Luận văn: Ứng dụng thương mại điện tử trong phát triển thị trường cho hàng thủ công mỹ nghệ pot - Pdf 15



Luận văn
Đề tài: Ứng dụng thương
mại điện tử trong phát triển
thị trường cho hàng thủ công
mỹ nghệ 1
MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TMĐT Ở VIỆT NAM 2
1.1KHÁI NIỆM THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 2
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển thương mại điện tử 2
1.1.2. khái niệm 2
1.1.3 Đặc trưng của thương mại điện tử 4
1.2. CÁC HÌNH THỨC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
5
1.2.1 Thư điện tử 5
1.2.2. Thanh toán điện tử 6
1.2.3. Trao đổi dữ liệu điện tử (Electrolic data interchange – EDI ) 7
1.2.4. Giao gửi số hóa các dung liệu ( digital delivery of content ) 7
1.2.5. Bán lẻ hàng hóa hữu hình ( Retail of tangible goods ) 8
1.3. LỢI ÍCH CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 8
1.3.1. Đơn giản hóa truyền thông và thay đổi các mối quan hệ 8
1.3.2. Nắm được thông tin phong phú 9

xu hướng phát triển tất yếu của nền thương mại thế giới.TMĐT ra đời với sự
phát triển của công nghệ thông tin là một xu hướng mới của thương mại.
Thương mại điện tử ra đời đã giúp cho các mặt hàng có khả năng phát triển trên
nhiều thị truờng. Không chỉ một loại hàng hóa riêng biêt mà tất cả các loại hàng
hóa. Như chúng ta cũng biết hàng thủ công mỹ nghệ là mặt hàng phổ biến trên
mọi vùng đất của Việt nam, từ làng lụa Hà đông đến các làng dệt chiếu ở miền
nam xa xôi. Là một mặt hàng mang tính đặc thù mà chỉ ở việt nam mới có. Xu
thế toàn cầu hóa đã mang đến cho chúng ta nhiều cơ hội lớn và môt trong nhưng
cơ hội đó là được cạnh tranh công bằng vơi các nươc trên thế giới. Cũng nhờ
vậy mà có nhiều người biết đến hàng thủ công mỹ nghệ của việt nam hơn. Hàng
thủ công mỹ nghệ cũng đã ứng dụng thương mại điện tử vào phát triển thị
trường. Ứng dụng thương mại điện tử không phải chạy theo xu hướng mà chính
là sự đảm bảo cho doanh nghiệp có thể tiến nhanh hơn, tiến xa hơn trong việc
mở rộng thị trường. Bên cạnh đó việc ứng dụng TMĐT đối với hàng thủ acông
mỹ nghệ vẫn còn nhiều bất cập. Do đó, tôi đã chọn đề tài :’’ Ứng dụng thương
mại điện tử trong phát triển thị trường cho hàng thủ công mỹ nghệ’’. Đề tài
muốn đề cập tới việc mở rọng thị trường cho hàng thủ công mỹ nghệ với việc
ứng dụng TMĐT.
Đề tài gồm những phần chính sau đây
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thương mại điện tử ở Việt Nam
Chương 2 : Ứng dụng thương mại điện trong phát triển hàng thủ công
mỹ nghệ
2


3
hầu hết các hoạt động kinh tế,việc mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một trong
hàng ngàn lĩnh vực áp dụng của TMĐT.
Ủy ban châu âu đưa ra định nghĩa về thương mại điện tử như sau: TMĐT
được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử.
Nó dựa trên việc xử lí và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình
ảnh. TMĐT gồm nhiều hành vi trong đó hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ
qua phưong tiện điện tử,giao nhận các nội dung kĩ thuật số trên mạng,chuyển
tiền điện tử,mua bán các cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thưong
mại,hợp tác thiết kế,tài nguyên mạng,mua sắm công cộng,tiếp thị trực tiếp với
người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng.
Thượng mại điện tử được thực hiện với cả thương mại hàng hóa ( như hàng
tiêu dùng thiết yếu,các thiết bị y tế chuyên dùng )và thưong mại dịch vụ (ví dụ
như dịch vụ cung cấp thông tin,dịch vụ pháp lí , tài chính ) ; các hoạt động
truyền thống ( ví dụ : chăm sóc sức khỏe , giáo dục ) và các hoạt động mới ( siêu
thị ảo )
Tóm lại , theo nghĩa rộng thì TMĐT có thể được hiểu là các giao dịch tài
chính và thưong mại bằng phưongn tiệnn điện tử như : trao đổi dữ liệu điện tử ,
chuyển tiền điện tử và các hoạt động gửi rút tiền bằng thẻ tín dụng.
Thứ hai , TMĐT theo nghĩa hẹp : bao gồm các hoạt động thương mại được
thực hiện thông qua mạng Internet.
Theo tổ chức thương mại thế : TMĐT bao gồm việc sản xuất , quảng cáo ,
bán hàng và phân phối sản phẩm dược mua bán và thanh toán trên mạng Internet
, nhưng được một cách giao nhận hữu hình cả các sản phẩm được giao nhận
cũng như các thông tin số hóa thông qua mạng Internet.
Khái niệm về TMĐT do tổ chức hợp tác phát triển kinh tế của liên hợp
quốc đưa ra là : TMĐT được định nghĩa là các giao dịch thương mại dựa trên
truyềnn dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet.
Như vậy , theo nghĩa hẹp thương mại điện chỉ bao gồm những hoạt động
thương mại được thực hiện thông qua mạng Internet mà không tính đến các

cầu. Là một nhân tố tích cực giúp cho quá trình toàn cầu hóa diễn ra nhanh hơn
và rộng hơn. Biết sử dụng thương mại điện tử một cách thích hợp sẽ giúp cho 5
doanh nghiệp nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường.
Thứ ba, trong hoạt động giao dịch thương mại điện tử đều có sự tham gia ít
nhất của ba chủ thể : người bán hàng , người mua hàng và có một bên không thể
thiếu được là người cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực. Thương
mại thông thường chỉ diễn ra giữa hai chủ thể : người bán hàng và người mua
hàng nhưng trong thương mại điện tử cần phải có sự tham gia của chủ thể thứ ba
vì tính an toàn cho giao dịch. Do thương mại điện tử được thực hiện qua mạng
truyền thông nên cần phải có người cung cấp dịch vụ mạng. Khi các doanh
nghiệp muốn tham gia vào thương mại điện tử họ cần liên hệ với nhà cung cấp
dịch vụ mạng để có được một địa chỉ cụ thể mà nhờ địa chỉ đó khách hàng có
thể tham gia vào giao dịch. Người cung cấp dịch vụ mạng còn đảm bảo tính an
toàn cho hệ thống giao dịch của doanh nghiệp và chống các virut của các hacker
mũ đen. Các cơ quan chứng thực la những cơ quan đảm bảo thông tin chính xác
cho những thông tin về sản phẩm bày bán trên mạng, điều này giúp cho khách
hàng có thể yên tâm tham gia vào giao dịch
Thứ tư, đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là
phương tiện để trao đổi dữ liệu còn đối với thương mại điên tử thì mạng lưới thông
tin chính là thị trường. Là thị trường và đem lại nhiều lợi nhuận cho người bán.
1.2. CÁC HÌNH THỨC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.2.1 Thư điện tử
- Thư điện tử là một hình thức thư nhằm trao đổi thông tin nhưng được gửi
thông qua mạng truyền thông. Với tốc độ đường truyền như hiện nay thì việc
gửi và nhận tin chỉ trong vòng chưa đến một phút.Ngày nay bất kỳ ai cuãng có
thể có được một địa chỉ thư điện tử riêng cho mình và một tài khoản để giao
dịch . Do tiến bộ của khoa học kỹ thuật và yêu cầu thông tin nhanh chóng, chính

thiếu trong thương mại điện tử . Thanh toán điện tử được hiểu nom na là khách
hàng thanh toán bằng điện tử chứ không cần sự có mặt của con người. Khi
khách hàng mua hàng và thanh toán tiền qua thẻ tín dụng được coi là thanh toán
điện tử. Với cách thanh toán này việc mua bán sẽ diễn ra rất nhanh chóng.
Người mua dễ dàng có được món hàng mình muốn còn người bán nhanh chóng
có được tiền trong tài khoản của mình. Điều đó có nghĩa là khi khách hàng lựa 7
chọn hàng với giá đã ấn định , họ cung cấp số thẻ cho nhà cung ứng thì số tiền
tương ứng với giá sản phẩm sẽ tự động giảm đi trong thẻ thanh toán của khách
hàng và tăng lên trong tài khoản của người bán . Việc này không đòi hỏi người
mua và người bán gặp nhau để trao tiền mà họ chỉ cần chuyển tiền qua mạng
liên kết với các ngân hàng . Thanh toán điện tử là rất quan trọng đối với thương
mại điện tử vì nó đem lại sự tiện ích và ít khi phải dùng đến tiền mại trong giao
dịch. Nhưng thanh toán điện tử chỉ có thể diễn ra trong một điều kiện nhất định
tức là phải có một hệ thống cơ sở hạ tầng tốt, sự liên kết chặt chẽ giữa các ngân
hàng, hệ thống mạng được đảm bảo an toàn. Ở Việt Nam hiện nay thanh toán
điện tử vẫn chưa được phổ biến vì các nhà cung cấp mới chỉ chấp nhận các loại
thẻ quốc tế chứ không chấp nhận các thẻ như ATM . Điều đó dẫn đến khi thanh
toán ngân hàng thì cá nhân hay doanh nghiệp phải đến bưu điện hoặc ngân hàng
để chuyển tiền mà hai loại giao dịch này thì chi phí rất cao . Việc này cũng gây
rắc rối và bất tiện đối với những người mua lượng hàng ít và giá trị thấp . Thanh
toán điện tử là điều kiện cần để cho TMĐT có thể thông suốt và ngày càng phát
triển . Chỉ khi thanh toán điện tử được hoàn thiện thì TMĐT mới thực sự là cách
được người ta lựa chọn để trao đổi và mua bán. Mua bán rắc rối hơn thương mại
truyền thống thì không ai cần đến thương mại điện tử nữa vì vậy cần có những
biện pháp thích hợp để giúp cho thanh toán điện tử hoàn thiện .
1.2.3. Trao đổi dữ liệu điện tử (Electrolic data interchange – EDI )
Là việc trao đổi các dữ liệu dưới dạng “ có cấu trúc” từ máy tính điện tử

hoạt động chủ yếu của thương mại điện tử.Thương mại điện tử xảy ra giữa
người mua và người bán , có thể giữa người bán với người mua để bán hoặc có
thể giữa người sản xuất với người tiêu dùng cuối cùng. Thương mại điện tử giúp
rút ngắn khoảng cach giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng cuối cùng , các mối
quan hệ trong thương mại do đó cũng thay đổi theo. Đa số các giao dịch được
thực hiện theo ình thức trực tiếp từ người bán tới người mua thông qua phương
tiện điện tử. Giúp cho nhà sản xuất có thể hiểu người tiêu dùng hơn vì các thông
tin truyền đi rất nhanh chóng.Việc trao đổi , mua bán và cung cấp thông tinb
không chỉ dừng lại ở biên giới quôc gia nữa. Với thương mại điện tử thì không
còn biên giới trong việc trao đổi và mua bán hàng hóa. Nhờ thế người tiêu dùng 9
có thể nêu ra ý kiến của mình, phản hồi thông tin tới nhà sản xuất một cách
nhanh nhất để nhà sản xuất có thể điều chỉnh cho phù hợp. Nhờ đặc tính về khả
năng lan truyền thông qua mạng truyền thông của mình mà thương mại điện tử
đã làm thay đổi các mối quan hệ thương mại. Đưa đến sự đơn giản, tiện lợi cho
người mua va giúp ích rất nhiều cho người bán.
1.3.2. Nắm được thông tin phong phú
Việc nắm được thông tin phong phú là lợi ích của thương mại điện tử
mang đến cho cả người mua và người bán
-Đối với người mua thì họ không chỉ được tiếp xúc với một người bán duy
nhất mà với rất nhiều người bán. Họ có thể sử dụng những thông tin về giá cả,
chất lượng , mẫu mã , dịch vụ của doanh nghiệp này so sánh với doanh nghiệp
khác cùng cung ứng sản phẩm tương tự. Hoặc có thể so sánh sản phẩm giữa các
quốc gia với nhau. Ví dụ có thể so sánh gỗ của VIỆT NAM với đồ gỗ của THÁI
LAN Mạng truyền thông toàn cầu đã giúp người tiêu dung có thêm nhiều thông
tin vượt ra ngoài biên giới của quốc gia và có thêm sự lựa chọn. Mặt khác, người
tiêu dùng còn có thể biết thêm nhiều thông tin của nhà sản xuất về chất lượng,
uy tín, khả năng tài chính Những điều đó chỉ có thương mại điện tử mới đem

hàng ảo trên mạng thìn doang nghiệp không cần xây dựng thêm mạng lưới bán
hàng và giảm được chi phí bán hàng. Bên cạnh đó trước đây tiếp thị là phải lên
mặt báo, ti vi, mở những chương trình lớn thì nay với thưong mại điện tử với
cách sử dụng tốt điện tử vào thương mại sẽ giảm được chi phí tiếp thị. Với tiếp
thị thì làm sao cho nhiều người biết đến hàng của mình càng nhiều càng tốt, một
số lượng người dùng mạng đông đảo như hiện nay sẽ giup nhiều cho tiêp thị.
- Số tiền lập website và duy trì hoạt động của nó là không đáng kể so với
lợi ích mà nó mang lại. Nhưng cần phải có những ý tưởng hay để làm mới và
thu hút khách hàng. Lượng nhân công tham gia vào các quá trình bán hàng và
tiếp thị sẽ được giảm một cách đáng kể. Như thế sẽ giúp doanh nghiệp giam
được chi pphí bán hàng và tiếp thị bên cạnh đó sẽ có thêm tiền để đầu tư vào đổi
mới công nghệ làm mới sản phẩm.
1.3.5 Giảm chi phí giao dịch
Lợi ích này TMĐT đem lại cho cả người bán và người mua

11

- Đối với người mua : thay vì đến các cửa hàng để mua bán thì giờ đây họ
có thể ngồi nhà và giao dịch qua điện thoại, fax, email. Không tốn thời gian giao
dịch ,mặc cả , đi lại và các vấn đề liên quan. Không phải giao dịch qua người
thứ ba nên mọi thắc mắc được giải đáp một cách nhanh chóng và thỏa đáng
hơn.Trong thời gian diễn ra giao dịch họ có thể kiếm ra được nhiều tiền và thời
gian không bị lãng phí. Một mặt hàng mà thương mại điện tử là nhân tố quan
trọng không thể thiếu đó chính là chưng khoán.Nhờ hệ thống điện tử mà các sàn
có thể hoat động tốt.
- Đối với người bán : cũng không phải tốn đến các chi phí liên quan đến
giao dịch, không cần tiền thuê nhân viên bán hàng và nhân viên phục vụ khách
hàng trực tiếp. Một người có thể làm cùng một lúc được nhiều công việc như
chuyển hàng trong nội vi thành phố và nghe điện thoại của khách hàng gọi đến.
Với những giao dịch lớn sẽ đỡ tốn chi phín đi lại, chi phí ăn ở để tìm hiểu thị sát

về xu hướng tiêu dùng. Ví dụ: màu sắc của mùa hè năm nay là màu gì? kiểu dáng
như thế nào? Do internet có tính toàn cầu nên những thông tin không chỉ xuất
hiện ở một nơi mà ở trên toàn thế giới. Độ lan truyền của thông tin thì cực nhanh.
Với sự ra đời của youtobe và my space đã làm cho việc tự thể hiện mình và
những cách quảng cáo mới độc đáo ra đời. Doanh nghiệp nên sử dụng các phương
tiện để có thể tìm hiểu về thị trường vì chỉ khi hiểu được thị trường doanh nghiệp
mới có thể đứng vững và phát triển. Nhất là các thị trường nước ngoài nhờ
internet mà các doanh nghiệp có thể tìm hiểu dễ dàng và ít tốn kém hơn.
- Thông qua cộng đồng mạng để tuyên truyền thông tin về sản phẩm : cộng
đồng mạng là một cộng đồng ảo nhưng ảnh hưởng của nó là có thật và khá
mạnh. Doanh nghiệp có thể tạo các diễn đàn để quảng bá thông tin về sản phẩm.
Giới trẻ rất thích đồ độc nhưng cũng rất nhiều người thích theo mốt, theo xu
hướng. Cần có những hoạt động để kích thích tính ảnh hưởng của cộng đồng
mạng. Qua cộng đồng này thông tin lan truyền rất nhanh. Muốn thông qua cộng
đồng mạng thì thông tin và cách truyền đạt phải hơi dí dỏm, hài hước, vui nhộn
để thu hút giới trẻ. Ngoài thông tin từ các diễn đàn của doanh nghiệp thì giờ đây
lại có một kênh quảng cáo mới rất hiệu quả - đó chính là blog . Ví dụ: một thanh
niên ở Trung Quốc đã dùng blog để giới thiệu về thành phố Thượng Hải và

13

lượng khách du lịch đổ về đây tăng đáng kể. Nhưng để có được một blog hay
cũng rất khó. Phải đầu tư một cách kỹ càng chứ không thể làm rồi để đó. Một
bạn trẻ giờ đây có thể sở hữu một lúc nhiều blog. Ngay cả những tờ báo lớn uy
tín cũng dùng blog để thu hút sự quan tâm của độc giả. Tuyên truyền thông tin
qua kênh này giúp cho doanh nghiệp giảm thiểu được chi phí quảng cáo và tiếp
cận thị trường nhanh chóng, thuận tiện.
- Thu thập dữ liệu từ các khách hàng duyệt web: khi các khách hàng tìm
hiểu thông tin về sản phẩm họ vào web của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải có
một hệ thống các câu hỏi để thu thập dữ liệu từ khách hàng. Như thế sẽ giúp

phương thức nhưng đi cùng với thương mại điện tử thì phải có thanh toán điện
tử. Thanh toán điện tử là cách thanh toán nhanh chóng và hiệu quả. Cách thanh
toán thông thường là thanh toán qua các thẻ tín dụng, tài khoản ngân hàng và
thực hiện qua chuyển khoản. Việc thanh toán tùy thuộc rất nhiều vào khách
hàng. Nếu mua dễ mà thanh toán khó sẽ gây cho khách hàng cảm giác khó chịu
và dễ bỏ qua sản phẩm của doanh nghiệp.
Một cách thanh toán nữa là thanh toán theo kiểu truyền thống. Tức là mua
hàng qua thương mại điện tử nhưng phải đến bưu điện để chuyển tiền cho người
bán . Việc này chỉ được người mua cân nhắc khi loại sản phẩm hiếm, độc đáo và
ở nơi đó không có.Việc chuyển tiền qua bưu điện gây mất thời gian và không
đúng với tốc độ và tiện ích của thương mại điện tử.
Thanh toán là bước rất quan trọng với doanh nghiệp, khi được thanh toán
doanh nghiệp mới có thể quay vòng được vốn. Như vậy, chúng ta cần hoàn thiện
phương thức thanh toán để giúp cho thương mại điện tử hoàn thiện hơn và được
nhiều người sử dụng hơn.
1.4.4. Đáp ứng khách hàng
Việc đáp ứng khách hàng là việc của doanh nghiệp. Thông qua các đơn đặt
hàng qua website, email, điện thoại doanh nghiệp tiến hành quá trình đáp ứng
khách hàng. Dù là thương mại điện tử nhưng cách đáp ứng thì vẫn là cách đáp
ứng thông thường. Khi nhận được yêu cầu người bán sẽ cử người đi giao hàng
tận nhà cho khách hàng. Với việc giao hàng ra nước ngoài, theo thỏa thuận giữa
người mua và người bán giá cả sẽ được thống nhất và vận chuyển đến nơi được

15

yêu cầu. Khi đáp ứng được khách hàng về mặt sản phẩm doanh nghiệp phải tiếp
tục giải đáp thắc mắc cho khách hàng. Các kế hoạch về cung ứng, giao nhận
phải được hoàn tất và đáp ứng cho khách hàng một cách hoàn hảo. Các dịch vụ
sau bán và bảo hành để khách hàng tiếp tục tìm đến doanh nghiệp. Với việc đáp
ứng khách hàng ở ta là chưa thực sự tốt. Vận chuyển hàng hóa chậm và phí vận

công nghệ thông tin như hiện nay thì TMĐT cũng phải theo kịp để không bỏ phí
tiềm năng. Cơ hội của thời kì hội nhập là rất nhiều nhưng nếu chúng ta phải đối
mặt với nhiều thách thức.

17

CHƯƠNG II
ỨNG DỤNG TMĐT TRONG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ

2.1. THỰC TRẠNG
2.1.1. Thị trường hàng thủ công mỹ nghệ
 Thành tựu:
Những năm trở lại đây, hàng thủ công mỹ nghệ đựơc liệt vào danh sách 10
mặt hàng có mức tăng trưởng cao nhất. Năm 1998 hàng TCMN Việt Nam mới
chỉ có mặt ở 50 nước thì nay đã có mặt ở hơn 100 nước và vùng lãnh thổ. Kim
ngạch xuất khẩu năm 1991 là 6,8 triêu USD, năm 2000 là 235 triệu USD, năm
2004 là 450 triệu USD. Những tháng đầu năm 2007 là:
Giá trị trực thu từ mặt hàng này rất cao vì đa số hàng TCMN của nước ta
không phải nhập khẩu các nguyên liệu từ nước ngoài, sản xuất bởi chính các
nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước. Nguyên phụ liệu nhập ước tính chỉ khấu
hao từ 3-5% giá trị xuất khẩu. Vì vậy giá trị thường đạt từ 95-97%. Tại hầu hết
các thị trường lớn trên thế giới hàng TCMN của Việt Nam đã có chỗ đứng khá
vững.
Các sản phẩm truyền thống đang ngày càng mở rộng , một số lượng lớn
người tiêu dùng , khách hàng ở Bắc Mỹ , Châu Âu , Nhật Bản và một số nước
châu Phi đang hướng đến những sản phẩm mang tính dan tộc, tính nghệ thuật cổ
truyền dân gian, những sản phẩm thủ công truyền thống mang bản sắc quốc gia.
- Các thị trường xuất khẩu hàng TCMN chính của Việt Nam
+ Pháp là thị trường truyền thống và lớn nhất của Việt Nam, các hàng

- Số lượng những làng nghề khổng lồ ở nước ta.
Hầu như vùng nào cũng có vài ba vùng sản xuất đồ thủ công với truyền
thống từ lâu đời. Từ làng gốm Bát Tràng, Hương Canh, Phù Lãng đến làng tranh
Đông Hồ, làng lụa Hà Đông, nón làng Chuông, làng dệt chiếu ở Thanh Hóa. Các
mặt hàng từ dùng trong một gia đình thuần nông bình dân đến sử dụng trong
cung vua phủ chúa đều do các làng thủ công sản xuất lớn. Khối lượng làng nghề
lớn và mỗi nơi lại có một món hàng riêng biệt nên chúng ta không chỉ có thể

19

phát triển một loại hàng hóa mà là rất nhiều loại hàng hóa từ đồ gỗ mỹ nghệ,
mây tre đan, gốm sứ, lụa tơ tằm, hàng trang sức, đồ lưu niệm, đồ gốm. Kinh
nghiệm sản xuất đã cho ra những sản phẩm độc đáo, bắt mắt và cuốn hút. Từ
những chiếc rổ, rá bình thường được sử dụng hàng ngày trong sinh hoạt đời
thường đã được biến tấu, sáng tạo trở thành những vật sinh động làm vật trang
trí. Sự chạm trổ tỉ mỉ đã biến những khúc gỗ vô tri thành những con vật hay đơn
giãn chỉ là một bông hồng.
- Lượng nhân công dồi dào, những con người Việt Nam cần cù, chăm chỉ
và đầy tính sáng tạo
Trong một làng nghề truyền thống thì hầu như gia đình nào cũng tham gia
sản xuất, họ sản xuất vào những ngày nông nhàn. Yếu tố con người là yếu tố
then chốt quyết định thành công của mọi việc. Người Việt ta mang trong mình
truyền thống cần cù, chăm chỉ. Họ đã cho ra không biết bao nhiêu sản phẩm từ
bàn tay khéo léo. Đầu óc tinh tế, hài hước đã để lại dấu ấn trong những bức
tranh Đông Hồ như đám cưới chuột, cảnh Việt Nam hiện lên đầy lãng mạn và
đầy chất thơ trong trong những bức tranh thêu tay. Hay ai đến Huế mà không
mua một chiếc nón bài thơ để làm quà, người ta mua không phải để đội mà để kỉ
niệm, để nhớ về một cố đô như thế. Không phải là nhân tố gì khác ngoài con
người đã thổi hồn vào những vật vô tri biến thành những biểu tượng của từng
vùng, từng nơi du khách đặt chân đến. Tính sáng tạo trong lao động của những

Mỗi làng quê là một làng nghề, không có sự tập trung trong cùng một xã hay
cùng một huyện. Về cơ bản, hàng TCMN của ta đẹp nhưng đáng tiếc khi được
đặt hàng với một số lượng lớn và yêu cầu về mẫu mã thì chúng ta không thể đáp
ứng được. Như thế làm cho bạn hàng tìm đén các đối tác khác mạnh hơn về quy
mô, vốn, công nghệ. Đồng thời chúng ta cũng chưa tạo được sự tin cậy của bạn
hàng trong những đơn đặt hàng như về thời gian giao hàng, chất lượng sản phẩm
không đồng bộ. Điều đó đã đưa chúng ta vào thế bất lợi trong cạnh tranh nhất là
cạnh tranh với hàng của Trung Quốc.Vì vậy chúng ta cần phải có quy hoạch cụ
thể phát triển hàng TCMN cho từng ngành, từng vùng. Tập trung vào chuyên
môn hóa sản xuất để tạo ra lợi thế về quy mô. Bên cạnh đó phải đầu tư về công
nghệ, cải tiến kỹ thuật để giảm bớt hàm lượng lao động trong sản phẩm. Sự nhỏ

21

lẻ, manh mún và thiếu tập trung là vấn đề chung của tất cả các loại hàng TCMN
ví dụ như gốm, không chỉ gốm Bát Tràng mà còn có gốm Phù Lãng, Hương
Canh.
- Giá cả khá cao so với khu vực. Xét về các lợi thế thì các nước như :
Malaisya, Philippin có khả năng rấy cao trong cạnh tranh về mẫu mã , chất
lượng và dịch vụ. Về giá thì Trung Quốc đưa ra mức giá cạnh tranh nhất, theo
sau là Việt Nam nhưng chúng ta khó cạnh tranh về giá được với trung Quốc.
Chúng ta có nguồn nhân công rẻ nhưng giá sản phẩm vẫn cao hơn đối thủ cạnh
tranh của mình. Đó là do các doanh nghiệp sản xuất hàng TCMN hầu hết là
nghề truyền thống, quy mô nhỏ nên ít quan tâm tới công tác tổ chức lao động từ
đó không tiết kiệm được chi phí.Việc phân công lao động hợp lý sẽ đỡ tốn thời
gian cho lao động hơn, một công việc, một sản phẩm có thể được hoàn thành
trong một thời gian ít hơn rất nhiều vì thế sẽ tăng năng suất lao động và giảm
thiểu được nhiều chi phí. Hàng TCMN được sản xuất chủ yếu là từ làng nghề
truyền thống nên không thể sản xuất đại trà một khối lượng lớn vì không đủ khả
năng, họ chỉ quen sản xuất ít một phục vụ tiêu dùng của nhân dân quanh

trường nhất là thị trường giành riêng cho cho tạo mẫu và thiết kế. Sự chưa hiểu
biết về các thị trường cũng như cách thức để giới thiệu sản phẩm ở mỗi thị
trường chưa có sự tương thích. Mỗi con người là một cá thể tồn tại độc lập, có
cá tính và sở thích khác nhau trong khi chúng ta lại quy vào một, chúng ta có
thói quen sản xuất và xuất khẩu một mặt hàng cho tất cả các thị trường hiện có.
Trong khi người phương tây rất chuộng nhưngc sản phẩm mới mang tính thời
trang, tính xu hướng trong khi chúng ta lại sản xuất và xuất đi những thứ mình
sẵn có chứ không phải thứ thị trường cần. Làm như thế, dần dần chúng ta sẽ mất
đi cả những thị trường trọng điểm và khó có khả năng mở rộng thị trường hơn
nữa. Nhật Bản thích phong cách chế tác gỗ của Việt Nam với những đường nét
đơn giãn pha giữa cổ điển và hiện đại, bên cạnh đó mây tre đan và gốm sứ cũng
rất được ưa thích nhưng do ít thay đổi về mẫu mã nên sức hấp dẫn của hàng
TCMN Việt Nam vào Nhật bị giảm đi nhiều.Thị trường Mỹ có một số đặc điểm
nổi bật là yếu tố thời trang thay đổi rất nhanh. Để có thể thích ứng được chúng ta
phải liên tục đổi mẫu mã mới hàng TCMN. Các thị trường châu Phi và Tây Nam

Trích đoạn Thực trạng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status