Nam - Đà Nẵng
Việc nghiên cứu về DNVVN ở Việt Nam cũng được thuận lợi bởi Việt Nam
trong những năm qua liên tục nhận được sự ủng hộ rộng rãi của quốc tế. Trước hết, Việt
Nam tiếp nhận nhiều dự án phát triển DNVVN của Liên Hợp Quốc như dự án VIE/86-
054 về đào tạo bồi dưỡng kiến thức cho các DNVVN, Liên minh châu Âu (EU) - Việt

đưa ra định nghĩa về DNVVN. Trên cơ sở những định nghĩa đó, trong Nghị định số
90/2001/NĐ-CP của Chính phủ đã đưa ra định nghĩa DNVVN ở Việt Nam: DNVVN là
các cơ sở SXKD, đã ĐKKD theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ
đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Theo định nghĩa thì
DNVVN ở Việt Nam bao gồm:

+ Các DN thành lập và hoạt động theo Luật DN.
+ Các DN thành lập và hoạt động theo Luật DNNN.
+ Các HTX thành lập và hoạt động theo Luật HTX.
+ Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03
tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh (ĐKKD).
- Khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của các DNVVN trong sự nghiệp phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.
- Phân tích làm rõ những ưu thế, hạn chế cũng như khuyết điểm của các
DNVVN.
- Xác định những điều kiện kinh tế - xã hội cũng như vai trò quản lý của Nhà
nước, của các tổ chức phi chính phủ đối với sự phát triển nhanh, mạnh và có hiệu quả của
các DNVVN.
- Nghiên cứu hình thành và hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ mô cũng như các
chính sách hỗ trợ để phát triển DNVVN.
Với kết quả đạt được của quá trình nghiên cứu, đặc biệt là với sự ra đời của Nghị
định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNVVN đã làm thay đổi
quan niệm của các cấp ủy Đảng và Nhà nước cũng như nhận thức của mọi người nói
chung về loại hình DNVVN, từ chỗ không chấp nhận sự tồn tại, phân biệt đối xử, kỳ
thị, đến chỗ thừa nhận, khuyến khích hỗ trợ DNVVN phát triển. Trên cơ sở kết quả
nghiên cứu, nhiều kiến nghị, giải pháp được trình bày cho các nhà hoạch định chính sách,
cho Chính phủ, tạo cơ sở ban hành những chính sách nhằm khuyến khích phát triển
DNVVN.
Bên cạnh những kết quả nghiên cứu đã đạt được, đứng trước tình hình biến đổi
phức tạp và sôi động của đời sống kinh tế - xã hội nhiều vấn đề mới đối với DNVVN tiếp

DNVVN. DNVVN không còn coi là phụ trợ như trước, mà giờ đây là công cụ hữu hiệu,

là nhà thầu phụ quan trọng cho các DN lớn góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII nhấn mạnh: "Trong phát triển mới, ưu tiên
quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu hồi vốn nhanh; đồng thời
xây dựng một số công trình quy mô lớn thật cần thiết và có hiệu quả" [10, tr. 28]. Nghị
quyết Đại hội Đảng lần thứ IX tiếp tục nhấn mạnh: "Chú trọng phát triển các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, xây dựng một số tập đoàn lớn đi đầu trong cạnh tranh và hiện đại
hóa" [12, tr. 27].
Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để từng bước hình
thành hệ thống thể chế chính sách khuyến khích phát triển DNVVN. Có thể kể ra đây
những văn bản quan trọng như:
+ Hiến pháp năm 1992 công nhận quyền tự do kinh doanh của mọi công dân theo
quy định của pháp luật, công nhận quyền được đối xử của các thành phần kinh tế, trong
đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
+ Nghị định 66-HĐBT ngày 2-3-1992 của Hội đồng Bộ trưởng về cá nhân và
nhóm kinh doanh có vốn thấp hơn mức vốn pháp định quy định trong Nghị định 221-
HĐBT ngày 23-7-1991
+ Luật Công ty và Luật DN tư nhân 1990 quy định khung pháp luật cho các DN
này hoạt động, tham gia thị trường trong nước và ngoài nước.
+ Luật Đất đai năm 1993, sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm
1998 và năm 2001 đã quy định các DN có quyền hợp pháp về sử dụng đất, có quyền
chuyển nhượng hoặc thế chấp quyền sử dụng đất.
+ Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1994 quy định rõ những chính sách
ưu đãi cho các dự án kinh doanh thuộc các ngành nghề, các vùng khó khăn, đặc biệt khó
khăn cần được ưu đãi.
+ Luật HTX năm 1996 nhằm để phát huy vai trò quan trọng của kinh tế hợp tác,
tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của HTX.

+ Nghị định số 15/CP-1997 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển

chính sách về vốn và tín dụng, chính sách thương mại, chính sách đất đai, chính sách
công nghệ,
Nhờ hệ thống chính sách này mà kinh tế dân doanh bước đầu bùng nổ, mọi lực
lượng sản xuất được giải phóng đã đem lại sức phát triển mới của nền kinh tế nước ta, tạo
thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Một ví dụ nổi bật, là từ khi Luật DN có
hiệu lực thi hành, chỉ riêng năm 2000 đã có thêm 13.891 DN mới ĐKKD, năm 2001
thêm 22.945 DN, 6 tháng đầu năm 2002 thêm khoảng 11.000DN nhưng đáng chú ý nhất
là số DN mới này đã giải quyết được thêm 1 triệu lao động mới có việc làm (khoảng 30%
số lao động mới) (chưa kể hơn 300.000 hộ kinh doanh cá thể mới đăng ký thu hút khá
nhiều lao động) [21, tr. 62].
Song, như trên đã trình bày, đây là hệ thống chính sách chung cho DN chứ chưa
phải là hệ thống chính sách riêng đối với DNVVN (trừ Nghị định 90), vì thế mà cơ chế,
chính sách đối với DNVVN còn nhiều sơ hở, chồng chéo, thậm chí thiếu nhất quán.
Trong hệ thống chính sách đã đưa ra các quan điểm bình đẳng nhưng trong thực tế điều
hành thì vẫn còn có sự đối xử phân biệt giữa các thành phần kinh tế, các loại hình DN. Vì
vậy cần phải tiếp tục nghiên cứu và ban hành các chính sách phù hợp với đặc điểm
DNVVN, nhất là trong tình hình hiện nay.
1.2. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở nước ta
1.2.1. Tình hình phát triển DNVVN trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam
Trước năm 1986, DNVVN ngoài quốc doanh nói chung, DNTN, cá thể nói riêng
chưa thật sự được quan tâm khuyến khích phát triển, do vậy họ phải tổ chức hoạt động

núp bóng dưới các hình thức như tổ hợp, hộ gia đình, HTX, xí nghiệp công tư hợp
doanh
Từ năm 1986 đến nay, quan điểm, đường lối, chủ trương mới về chính sách cơ
cấu kinh tế và cơ chế quản lý dẫn đến sự thay đổi cơ bản hệ thống DN trong nền kinh tế
quốc dân. Các thành phần kinh tế được chính thức thừa nhận và khuyến khích phát triển.
Từ đó hàng loạt các DN, nhất là các DN ngoài quốc doanh (trong đó phần lớn là
DNVVN) đã ồ ạt ra đời và phát triển. Trong thời kỳ đổi mới số lượng DN của các thành

Theo số liệu thống kê và đánh giá của các chuyên gia thì mỗi năm DNVVN đóng
góp 25% - 26% GDP của cả nước [41]. Song trong những năm gần đây với sự phát triển
mạnh mẽ của loại hình DNVVN này khả năng đóng góp vào GDP của cả nước ngày càng
tăng. Trong năm 2000, tỷ trọng của khu vực kinh tế tập thể trong GDP là 8,5%, khu vực kinh
tế tư nhân 32%, khu vực kinh tế hỗn hợp 3,9%, như vậy tổng của 3 khu vực trên chiếm
khoảng 44,2% GDP của cả nước (mà đây là các khu vực DN tồn tại chủ yếu là DNVVN)
[12, tr. 229]. Theo Tổng cục thống kê, năm 2000 khu vực kinh tế tư nhân nộp Ngân sách
11.003 tỷ đồng, năm 2001 là 11.075 tỷ đồng, chiếm 14,8% tổng thu Ngân sách [21, tr. 62].
Do số lượng DNVVN tăng nhanh nên mặt hàng phong phú, đáp ứng ngày càng
tốt hơn nhu cầu xã hội. DNVVN góp phần khai thác tiềm năng của đất nước để phát triển
kinh tế, đặc biệt trong việc phát triển ngành nghề truyền thống, thực hiện CNH, HĐH
nông nghiệp và nông thôn. Việc phát triển DNVVN trong các ngành nghề truyền thống trong
nông thôn hiện nay là một trong những hướng quan trọng để sử dụng tay nghề tinh xảo của
các nghệ nhân mà hiện đang có xu hướng mai một dần, thu hút lao động nông thôn, phát
huy lợi thế từng vùng để phát triển kinh tế, đồng thời đang là một thế mạnh của ta trong
quá trình hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới.
- Tạo việc làm cho người lao động
Khu vực DNVVN thuộc các thành phần kinh tế hiện thu hút một lượng lao động
khá lớn, chiếm khoảng 79,2% tổng số lao động phi nông nghiệp và bằng 22,5% lực lượng

lao động cả nước, nhưng so với các nước trong khu vực (chiếm 50-60%) thì còn quá thấp
[3, tr. 6]. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm 2000, cả nước có tới 1.447.000 người
đang trong độ tuổi lao động không có việc làm, trong đó khu vực thành thị có 692.000
người, chiếm 48% và khu vực nông thôn có 755.000 người, chiếm 52%. Theo dự báo, từ
năm 2000 đến năm 2010, mặc dù dân số có thể tăng chậm lại (từ 1,43% năm 1999 xuống
1,17% năm 2010) [48, tr. 247], nhưng nguồn lao động của nước ta vẫn tăng (đến năm
2010 có khoảng 56,8 triệu người trong độ tuổi lao động, tăng
11 triệu người so với năm 2000) [12, tr. 210]. Đây là cơ hội lớn về nguồn nhân lực và
cũng là thách thức rất lớn về giải quyết việc làm. Các DNVVN đang là nơi có triển vọng
thu hút lao động rất lớn, là nơi có nhiều thuận lợi để tiếp nhận số lao động, nhất là lao

Vốn là yếu tố cơ bản của quá trình SXKD, nó có vai trò quan trọng trong phát
triển kinh tế của cả nước cũng như đối với từng DN. Nhưng thực tế hiện nay đang có một
nghịch lý là hầu hết các DN của ta đang thiếu vốn trầm trọng trong khi đó vốn nhàn rỗi
trong dân cư còn rất lớn nhưng không thể huy động được cho SXKD. Có nhiều nguyên
nhân dẫn đến tình trạng này, nhưng nguyên nhân chủ yếu là do môi trường kinh doanh
chưa ổn định, tính pháp lý chưa cao. Trong tình hình đó, chính các DNVVN với đặc điểm
hình thành của nó gắn liền với các điều kiện thực tế của các dân cư nên dễ tiếp xúc trực
tiếp với các nguồn vốn này để huy động vốn hoặc chính người chủ sở hữu vốn đầu tư vốn
để trực tiếp kinh doanh. Thực tế cho thấy, các DNVVN đã huy động ngày càng nhiều vốn
trong xã hội đầu tư vào SXKD. Năm 2000, chỉ tính riêng khu vực kinh tế tư nhân, vốn
ĐKKD tăng gấp hơn 4,5 lần so với năm 1995, vốn đầu tư tăng 13% so với năm 1999,
chiếm khoảng 24,3% tổng số vốn đầu tư xã hội. Tính đến tháng 3/2002 vốn đăng ký của
khu vực kinh tế tư nhân đã lên tới 55.000 - 60.000 tỷ đồng, tương ứng 4 tỷ USD.
- Góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH
Các DNVVN có vai trò to lớn đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc
biệt đối với khu vực nông thôn. Sự phát triển của các DNVVN ở nông thôn đã thúc đẩy
nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho công nghiệp phát triển mạnh, đồng

thời thúc đẩy các ngành thương mại - dịch vụ phát triển. Sự phát triển của các DNVVN ở
thành thị cũng góp phần làm cho tỷ trọng dịch vụ tăng thêm và làm cho tỷ trọng khu vực
nông nghiệp thu hẹp lại trong cơ cấu kinh tế quốc dân, làm dịch chuyển từ một nền kinh
tế sản xuất nhỏ thuần nông sang một nền kinh tế đủ cơ cấu theo hướng tiến lên xã hội văn
minh, hiện đại, thể hiện trên các mặt:
+ Cơ cấu thành phần kinh tế: Chuyển hướng theo đúng các quy luật của cơ cấu
kinh tế hàng hóa theo định hướng XHCN, các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh tăng lên
nhanh chóng, phát huy được tiềm năng cho tăng trưởng đất nước, các DNNN được sắp
xếp, củng cố lại, kinh doanh có hiệu quả để phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.
+ Cơ cấu ngành: Phát triển nhiều ngành, nghề đa dạng và phong phú theo hướng
lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo.
Thực tế qua 16 năm đổi mới, cơ cấu kinh tế ở nước ta thay đổi theo hướng tiến

nhân thời kinh tế thị trường trở về với vị trí của họ, vẫn còn sự kỳ thị phân biệt đối xử đối
với doanh nhân, nhất là doanh nhân trong khu vực ngoài quốc doanh kể cả trong cán bộ,
công chức nhà nước (mà DNVVN chủ yếu là khu vực ngoài quốc doanh). Nhiều người vẫn
còn thích làm việc trong các DNNN hơn, bởi họ quan niệm làm việc trong DNNN mới
được coi là có việc làm, có trong biên chế. Hơn nữa, trong khu vực tư nhân bảo hiểm xã
hội và những vấn đề phúc lợi xã hội khác chưa được đảm bảo đầy đủ.
- Vốn và tín dụng.
Hiện nay, 75% số DNVVN có số vốn dưới 50 triệu đồng, thiếu vốn đang là khó
khăn phổ biến, nhưng số DNVVN được vay vốn của ngân hàng rất ít. Theo báo cáo của Bộ
Kế hoạch và Đầu tư về việc thực hiện cấp tín dụng từ quỹ trợ giúp đầu tư theo Luật
Khuyến khích đầu tư trong nước từ 1/12/1999 đến 30/6/2000, đã có 164 dự án với tổng số
vốn vay ưu đãi 424 tỷ đồng, trong đó 61 dự án thuộc khu vực quốc doanh (39% tổng dự

án) được vay 294 tỷ đồng (69% tổng giá trị khoản tín dụng ưu đãi); có 103 dự án thuộc
khu vực dân doanh được vay ưu đãi 130 tỷ đồng. Nếu nghiên cứu sâu hơn nữa, phần lớn
tín dụng tập trung chủ yếu vào các DNTN lớn, chứ không phải là các DNVVN [41, tr.
102].
Do vậy để đáp ứng nhu cầu tín dụng của mình, các DNVVN thường phải vay vốn
chủ yếu từ các tổ chức phi chính thức, cụ thể là từ thân nhân và bạn bè, với lãi suất đôi
khi cao gấp 3 đến 6 lần so với lãi suất chính thức. Các DNVVN gặp nhiều khó khăn trong
việc tiếp cận các khoản tín dụng từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng chính thức
khác. Mặt khác, các khoản vay có bảo lãnh rất hiếm khi dành cho các DNVVN. Lý do:
thủ tục vay phức tạp, chi phí giao dịch cao, việc phải trả hoa hồng là phổ biến, những quy
định khắt khe về tài sản thế chấp,
- Đất đai.
Hiện nay, hầu hết các DNVVN đều thiếu đất đai làm mặt bằng SXKD, để lập cơ
sở mới hoặc mở rộng SXKD. Đó là do các quy định về quyền sử dụng đất đai thường
không rõ ràng, các quyền mua bán, thế chấp, chuyển nhượng đất công nghiệp vẫn chưa
được thừa nhận.
- Trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ.

Cùng với việc nhận thức được tầm quan trọng của DNVVN, việc xác định được
những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế vướng mắc mà DNVVN gặp phải, Nhà nước,
các cơ quan chức năng có liên quan và cả bản thân các DNVVN sẽ sớm có những giải
pháp thích hợp để khắc phục, tạo điều kiện thuận lợi để các DNVVN phát triển theo đúng
tiềm năng sẵn có của mình.

Trích đoạn Một số chỉ tiêu chủ yếu phát triển DNVVN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đến năm Định hướng quy hoạch phát triển DNVVN của tỉnh Thực hiện các chính sách khuyến khích phát triển DNVVN Về chính sách thị trường. Về chính sách đất đai.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status