Báo cáo tốt nghiệp: Vốn cố định và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ở hãng hàng không quốc gia Việt Nam - Pdf 15

Báo cáo tốt nghiệp

Vốn cố định và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn ở hãng hàng không quốc gia Việt Nam Lời nói đầu
Trong nền kinh tế hàng hoá tiền tệ, điều kiện tiền đề để các doanh nghiệp có
thể thực hiện được các hoạt động sản xuất kinh doanh là phải có một số vốn nhất
định. Dựa trên số vốn đó các doanh nghiệp luôn muốn tiến hành hoạt động sao cho
hiệu quả nhất với chi phí thấp. Vì vậy, vấn đề khó khăn cho các doanh nghiệp là
phải tìm ra cách thức sử dụng vốn đúng đắn nhằm phát huy được mọi tiềm lực bên
trong và bên ngoài của doanh nghiệp.
Việc sử dụng vốn một cách có hiệu quả, có ý nghĩa hết sức quan trọng và là
điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp khẳng định được vị trí của mình và tìm
được chỗ đứng vững chắc trong cơ chế mới. Chính vì thế vấn đề sử dụng vốn đang
là vấn đề bức xúc đặt ra đối với tất cả các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp
Nhà nước nói riêng.
Trong cơ chế bao cấp, vốn của các doanh nghiệp quốc doanh hầu hết được
Nhà nước tài trợ qua việc cấp phát, số còn lại được Ngân hàng cho vay vốn lãi suất
ưu đãi. Do đó các doanh nghiệp hầu như không quan tâm đến hiệu quả của việc sử
dụng vốn mà trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước. Tình trạng lãi giả, lỗ thật, ăn mòn vào

sử dụng vốn cố định trong các doanh nghiệp

1. Vốn cố định của doanh nghiệp
1.1. Khái niệm vốn cố định của doanh nghiệp thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động chính của doanh nghiệp thương mại
là kinh doanh lưu chuyển hàng hoá. Tuy nhiên, ngoài hoạt động kinh doanh thương
mại, doanh nghiệp thương mại còn có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh trong
các lĩnh vực khác mà pháp luật không cấm như sản xuất, xây dựng, vận tải, khách
sạn, du lịch,… nhằm đa dạng hoá lĩnh vực hoạt động và nâng cao hiệu quả tổng vốn.
Để tiến hành các hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp thương mại phải có
được các yếu tố cần thiết như kho tàng, cửa hàng, văn phòng, máy móc thiết bị
phương tiện vận tải, tiền mặt… Dưới góc độ hiện vật, các yếu tố này được gọi là
những tài sản. Trong điều kiện kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thương mại phải
sử dụng một lượng vốn nhất định và thôgn qua các phương thức nhất định như đầu
tư xây dựng, mua sắm, thuê mướn để hình thành các yếu tố tài sản cần thiết kể trên.
Đồng thời các doanh nghiệp thương mại phải thường xuyên duy trì một lượng vốn
nhất định để đảm bảo quy mô tài sản thích hợp phục vụ cho kinh doanh của doanh
nghiệp. Do đó, có thể nói rằng vốn là điều kiện vật chất tiền đề không thể thiếu được
để tiến hành mọi hoạt động kinh doanh.
Với lượng vốn cần thiết ban đầu, các doanh nghiệp thương mại sử dụng để
hình thành nên các loại tài sản thích hợp bao gồm các tài sản có thời gian sử dụng,
thu hồi giá trị mang tính ngắn hạn và những tài sản có thời gian sử dụng, thu hồi giá
trị mang tính dài hạn. Bộ phận vốn của doanh nghiệp được dùng để hình thành nên
những tài sản có thời gian sử dụng, thu hồi giá trị mang tính dài hạn được gọi là vốn
cố định của doanh nghiệp. Nói cách khác những tài sản có thời gian sử dụng, thu hồi
và luân chuyển giá trị từ một năm trở lên hoặc qua nhiều chu kỳ kinh doanh của
doanh nghiệp.
1.2. Đặc điểm luân chuyển của vốn cố định.
Vốn cố định là bộ phận của doanh nghiệp được sử dụng để hình thành những
tài sản có thời gian sử dụng, thu hồi và luân chuyển giá trị từ một năm hay chu kỳ

kho tàng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải… Thông thường một tài sản được coi là TSCĐ nếu thoả mãn đồng thời ba điều
kiện:
- Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp với tư cách là tư liệu lao động.
- Có thời gian sử dụng dài, thường từ một năm trở lên.
- Có giá trị lớn đạt đến một giá trị nhất định. Tiêu chuẩn này phụ thuộc vào
quy định của từng quốc gia trong từng thời kỳ.
Những tài sản không hội đủ các tiêu chuẩn kể trên được coi là những tài sản
lưu động của doanh nghiệp, bao gồm những tài sản là đối tượng lao động đối với
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và những tư liệu lao động có giá trị
nhỏ hoặc thời gian sử dụng ngắn. Việc nhận biết và phân biệt TSCĐ và tài sản lưu
động của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong công tác nghiên cứu
mà còn giúp cho doanh nghiệp có thể quản lý, sử dụng tài sản một cách tốt nhất.
Trong thực tế, việc nhận biết TSCĐ dựa trên những tiêu chuẩn kể trên có thể gặp
những khó khăn sau đây:
Một là, việc phân biệt giữa đối tượng lao động với những tư liệu lao động là
TSCĐ của doanh nghiệp trong một số trường hợp nếu chỉ đơn thuần dựa vào đặc
tính hiện vật thì có thể dẫn đến ngộ nhận về TSCĐ. Bởi vì có thể xảy ra cùng một
TSCĐ ở trường hợp này được coi là TSCĐ nhưng ở trường hợp khác chỉ được coi là
tài sản lưu động. Chẳng hạn, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nhà xưởng…
nếu được sử dụng để phục vụ cho việc hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp thì coi là TSCĐ, song nếu các tài sản này là các sản phẩm mới hoàn thành
quá trình sản xuất của doanh nghiệp đang được bảo quản, chờ tiêu thụ hoặc là các
công trình xây dựng cơ bản chưa bàn giao, thì đó chỉ coi là đối tượng lao động thuộc
tài sản lưu động của doanh nghiệp. Do đó, để nhận biết chính xác tài sản cố định
trong các doanh nghiệp, ngoài đặc tính hiện vật, còn phải dựa vào tính chất, công
dụng hay vai trò của TSCĐ đối với các quá trình sản xuất kinh doanh của doanh

Trong lý luận, việc nhận thức tính hàng hoá của TSCĐ được xem như một
vấn đề đơn giản tất yếu. Song trên thực tế ở nước ta, đã có một thời tính hàng hoá
của TSCĐ bị xem nhẹ, TSCĐ được coi là một "hàng hoá đặc biệt" hàng hoá trên
danh nghĩa, vì thế nó chỉ được phân phối cung cấp trong nội bộ khu vực kinh tế quốc doanh mà không được mua bán, trao đổi rộng rãi trên thị trường, điều này đã đưa
đến hậu quả kìm hãm sức sản xuất xã hội nói chung, trong lĩnh vực kinh tế nói riêng.
Trong nền kinh tế hàng hoá, xây dựng hoặc lắp đặt những tư liệu lao động
được coi là vốn cố định của doanh nghiệp, khác với đối tượng lao động, đặc điểm cơ
bản của TSCĐ - những tư liệu lao động chủ yếu là chúng có thể tham gia một cách
trực tiếp hoặc gián tiếp vào nhiều chu kỳ sản xuất. Trong quá trình đó mặt dầu
TSCĐ bị hao mòn, hư hỏng hoàn toàn hoặc xét thấy không có lợi về mặt kinh tế thì
khi đó chúng mới được thay thế đổi mới.
Việc quản lý vốn cố định và TSCĐ trên thực tế là một công việc phức tạp. Để
giảm nhẹ khối lượng quản lý, về tài chính kế toán người ta có những quy định thống
nhất về tiêu chuẩn giới hạn về giá trị và thời gian sử dụng của một TSCĐ. Thông
thường một tư liệu lao động phải được đồng thời thoả mãn hai tiêu chuẩn dưới đây
thì được coi là TSCĐ.
- Phải có thời gian sử dụng tối thiểu (thường là 1 năm trở lên)
- Phải có giá trị tối thiểu đến một mức quy định (hiện nay quy định là có giá
trị từ 10 triệu đồng Việt Nam).
Nếu thiếu một trong hai điều kiện trên thì tư liệu lao động được coi là công cụ
lao động và do nguồn vốn lưu động tài trợ.

Tuy nhiên do yêu cầu của công tác quản lý trong một số trường hợp đặc biệt
dù giá trị đơn vị và thời gain sử dụng không đạt tiêu chuẩn nhưng vẫn được coi là
TSCĐ như tổ hợp các đồ dùng trong phòng làm việc, phòng họp, phòng khách,
khách sạn…
Mặt khác trong doanh nghiệp có một số khoản chi đầu tư cho sản xuất kinh

b. Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy.
c. Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên
d. Có giá trị từ 10.000.000đồng (mười triệu đồng) trở lên.
Trong thực tế có những hệ thống được cấu thành bởi nhiều bộ phận tài sản
riêng lẻ có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính. Nhưng do yêu cầu quản lý, sử
dụng đòi hỏi phải theo dõi riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận đó vẫn được
coi là một TSCĐ hữu hình độc lập. Chẳng hạn như ghế ngồi, khung và động cơ…
trong một máy bay.
+ TSCĐ vô hình: Là những tài sản cố định không có hình thái vật chất cụ thể,
thể hiện một lượng giá trị lớn đã đầu tư có liên quan và phát huy tác dụng trong
nhiều kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ như chi phí thành lập doanh nghiệp,
chi phí mua bằng phát minh sáng chế… Theo chế độ tài chính doanh nghiệp hiện
hành, các khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra nếu thỏa mãn đồng thời
hai điều kiện sau thì được coi là TSCĐ vô hình:
- Có thời gian sử dụng hay phát huy tác dụng tối thiểu là một năm.
- Có giá trị tối thiểu là 10.000.000đồng.
Việc phân loại TSCĐ theo tiêu thức kể trên sẽ giúp doanh nghiệp thấy được
cơ cấu vốn đầu tư vào TSCĐ theo hình thái biểu hiện, từ đó có thể đưa ra các quyết
định đầu tư, sử dụng TSCĐ hay điều chỉnh cơ cấu này sao cho phù hợp và có hiệu
quả nhất.
* Phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng:

Theo tiêu thức này, toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành ba loại
sau:
+ TSCĐ sử dụng cho mục đích kinh doanh: Đây là các tài sản do doanh
nghiệp sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau nhưng nhằm mục đích kinh doanh.
Chẳng hạn như kho tàng, cửa hàng, nhà xưởng, máy móc thiết bị dùng cho các hoạt

bụi…
+ Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và (hoặc) cho sản phẩm là các vườn
cây kinh doanh lâu năm như vườn chè, vườn cà phê, vườn cao su, vườn cây ăn quả,
thảm cỏ, thảm cây xanh, súc vật làm việc và (hoặc) cho sản phẩm như đàn voi, đàn
bò, đàn trâu, đàn nhựa,… Phương pháp phân loại này cho thấy công dụng cụ thể của từng loại TSCĐ
của doanh nghiệp, từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể đưa ra các biện pháp,
quản lý khai thác sử dụng và trích khấu hao thích hợp.
* Phân loại tài sản theo tình hình sử dụng.
Theo tiêu thức này, tổng thể TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành các
loại sau:
+ TSCĐ đang sử dụng tại doanh nghiệp: Đây là những TSCĐ của doanh
nghiệp sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, phúc lợi, sự nghiệp, an ninh,
quốc phòng của doanh nghiệp.
+ TSCĐ cho thuê.
+ TSCĐ chưa cần dùng: Là những TSCĐ của doanh nghiệp cần thiết cho các
hoạt động của doanh nghiệp song hiện tại chưa được đưa ra sử dụng, đang trong quá
trình dự trữ, cất trữ để sử dụng sau này.
+ TSCĐ không cần dùng chờ nhượng bán, thanh lý: Là những TSCĐ không
cần thiết hay không phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp hoặc đã hư hỏng cần
được nhượng bán, thanh lý để giải phóng mặt bằng, thu hồi vốn đầu tư.
Cách phân loại này cho thấy tình hình khai thác sử dụng TSCĐ của doanh
nghiệp, từ đó có thể đề ra các biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng
TSCĐ.
* Phân loại TSCĐ căn cứ vào quyền sở hữu.
Tổng thể TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành hai loại:
+ TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp: Là các loại TSCĐ được đầu
tư bằng nguồn vốn của doanh nghiệp, doanh nghiệp có quyền sở hữu và sử dụng

Kết cấu TSCĐ là tỷ trọng giữa nguyên giá của một loại TSCĐ nào đó so với
tổng nguyên giá toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Kết cấu TSCĐ giữa các ngành sản xuất không giống nhau, thậm chí giữa các
doanh nghiệp trong một ngành nào đó cũng không giống nhau, sự khác nhau hay sự
biến động về kết cấu của mỗi doanh nghiệp trong các thời kỳ phụ thuộc vào các
nhân tố như khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, khả năng thu hút vốn đầu tư,
phương hướng mục tiêu sản xuất kinh doanh, trình độ trang bị kỹ thuật, quy mô sản
xuất. Việc phân loại và phân tích tình hình kết cấu của chúng là một căn cứ quan
trọng để xem xét quyết định đầu tư cũng như việc giúp cho việc tính toán chính xác
khấu hao TSCĐ. Một trong những nhiệm vụ của công tác quản lý vốn cố định ở một
doanh nghiệp.

II. Hiệu quả sử dụng vốn cố định và sự cần thiết phải thực hiện việc nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn cố định cảu các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường.
1. Hiệu quả sử dụng vốn cố định và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử
dụng vốn cố định.
1.1. Hiệu quả sử dụng vốn cố đinh:
Đối với các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng trong cơ
cấu vốn. Trình độ quản lý vốn cố định ảnh hưởng rất lớn đến kết quản sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Do vậy, việc quản lý vốn cố định được coi là một trọng
điểm của công tác tài chính doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý là làm
thế nào để vốn cố định đạt hiệu quả cao nhất trong suốt quá trình tham gia vào sản
xuất và mang lại lợi nhuận tối đa.
Hiệu quả sử dụng vốn cố định là mối quan hệ giữa kết quả đạt được trong quá
trình đầu tư, khai thác sử dụng vốn cố định vào sản xuất và số vốn cố định đã sử
dụng để đạt được kết quả đó. Nó thể hiện lượng giá trị sản phẩm, hàng hoá lao vụ

III + VCĐ cuối quý IV/2
4
Nếu số liệu vốn cố định được cung cấp vào cuối các năm
VCĐ đầu kỳ
(hoặc cuối kỳ)
=

Vốn cố định đầu năm + Vốn cố định cuối
năm
2

VCĐ đầu kỳ
(hoặc cuối
kỳ)
=

Nguyên giá
TSCĐ đầu kỳ
(cuối kỳ)
-

Số khấu hao lũy
kế đầu kỳ (cuối
kỳ)
+

Các khoản đầu tư dài
hạn và chi phí XDCB
đầu (cuối kỳ)
- ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định tham gia sẽ tạo ra bao


Lợi nhuận trước thuế (sau thuế) trong
kỳ
VCĐ đầu tư TSCĐ bình quân trong kỳ
- ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng vốn bỏ ra để đầu tư dài hạn tài
sản cố định tham gia tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
(6) Hệ số thu nhập rên vốn đầu tư dài hạn
Hệ số thu nhập
trên vốn đầu tư dài hạn
=
Thu nhập đầu tư dài hạn
Vốn đầu tư dài hạn bình quân
- ý nghĩa: Chỉ tiêu nàu cho biết trong một đồng vốn bỏ ra đầu tư dài hạn thì
có bao nhiêu đồng lợi nhuận thu được từ hoạt động đó.
(7) Hệ số lợi nhuận của vốn đầu tư dài hạn
Hệ số thu nhập
của vốn đầu tư dài hạn
=
Thu nhập đầu tư dài hạn
Vốn đầu tư dài hạn bình quân - ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh trong một đồng vốnbỏ ra để đầu tưdài hạn thì
có bao nhiêu đồng lợi nhuận thu được từ hoạt động đó.
(1.2.2) Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả sử dụng tài sản cố định trong doanh
nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng tài sản cố định của doanh
nghiệp nhằm đạt đựoc các mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất
định và được biểu hiện mối quan hệ giữa kết quả sản xuất kinh doanh đạt đựoc trong
kỳ với chi phí đầu tư để có được tài sản cố định trong kỳ. Các chỉ tiêu đo lường hiệu
quả sử dụng tài sản cố định bao gồm:

- ý nghĩa:
+ Với số tài sản cố định hiện có trong kỳ của doanh nghiệp đạt được hiệu quả
là bao nhiêu. + Một đơn vị chi phí đã đầu tư vào tài sản cố định trong kỳ thu được bao
nhiêu đơn vị doanh thu trong kỳ đó. Do đó số đơn vị doanh thu trong kỳ càng cao thì
hiệu quả sử dụng tài sản cố định ngày càng cao.
(2.4) Hệ số lợi nhuận của tài sản cố định
Hệ số lợi nhuận
của TSCĐ
=

Lợi nhuận đạt đựoc trong kỳ
Tổng nguyên giá TSCĐ hiện có bình quân trong kỳ
- ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết một đồng nguyên giá tài sản cố định tham gia
tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
(2.5) Hệ số sinh lời của chi phí sử dụng tài sản cố định
Hệ số sinh lợi của chi
phí sử dụng TSCĐ
=

Lợi nhuận đạt đựoc trong kỳ
Tổng chi phí sử dụng TSCĐ trong kỳ
Trong đó tổng chi phí sử dụng trong kỳ gồm:
Chi phí khấu hao tài sản cố định
Chi phí thuê tài sản cố định phát sinh trong kỳ
- ý nghĩa: Trong kỳ một đồng chi phí sử dụng tài sản cố định tham gia tạo ra
bao nhiêu đồng lợi nhuận doanh nghiệp.
2. Sự cần thiết phải thực hiện việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố

doanh nghiệp do đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định cũng làm cho hiệu quả
sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp cũng tăng lên. Đây chính là mục tiêu cần
đạt được của bất kỳ một doanh nghiệp nào.
Xuất phát từ yêu cầu hạch toán kinh doanh đầy đủ đối với các doanh nghiệp
trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay:
Nếu như nguyên tắc hạch toán kinh doanh được áp dụng trong cơ chế bao cấp
chỉ là một yếu tố mang tính hình thức thì nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh
nghiệp phải tuân thủ theo đúng nguyên tắc này thì mới có thể đạt được mục tiêu kinh
doanh là tối đa hoá lợi nhuận. Yêu cầu của nguyên tắc này là kinh doanh phải lấy
thu bù chi và có lợi nhuận. Nếu doanh nghiệp không đạt được những yêu cầu này thì
doanh nghiệp đó sẽ bị phá sản cho dù là doanh nghiệp Nhà nước hay doanh nghiệp
tư nhân.
III. giải pháp Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định 1. Các nhân tố ảnh hưởng
Vì vốn cố định là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu vốn kinh doanh của
doanh nghiệp nên việc xác định đúng đắn các nhân tố ảnh hưởng đến vốn cố định và
hiệu quả sử dụng vốn cố định là điều cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố
định, mang lại kết quả sản xuất kinh doanh tốt nhất cho doanh nghiệp. Các nhân tố
chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn cố định như sau:
1.1. Các nhân tố khách quan:
* Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước: Trên cơ sở hành lang pháp luật
kinh tế và các biện pháp kinh tế, Nhà nước tạo môi trường và hành lang pháp lý cho
các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và hướng các hoạt động đó theo kế
hoạch kinh tế vĩ mô như: các quy định về thuế đối với mỗi loại hình sản xuất kinh
doanh được Nhà nước khuyến khích hay hạn chế, chính sách thuế đối với các máy
móc thiết bị vì đa số những TSCĐ của các doanh nghiệp đều phải nhập khẩu từ nước
ngoài, các quy định khác của Nhà nước trong việc quản lý và sử dụng vốn cố định ở
các doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn cố định như:

cũng như vốn kinh doanh. Trong quá trình sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp
cũng phải biết dự trữ nguyên liệu hàng hoá sao cho hợp lý vì nếu dự trữ quá nhiều sẽ
gây nên ứ đọng vốn còn nếu ít quá thì đang sản xuất sẽ bị gián đoạn ngưng trệ để
chờ cung ứng thêm.
* Trình độ quản lý và sử dụng vốn: Hiện nay nhiều doanh nghiệp chưa quan
tâm đầy đủ đúng mức với tư cách một chủ thể sản xuất hàng hoá đến việc khai thác
sử dụng vốn có hiệu quả. Trong thực tế nhiều nơi vốn đọng, mất vốn vòng quay và
hệ số sinh lời của đồng vốn thấp. Do vậy ngay từ đầu doanh nghiệp phải chú trọng
đến việc hoạch địch nhu cầu vốn kinh doanh làm cơ sở cho việc chọn lựa, huy động
hợp lý các nguồn vốn trên cơ sở khai thác tối đa mọi nguồn lực sẵn có của mình, tổ
chức chu chuyển vốn, tái tạo lại nguồn vốn ban đầu, bảo toàn và phát triển vốn. Điều
này có ý nghĩa quan trọng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
* Cơ sở vật chất kỹ thuật: Nhân tố này cũng có tác động trực tiếp đến hiệu
quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp. Doanh nghiệp áp dụng biện pháp kỹ thuật tiên
tiến, cơ sở vật chất hiện đại không ngừng đổi mới tăng năng suất lao động dẫn đến
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh cũng tăng theo và ngược lại. 2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định trong các doanh
nghiệp.
2.1. Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn cố định trong các doanh nghiệp
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định là vấn đề luôn đòi hỏi sự nỗ lực của
các doanh nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay vấn đề này lại càng trở nên cấp
thiết.
Hiện nay các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường luôn phải cạnh
tranh với nhau gay gắt, muốn tồn tại và đứng vững trên thị trường đòi hỏi các doanh
nghiệp phải hoạt động kinh doanh có hiệu quả, bảo toàn và phát triển được đồng vốn
của mình. Muốn thực hiện được mục tiêu này, đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực
hiện tốt việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đặc biệt là trong điều kiện hiện nay khi
mà các doanh nghiệp thực sự là một đơn vị kinh tế tự chủ, tự tổ chức quá trình sản

Quyết định 1062/1996 của Bộ tài chính đã giúp phần nào cho các doanh nghiệp sử
dụng có hiệu quả hơn vốn cố định và TSCĐ của doanh nghiệp mình. Quyết định
166/1999/QĐ-BTC ngày 30/12/1999 hoàn thiện hơn nữa chế độ quản lý, sử dụng và
trích khấu hao TSCĐ càng giúp cho các doanh nghiệp tự chủ hơn trong sản xuất
kinh doanh và sử dụng TSCĐ cũng như vốn cố định có hiệu quả hơn. Tuy nhiên,
công tác quản lý và sử dụng vốn cố định và TSCĐ luôn là vấn đề quan trọng đối với
các doanh nghiệp do đó vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp cần phải tìm mọi biện
pháp khắc phục những tồn tại trong vấn đề quản lý và sử dụng vốn cố định để nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn cố định.
2.2. Những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn cố định của các doanh nghiệp.
Trong các doanh nghiệp thông thường vốn cố định chiếm tỷ trọng lớn. Quy
mô và trình độ trang bị máy móc thiết bị là một nhân tố quyết định khả năng tăng
trưởng và cạnh tranh của doanh nghiệp. Do vậy cần phải tổ chức tốt việc quản lý và
sử dụng vốn cố định để giúp doanh nghiệp bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh,
tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, góp phần làm tăng lợi nhuận của doanh
nghiệp. Một số biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định của
doanh nghiệp có thể áp dụng như sau:
* Làm tốt công tác đầu tư xây dựng, mua sắm TSCĐ: Hiệu quả sử dụng vốn cố định trước hết phụ thuộc vào chất lượng của công
tác đầu tư mua sắm, xây dựng TSCĐ.
Trước khi đầu tư cần nghiên cứu kỹ lưỡng, kiểm tra về điều kiện, khả năng
tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp mình, điều kiện cung ứng vật tư, khả năng tận
dụng thời gian làm việc và tận dụng công suất của TSCĐ. Dựa trên cơ sở phân tích
đó đi đến quyết định sử dụng loại TSCĐ nào là hợp lý, sau đó tiến hành lựa chọn các
đối tác đầu tư.
Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định thì phải xác định được khâu
chủ yếu để đầu tư, cơ cấu đầu tư và việc đầu tư đó phải tính toán được một cách

lý chặt chẽ TSCĐ từ khâu mua sắm đến khâu sử dụng.
Thực hiện việc phân loại cũng như phân cấp quản lý TSCĐ, tiến hành giao
TSCĐ cho từng bộ phận, từng cá nhân một cách rõ ràng, thực hiện những chế độ
khuyến khích vật chất, chính sách thưởng phạt hợp lý nhằm nâng cao trách nhiệm
của người lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh. Khai thác triệt để công suất
thiết kế của máy móc thiết bị nhằm từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố
định cả theo chiều sâu lẫn chiều rộng, tiết kiệm tới mức tối đa vốn cố định, tăng
nhanh vòng quay của vốn.
Tăng cường cân đối về công suất, sản xuất, kiểm tra giám sát việc thực hiện
nghiêm chỉnh quy trình công nghệ để tăng thời gian làm việc có ích của TSCĐ hoặc
tăng số lượng và tỷ trọng TSCĐ đang hoạt động trong tổng số TSCĐ hiện có.
Nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ theo chiều sâu được tiến hành chủ yếu
bằng việc hoàn chỉnh kỹ thuật sản xuất và hiện đại hoá TSCĐ. Đối với nền kinh tế
nước ta, việc nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ theo chiều sâu là một vấn đề cần
thiết và có ý nghĩa, cụ thể như: tăng công suất máy móc thiết bị, nâng cao thông số
kỹ thuật cơ bản của máy móc thiết bị như tốc độ, cơ giới hoá, tự động hoá,… hoàn
thiện quy trình công nghệ, tổ chức sản xuất dây chuyền trên cơ sở tập trung đối ưu,
sản xuất những sản phẩm đồng loạt, chọn nguyên vật liệu phù hợp với yêu cầu của
quy trình công nghệ, có kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa, đổi mới TSCĐ, từng bước
cải thiện và nâng cao mức sống cho người lao động trong sản xuất, nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn cố định và TSCĐ trong doanh nghiệp.
* Tổ chức và thực hiện tốt việc khấu hao và sử dụng khấu hao:

Trích đoạn Đánh giá thực trạng tình hình quản lý, sử dụng vốn cốđịnh và tài sản cố định tại Hãng. Phương hướng phát triển của Hãng Những biện pháp Vietnam Airlines áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định và tài sản cố định. Đẩy mạnh phát triển bộ phận vốn cốđịnh đầu tư cho TSCĐ. Kiến nghị đốivới Nhà nước.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status